Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

6. Giải Thoát Tự Nhiên Của Sự Quan Tâm Về Chuyển Di: Các Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm Về Tiến Trình Chuyển Tiếp Của Cận Tử

08/01/201102:49(Xem: 1100)
6. Giải Thoát Tự Nhiên Của Sự Quan Tâm Về Chuyển Di: Các Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm Về Tiến Trình Chuyển Tiếp Của Cận Tử

PADMASAMBHAVA

GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN
Giáo lý của Đức Padmasambhava về Sáu Bardo
Luận Giảng: Ngài Gyatrul Rinpoche - Phiên dịch: B. Alan Wallace
Dịch Việt: Tuệ Pháp - Nhà Xuất bản Trí tuệ, Boston
none
none
PHẦN HAI

GIÁO PHÁP UYÊN THÂM CỦA
GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN QUA SỰ THIỀN ĐỊNH HIỀN MINH VÀ PHẪN NỘ:
GIAI ĐOẠN HOÀN THIỆN
CÁC HƯỚNG DẪN VỀ SÁU BARDO


6

Giải Thoát Tự Nhiên Của Sự Quan Tâm Về Chuyển Di:
Các Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm Về

Tiến Trình Chuyển Tiếp Của Cận Tử

Trong chủ đề phổ biến thứ tư, tiến trình chuyển tiếp của cận tử (các hướng dẫn thiết thực giống như việc gửi đi mệnh lệnh đã đóng dấu của nhà vua), sự giải thoát tự nhiên của quan tâm về chuyển di đã được dạy. Đó là hướng dẫn thiết thực để trở thành một vị Phật vào lúc chết cho người nào sẽ chết có tâm thức bình thường, cho người không rèn luyện trong chu trình trước đó của Xuyên Thấu, hay trong thân huyễn, giấc mộng và thanh tịnh quang, người chưa nhận ra bốn loại đại giải thoát và nhất là những người đã nhận được hướng dẫn này nhưng không có thời gian để thiền định. Có những nhân viên nhà nước, chủ nhà và người rối trí đã nhận được hướng dẫn thiết thực uyên thâm nhưng không áp dụng vào thực hành, đã bỏ rơi các hướng dẫn này trên giấy và chỉ nghe Giáo Pháp. Sự giải thoát tự nhiên của quan tâm về chuyển di này là một phương pháp quan trọng, hùng mạnh để thành Phật không cần thiền định.

Chúng ta không cần tìm kiếm “chủ nhà” và “người sao lãng” ở đâu khác. Giáo lý này là của chúng ta. Chúng ta sao lãng vì kẹt trong tám mối quan tâm thế gian và chỉ hiểu biết một cách khái niệm về Giáo Pháp. Chúng ta bỏ rơi giáo lý trên giấy hay băng ghi âm và sau đó quên đi. Ở Tây Tạng, một cách truyền thống giáo lý chắc chắn không được ghi chép và nhìn chung người ta cũng không ghi chú. Việc ghi chép giáo lý để thuận tiện cho thực hành của mình là tốt; nhưng nếu không biết cách áp dụng giáo lý vào thực hành, thì các ghi chép như vậy chỉ trở thành kho trữ. Do vậy, giáo lý về sự quan tâm đến chuyển di này là rất quan trọng.

Mỗi người sinh ra đều chắc chắn sẽ chết, và không một ai nói được khi nào cái chết sẽ xảy đến, nhưng vì nó sẽ sớm xảy ra, nên mọi lúc hãy lắng nghe và chú tâm đến cái chết.

Ngay khi sinh ra, bạn đã bị cái chết ghi dấu. Chẳng còn nghi ngờ gì về cái chết. Có cái gì hoàn toàn chắc chắn khi nào cái chết sẽ xảy ra không? Sự thực là chúng ta chắc chắn sẽ chết và hoàn toàn chắc chắn là chúng ta không biết khi nào sẽ chết. Nhìn chung, chúng ta sống như thể có hàng ngàn năm để đi, như thể cái chết là một viễn cảnh rất và rất xa xôi. Trong lúc đó thậm chí chúng ta có thể tự tin rằng nếu thực sự chết chúng ta sẽ được sinh vào một cõi tịnh độ hoặc cái chết sẽ là điều gì đó hoàn toàn ngẫu nhiên giống như việc đi đến một cánh cửa kế tiếp hay giống như đi từ California đến Oregon. Nhưng nó không giống như vậy.

Hãy khảo sát các dấu hiệu xa về cái chết, dấu hiệu gần của cái chết, dấu hiệu không chắc chắn và dấu hiệu chắc chắn của cái chết phù hợp với sự giải thoát tự nhiên của các dấu hiệu: những dấu hiệu của cái chết.

Về mặt “các dấu hiệu của cái chết” – xa, gần, v.v... – chúng ta thực sự không cần một thầy bói hay một người đặc biệt nào biết rõ về nhiều dấu hiệu khác nhau của cái chết. Chẳng cần thiết phải như vậy. Chúng ta có thể chỉ nhìn vào chính tiến trình của tuổi tác. Nếu chú ý đến tiến trình của tuổi tác thì đó là một dấu hiệu của cái chết. Khi chúng ta già, chúng ta phải biết rằng cái chết sắp xảy đến; đây là dấu hiệu gần của cái chết. Bệnh tật là một dấu hiệu của cái chết. Đặc biệt, khi chúng ta già, chúng ta có thể biết rằng một chân của mình đã bước qua ngưỡng cửa của cái chết. Chúng ta không cần sự chuyên nghiệp, tất cả điều chúng ta cần là sự chân thật.

Nghiêm chỉnh áp dụng phương tiện lừa gạt cái chết phù hợp với các dấu hiệu của cái chết. Nếu bạn thực hiện sự chuyển di khi các dấu hiệu của cái chết chưa hoàn tất hay không áp dụng phương tiện đánh lừa cái chết, điều này gây ra hành động sai lầm của việc giết một Bổn Tôn, và bạn không để ý đến sự bất thiện của việc phạm tội tự tử. Vì điều này thậm chí là việc làm còn xấu hơn quả báo lập tức, bằng mọi phương tiện thực hiện thông thường hay đặc biệt của phương tiện lừa gạt cái chết ba lần hay nhiều hơn phù hợp với Sự Giải Thoát Tự Nhiên Của Sợ Hãi: Lừa Gạt Cái Chết. Nếu phương tiện của lừa gạt cái chết được thực hiện ba lần mà dấu hiệu của cái chết không thay đổi thì cái chết là chắc chắn, do vậy hãy bắt đầu chuẩn bị cho sự chuyển di.

“Lừa gạt cái chết” có nghĩa làm điều gì đó ngăn cản sự nguy hiểm của cái chết sắp xảy ra, nên nó có nghĩa là cứu một mạng sống. Hãy áp dụng các biện pháp lừa gạt cái chết khi bạn thấy các dấu hiệu gần hoăïc xa của cái chết. Cách bạn lừa gạt cái chết là nhờ tham gia vào thực hành Giáo Pháp để tăng tuổi thọ bạn. Các thực hành như vậy bao gồm việc phóng sanh cá hay loài vật khác sắp bị giết và đó cũng là các thực hành Giáo Pháp khác được thực hiện để trường thọ.

Có nói rằng thậm chí nếu bạn là một người đã vi phạm năm hành động quả báo lập tức (ngũ vô gián tội), với sự chuyển di vào lúc thích hợp bạn sẽ tái sanh trong trạng thái của cuộc sống thuận lợi hoặc được giải thoát, nên lợi ích của nó rất to lớn. Về sự chuyển di có hai phần: rèn luyện và áp dụng.
Nếu bạn thực hành trung thực giáo lý về chuyển di này cùng với bốn năng lực cứu chữa và sự thực hành tịnh hóa Vajrasattva, thì ngay cả nếu bạn đã vi phạm những tội ác khủng khiếp đều có thể được tịnh hóa và bạn sẽ được tái sanh thuận lợi hoặc đạt được giải thoát.

RÈN LUYỆN

Như phép loại suy, một người đàn ông nghi ngờ kẻ thù bên ngoài của ông ta nên mặc áo giáp, chuẩn bị cung tên và luyện tập trước khi kẻ thù hiện diện để bất cứ khi nào kẻ thù xuất hiện, ông ta sẵn sàng chiến đấu. Tương tự, vì không biết khi nào bạn sẽ chết nên hãy rèn luyện ngay bây giờ, vào lúc bạn chết nó là điều quyết định để bạn sẵn sàng áp dụng hướng dẫn này vào hành động.

Sự thực hành chuyển di có thể làm vào lúc được dạy hoặc bạn có thể tham gia khi được hướng dẫn đặc biệt về chuyển di. Vì trong hướng dẫn lúc khởi đầu là suy niệm về sự khó được cuộc sống làm người với nhàn rỗi, thuận lợi và sự đau khổ của chu trình sinh tử. Nhờ làm như vậy sẽ không còn ảo tưởng với sinh tử và phát sinh quan điểm mong ước thoát khỏi nó. Trên nền tảng đó hãy nghiêm chỉnh nhớ lại rằng dù bạn đã có được điều gì đó khó có, nó sẽ chẳng tồn tại lâu vì bạn sẽ chết.

Sau đó ngồi xếp bằng theo tư thế bodhisattva trên một đệm thoải mái và khóa lỗ mở luân hồi. Thân bạn thẳng đứng che hai đầu gối bằng hai bàn tay trong ấn xúc địa và duỗi hai vai. Kế tiếp quán tưởng chữ HUM màu xanh dương đậm tỏa sáng tại ngực bạn và một bản sao của chữ HUM đi xuống ống hậu môn và đóng hoàn toàn lỗ mở của địa ngục. Một bản sao khác xuất hiện và đi đến lỗ mở của sự trở thành,47 nó đóng lại lỗ mở của ngạ quỷ. Tương tự, quán tưởng một chữ HUM đóng lại lỗ mở súc sinh trong ống tiểu và các chữ HUM tỏa sáng tại rốn, miệng, hai lỗ mũi, sau đó hai mắt và hai lỗ tai, mỗi lỗ hoàn toàn được đóng kín. Hãy quán tưởng chữ HAM màu trắng lộn ngược tại lộ mở Brhama trên đỉnh đầu bạn và đóng nó lại.

Chính giữa thân bạn hãy quán tưởng kinh mạch trung ương thẳng đứng giống như ruột của con cừu thịt bơm căng, với đầu dưới của kinh xuống tới dưới rốn và đầu trên lên tới lỗ mở Brhama (lỗ mở Phạm Thiên – giữa đỉnh đầu tương ứng với huyệt Bách Hội). Kinh mạch có màu trắng óng ánh vàng, nó đi thẳng qua giữa thân. Tại chỗ cuối ở dưới rốn nơi ba kinh mạch hội tụ là một bindu màu trắng rực rỡ của bản tánh sự nhận biết. Nó trong suốt và rõ ràng, nhịp đập cùng với hơi thởâ và rung rinh như thể vừa mới đứng dậy. Trong không gian trên đỉnh đầu bạn, hãy quán tưởng vị thầy tâm linh của bạn đang hiện diện với vẻ mặt mỉm cười của Phật Vajradhara. Kéo năng lực thân thể của bạn lên trên và tập trung nó, đóng kín hậu môn một cách mạnh mẽ, trợn mắt nhìn lên trên, ép lưỡi lên vòm họng và kết ấn kim cang quyền (ngón tay cái đặt dưới gốc ngón tay đeo nhẫn rồi nắm chặt bốn ngón tay lại). Trong lúc kéo mạnh năng lực bên trong của bạn từ dưới rốn lên trên, miệng nói “HIG KA, HIG KA”. Tùy theo năng lượng sự sống ở dưới, bindu được kéo lên một cách tự động qua kinh mạch trung ương. Do vậy, với bảy HIG KA nó được kéo lên rốn, sau đó với bảy HIG KA lên đến ngực, rồi bảy lần nũa tới cổ họng, kế tiếp bảy lần nữa đến điểm giữa hai chân mày, rồi với bảy HIG KA nó lên tới chữ HAM tại lỗ mở Brhama. Hãy quán tưởng bindu đi xuống trở lại, lướt nhẹ nhàng xuống dưới rốn, tại đó nó được nghỉ. Hãy buông lỏng một chút với cảm giác đó.

Dấu hiệu thành công trong chuyển di nhờ làm bảy lần như vậy bao gồm sự kiện một chất nhờn ấm chảy ra tại lỗ mở Brahma, có cảm giác châm chích, ngứa ngáy, tê cóng, sưng phồng và mềm đi trên đỉnh đầu và sự tiết huyết tương và máu tại lỗ mở Brahma. Vào lúc đó, vị thầy tâm linh nên cẩn thận kiểm tra lỗ mở Brahma. Khi chọc với một lông công hay cọng cỏ nó sẽ ngập hoàn toàn, điều này chứng tỏ bạn đã rèn luyện trong chuyển di. Tuy nhiên, nếu không ngưng ở đó mà tiếp tục thực hành sẽ làm giảm tuổi thọ của bạn; vậy hãy ngừng sự quán tưởng và adhisara. Xoa bóp đỉnh đầu của bạn với bơ hay dầu ngũ cốc.

Nếu không xảy ra dấu hiệu theo cách đó, nếu bạn cố gắng kéo mạnh bindu nhiều lần, dấu hiệu sẽ xảy ra. Nếu nó không đến lỗ mở Brahma ngay cả dù đỉnh đầu bạn đã phồng lên, nhức đầu v.v... Vì thế, hãy quán tưởng chữ HAM tại lỗ mở Brahma và bindu xuất ra từ lỗ mở Brahma không bị cản trở và chạm vào chân vị thầy tâm linh của bạn. Sau đó quán tưởng nó quay trở lại xuống lỗ mở Brahma rồi đi xuống nghỉ ở dưới rốn. Do làm như vậy bảy lần lỗ mở Brahma sẽ mở ra. Máu hay bạch huyết sẽ chắc chắn tiết ra và một cọng cỏ có thể nhét vào lỗ mở. Kế tiếp nếu lỗ mở Brahma không được đóng lại với chữ HAM thì bạn sẽ bị giảm thọ, nên việc đóng nó lại là điều quan trọng. Từ giờ trở đi điều quan trọng là bạn không niệm HIG KA hay thực hiện adhisara, mà chỉ thực hành di chuyển bindu qua kinh mạch trung ương và đóng lỗ mở Brahma với chữ HAM. Đó là sự rèn luyện trong chuyển di.

Vì HIG KA là mantra để kết thúc cuộc sống,49[49] hãy kéo bindu lên cho đến khi bạn thành công trong chuyển di, nhưng sau khi thành công đừng kéo nó lên với HIG KA. Nếu nỗ lực mạnh mẽ thực hiện chuyển di quá nhiều bạn sẽ luôn gần như bị hôn mê, ý thức sẽ bị ép lên trên và bạn sẽ bị chóng mặt v.v... Nếu xảy ra điều đó hãy đấm mạnh vào lòng hai bàn chân bằng nắm tay của bạn, xoa bóp trên đỉnh đầu và quán tưởng mạnh mẽ một stupa (bảo tháp) bằng vàng, nặng trên mỗi bàn chân bạn. Nhờ làm vậy nhiều lần các triệu chứng này sẽ an định. Phần lớn điểm then chốt là sự quán sát trong thực hành.

Sự bàn luận trước đây liên quan đến “rèn luyện về chuyển di” được thực hành tốt nhất khi bạn không bị bệnh và trước khi các dấu hiệu của cái chết xảy ra. Samaya.

Ở Tây Tạng khi người ta cảm thấy họ chẳng mấy chốc sẽ chết thì việc cho đi mọi thứ của họ là điều rất phổ biến. Những người giàu có bắt đầu phân phát tất cả tài sản của họ cho người khác và thậm chí những người nghèo cũng cúng dường mọi thứ lên Tam Bảo. Bất kể đất đai, nhà cửa, gia súc và các sở hữu khác mà họ có sẽ được dâng cúng cho tặng trong những tháng và tuần lễ cuối cùng trước khi họ chết. Ngay cả các tu sĩ thường có chỗ ở trong tu viện họ cũng sẽ cho đi trước khi chết. Nếu họ sắp chết, của cải sẽ chẳng làm được điều tốt nào.

Khi người Tây Tạng đến Ấn Độ như dân tị nạn phần lớn đều kiệt sức nghèo khó. Nhiều tu viện tị nạn tạm thời được đặt ở Buxa phía đông Ấn Độ, khi họ thấy cái chết sắp xảy ra, họ muốn cho đi một ít gì họ có để làm một cúng dường trà quan trọng cho các vị tu sĩ khác. Mục đích của điều này là chiến thắng mọi bám luyến vào của cải vật chất. Các vị tu sĩ sắp chết thường không cho họ hàng mà thường cho các tu sĩ khác, Tam Bảo, vị thầy tâm linh của họ v.v... Cho đi mọi thứ làm giảm bám luyến của hành giả, làm dễ giải thoát khỏi sinh tử.

Đây là lợi ích hiển nhiên của hành động thiện về bố thí trước khi bạn chết. Tuy vậy, nếu chưa làm được thì sau khi bạn chết người khác có thể thực hiện công đức nhân danh bạn, nhưng rất khó có lợi ích thật sự. Lý do là dòng tâm thức của người chết đang lang thang đây đó trong samsara và dòng tâm thức của người đang thực hành sùng kính có thể bị sao lãng. Kết quả là có hai người lang thang và người này làm lợi ích cho người kia là khó có. Ngoài ra ý thức của người đã chết đang lang thang đây đó cũng có khả năng thấu suốt. Họ có thể thấy tâm của người đang tụng niệm nghi lễ cho lợi ích của người chết. Nếu ý thức của họ thấy người đang tụng niệm sùng kính mà tâm họ lại đi rông khắp nơi thì họ có thể phản ứng một cách tiêu cực. Người đã chết có thể mất lòng tin và kết quả là họ có thể đi xuống cõi thấp.

Chỉ có lợi ích trong việc thực hiện công đức trước khi bạn chết. Chẳng có bất cứ thiệt thòi nào và nó chỉ giúp ích bạn. Có thể có một vị lama rất vĩ đại làm lợi ích cho một người đã chết nhưng vẫn khó khăn. Hãy nhìn vào chính bạn và khảo sát điều này dựa trên kinh nghiệm. Bạn có lợi ích từ vị thầy tâm linh của mình trong lúc đang nằm mộng hay không? Nếu không, thì sẽ hoàn toàn khó khăn sau khi bạn chết và trong tiến trình chuyển tiếp. Vậy việc cống hiến nghiêm chỉnh chính bạn trong đạo đức là điều tốt nhất là công đức bố thí ngay trước khi bạn chết. Nếu bạn có thể làm điều đó thì thật tuyệt vời.

SỰ ÁP DỤNG

Trước tiên, động cơ là rất quan trọng, hãy trau dồi động cơ Mahayana, Tâm Linh của Tỉnh Thức. Đừng nghĩ giáo lý về chuyển di tâm thức là việc gì đó mà bỏ qua. Trái lại, thực hành này có thể hoạt động như một nguyên nhân cho trạng thái toàn giác cho chính bạn và người khác.

Nếu các dấu hiệu của cái chết đã đầy đủ và chúng không biến mất ngay cả khi đã thực hiện phương tiện lừa gạt cái chết được ba lần, vào lúc đó tâm thức được chuyển di. Điều này có bốn phần: sự chuyển di của Dharmakaya, Sambhogakaya, Nirmanakaya và sự chuyển di thông thường.

Điều này đòi hỏi phải xem xét các dấu hiệu của lúc gần chết, và nếu bạn tham gia trong thực hành kéo dài sinh mạng mà vẫn không hoạt động ngay cả sau khi đã cố làm ba lần, thì bạn sắp chết. Bây giờ là lúc áp dụng giáo lý này vào hành động. Trong truyền thống Tây Tạng không có hệ thống hỗ trợ cuộc sống và không có các thủ tục bệnh viện đặc biệt nào để duy trì cuộc sống của người sắp chết. Khi người ta thấy gần chết họ sẽ áp dụng thực hành này.

Sự Chuyển Di Dharmakaya

Than ôi, giờ đây khi tiến trình chuyển tiếp của cận tử sắp xảy đến với tôi, tôi phải bỏ lại bám luyến, tham dục, và bám chấp mọi thứ và tôi phải dấn thân không dao động vào kinh nghiệm rõ ràng của các hướng dẫn thiết thực. Giác tánh bẩm sinh chính tôi sẽ được chuyển di lên phạm vi của không gian.

Cho đến nay, thậm chí chúng ta chưa thực hiện được tính tư lợi của chính mình huống chi quan tâm đến người khác, vì rơi vào bám luyến, thèm khát và bám chấp mọi kiểu sự vật. Chúng ta có thể đã tiếp nhận các hướng dẫn cốt tủy của Giáo Pháp nhưng lại thực hiện quá nhẹ nhàng. Mặc dù chúng ta có thể đã thọ quy y nhưng việc thọ quy y có thể không thực sự hay không có ý nghĩa với chúng ta. Bên lề cái chết nó là điều bắt buộc để từ bỏ các bám luyến của chúng ta và đi vào kinh nghiệm rõ ràng của các hướng dẫn thiết thực về chuyển di.

Mắc bệnh tật chết người hoặc thấy các dấu hiệu đầy đủ của cái chết là biểu hiện của tiến trình chuyển tiếp của cận tử. Các hướng dẫn thiết thực về tiến trình chuyển tiếp lúc cận tử giống như một thiếu nữ đáng yêu nhìn vào gương để thấy những gì không rõ ràng trở nên rõ ràng. Ở đây có hai phần: có người khác gây ra sự quán tưởng và chính bạn tạo ra sự quán tưởng.

Nếu bạn biết hệ thống xa lộ trong một vùng nào đó và đột nhiên kẻ thù bạn lộ diện, bạn sẽ biết cách đào thoát ra sao. Tương tự, những gì không rõ ràng ở đây trở nên rõ ràng qua giáo lý này. Tốt nhất là bạn có thể tự tạo quán tưởng cho thực hành chính mình, còn nếu không thể thì có thể nhờ người khác giúp đỡ tạo quán tưởng.

Có người khác tạo quán tưởng. Chính bản thân bạn có thể biết các dấu hiệu đầy đủ của cái chết, hoặc ngay cả nếu không thể biết thì thầy thuốc và điều dưỡng có thể biết điều này tùy theo triệu chứng của bạn. Nếu sự chú tâm của bạn rõ ràng, bạn cũng có thể khảo sát các dấu hiệu cận kề của cái chết; và nếu bạn sắp chết và nếu vị thầy tâm linh của bạn sống gần đó hãy mời Ngài đến cùng tham gia với bạn.

Ở Tây Tạng, các lama đôi lúc trực giác được một người sẽ chết trong khoảng thời gian nào đó. Với kiến thức đó người ta có thể chuẩn bị phù hợp. Ở Tây Tạng việc mời vị thầy tâm linh của người đó đến trợ giúp qua sự chuyển di lúc cận tử cũng phổ biến.

Cho đi bất cứ những gì bạn có đến vị thầy tâm linh đầu tiên của bạn, thậm chí không có một khoảnh khắc bám luyến nào. Nếu bám luyến dù một vật nhỏ nhất sẽ ném bạn vào trạng thái khốn cùng của sinh tử, như đã trình bày trong Chuyện Kể Về Ba Tai Họa Lớn Của Tu Sĩ. Ngay cả nếu không có quyền cho trong thực tế, hãy giải thoát một cách tâm thức bằng sự cúng dường trong tâm bạn. Đặc biệt đừng để vật gì ở gần làm khởi lên bám luyến hay thù hận. Đó là ý nghĩa của nhóm từ “Tôi phải rũ bỏ bám luyến, thèm khát và bám chấp bất cứ thứ gì của chính tôi.” Vào lúc đó hãy phát sinh sự từ bỏ sạch sẽ như đã trình bày trong Tantra Của Sự Hợp Nhất Mặt Trời Và Mặt Trăng, “Với hoan hỷ và cho tặng, làm vui lòng vị thầy tâm linh của bạn, tăng đoàn và các đối tượng đặc biệt để tích lũy công đức.”50[50]

Điểm trọng yếu ở đây là thậm chí không có một khoảnh khắc bám luyến nào vì bám luyến và chấp bám là các nguyên tố ban đầu làm kéo dài mãi mãi những gì đang xảy ra của chúng ta trong samsara. Không chỉ tự thân sự bám luyến làm bất lợi vào lúc chết, mà nếu có bám luyến thì bạn cũng đã châm mồi cho thù hận. Chẳng hạn, khi bạn gần chết nếu thấy người mà bạn ghét lấy của cải của bạn, bạn có thể thấy rất tức giận và thất vọng vì bạn chẳng thể làm được gì, và điều đó dẫn đến thù hận. Chết đi với trạng thái tâm thức thù hận là rất có hại, nên điều quan trọng là phải thoát khỏi bám luyến và thù hận. Tối thiểu vào lúc chết hãy buông xả, thậm chí nếu bạn không thể hoàn toàn trừ tiệt bám luyến trước đó. Ít nhất hãy tạm thời thoát khỏi nó trong tiến trình cận tử. Nếu bạn có thể hoàn toàn trừ tiệt bám luyến thi thật tuyệt với vì nó sẽ dẫn đến sự giải thoát chính bạn.

Ví dụ nếu bạn bị tai nạn xe cộ và thấy mình bị chấn thương nghiêm trọng, bạn không thể viết di chúc mới hay tài sản của bạn với hơi thở sắp chết của mình. Những gì có thể làm là hãy cho đi trong tâm thức mọi thứ bạn có, bao gồm không chỉ của cải vật chất mà còn họ hàng và mọi người chung quanh bạn. Hãy buông bỏ bám luyến mọi thứ. Một cái chết đột ngột như vậy cũng có thể xảy ra nếu bạn ở trong lực lượng vũ trang và bị giết trong chiến đấu. Nếu bạn chết ở nước ngoài, việc cho đi mọi tài sản của bạn trong thực tại là không thực tế. Tuy vậy bạn có thể cho đi trong tâm thức và đó là những gì nên làm.

Khi bạn sắp chết điều quan trọng là đừng để bất cứ thứ gì trong tầm mắt làm gợi lên sự bám luyến. Chẳng hạn đừng để người mà bạn bám luyến nhiều ở gần quanh khi bạn chết. Nếu có người mà bạn không thích hoặc oán giận v.v... thì vào lúc đó họ nên tránh xa. Bạn bè hay người khác mà bạn ít thương hay ghét nên giúp bạn. Nếu thấy thứ gì mà bạn nhiều bám luyến họ có thể dời thứ đó đi để tạo môi trường thực sự trung hòa không kích động sự bám luyến hay thù ghét cho bạn. Trong thực tế việc ở cùng với những đồ vật này mà bạn thiếu tự chủ là điều không tốt, nên đây là một phương pháp bảo vệ bạn.

Kế tiếp, một khi vị thầy tâm linh của bạn đã đến nếu trước đó giới nguyện của bạn bị sứt mẻ hãy sám hối và sửa chữa lại bất cứ vi phạm nào, nếu bạn chưa có hứa nguyện hãy xây dựng một nền tảng bằng cách thọ quy y và nhận hứa nguyện.

Nếu vi phạm bất cứ hứa nguyện tantric nào liên quan đến vị thầy tâm linh của bạn hoặc bất kỳ người nào khác, thì bây giờ là lúc để sám hối và sửa chữa. Ngoài ra nếu bạn đã nhận bất kỳ giới luật hoặc hứa nguyện nào khác như giới luật tu viện của người mới xuất gia (sa di giới), cụ túc giới (tỳ kheo giới), bồ tát giới hay giới luật và hứa nguyện tantric, bạn nên sám hối bất kỳ sự vi phạm nào và sửa chữa chúng.

Kế tiếp, nếu trước đó bạn đã rèn luyện chuyển di, thân bạn trong tư thế thiền định và có vị thầy tâm linh dẫn dắt bạn trong quán tưởng chuyển di trước đó nhiều lần. Biểu hiệu của sự thành công là ngay khi bạn ngừng thở, đỉnh đầu sưng phồng lên hoặc chắc chắn sẽ có biểu hiện thành công như máu hay bạch huyết.

Các biểu hiện thành công chuyển di bao gồm không chỉ đỉnh đầu phồng lên mà còn một cảm giác châm chích trên đỉnh đầu và tóc trên đỉnh đầu có thể nhổ ra dễ dàng không cần dùng sức hoặc tóc có thể rụng. Nếu có những dấu hiệu này bạn chẳng cần làm gì hơn, vì sự chuyển di đã thành công.

Nếu các biểu hiện này xảy ra, không cần thực hiện sự quán tưởng về chuyển di, còn nếu không có, vị thầy tâm linh nên để môi ngài sát lỗ tai bạn hoặc dùng một khúc tre hay một tờ giấy cuộn lại đặt vào lỗ tai bạn. Sau đó Ngài sẽ dẫn dắt bạn trong việc quán tưởng phù hợp với Sự Giải Thoát Qua Việc Nghe Trong Tiến Trình Chuyển Tiếp, bằng việc đọc chậm rãi vào tai bạn với những lời khởi đầu của tiến trình chuyển tiếp của thanh tịnh quang của tự thân thực tại lần lượt qua tiến trình chuyển tiếp. Nhờ làm như vậy chắc chắn sẽ thành công.

Vị thầy tâm linh có thể sử dụng bất cứ thứ gì như một mảnh giấy cuộn tròn lại hay một ống dẫn để truyền tiếng nói vào tai người sắp chết. Vào lúc này việc đọc Sự Giải Thoát Qua Việc Nghe Trong Tiến Trình Chuyển Tiếp là phổ biến, cũng được biết là Tạng Thư Sống Chết. Điều rất quan trọng là người đọc phải nói thật chậm rãi và rõ ràng để người sắp chết có thể nghe được. Nếu bạn nói quá nhanh có thể gây nhầm lẫn và khích động cho người sắp chết. Trong thực tế, một vật gì đó như ống dẫn có thể không cần thiết khi người sắp chết có thể nghe được rõ ràng giọng nói của bạn. Trái lại, bạn có thể nói lớn hơn bình thường để người sắp chết có thể nghe được giọng nói của bạn rõ ràng.

Như một phép loại suy, nếu vị vua gửi thông điệp cho người đáng tin cậy, việc người đó quên là không thể có; mà nếu người đó quên thì sự trừng phạt của nhà vua sẽ theo sau. Do vậy, vì sợ hãi ông ta bảo đảm thông điệp phải được nhận. Tương tự, trong trường hợp này vì sợ trạng thái khốn khổ trong sinh tử hãy nhớ chắc trong tâm các hướng dẫn thiết thực và bạn sẽ chắc chắn phát hiện tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại.
Nếu vị thầy tâm linh của bạn không hiện diện, hãy để người bạn tâm linh có cùng dòng truyền hướng dẫn bạn trong quán tưởng, hoặc một trong các huynh đệ vajra mà giới nguyện của họ vững chắc và những người mà kiến và hạnh tương hợp với bạn.

Thuật ngữ “người bạn tâm linh” đồng nghĩa với “lama” hoặc “vị thầy tâm linh”. Thậm chí nếu vị thầy tâm linh của bạn không hiện diện và nếu có người khác cùng dòng truyền thì bạn có thể mời người đó giúp trong tiến trình chuyển tiếp này. Bạn cũng có thể gọi Pháp hữu, huynh đệ vajra giúp đỡ nhất là những người có phẩm tính giới luật đạo đức cao. Nếu không có những người này và chẳng có Pháp hữu nào ở chung quanh, thì chỉ cần người nào có thể đọc được bản văn để giúp bạn. Điều này sẽ giúp được bạn và chắc chắn có còn hơn không. Nếu đạo đức của người đó thanh tịnh thì tốt hơn; nhưng nếu thậm chí không có thì điều quan trọng nhất là khi bạn sắp chết bạn nghe được lời nói rõ ràng, do vậy cần một người có thể đọc một cách rõ ràng.

Tantra Về Sự Hợp Nhất Của Mặt Trời Và Mặt Trăng trình bày:

Vào lúc đó, hãy kết hợp các hướng dẫn thiết thực của vị thầy tâm linh vào dòng tâm thức bạn. Thực hiện lập lại sự quán tưởng với những điểm này. Nên có vị thầy tâm linh, huynh đệ Giáo Pháp ruột thịt hoặc huynh đệ vajra hướng dẫn ý thức bạn quán tưởng.

Đó là có sự hướng dẫn quán tưởng của người khác.

Tự mình tạo quán tưởng. Nếu vị thầy tâm linh, Pháp hữu hay huynh đệ vajra không thể kết hợp với bạn hoặc nếu bạn chết trong nhập thất và bạn là người có kinh nghiệm tốt không cần người khác tạo quán tưởng, bạn có thể tự mình tạo quán tưởng bằng thực hành trước đó. Nếu bạn là người thấu suốt thanh tịnh quang, đã rèn luyện trong cái thấy của tánh Không và đã hoàn toàn nhận ra tánh giác thì sự chuyển di Dharmakaya là tốt nhất. Thế nên, giống như trước, không nên có một thứ gì gợi lên bám luyến hay thù ghét. Nếu thân bạn còn khả năng hãy ngồi theo tư thế bảy thuộc tính hoặc ngồi thẳng lưng. Nếu không được, hãy nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng bắc và tha thiết phát sinh Tinh Thần Tỉnh Thức vài lần, suy nghĩ, “Bây giờ tôi sắp chết. Do vậy trong tam giới của sinh tử nói chung và trong thời buổi suy thoái này nói riêng, tôi vui mừng vì có thể chuyển di tâm thức trong khi có bạn bè với các hướng dẫn thâm sâu như vậy. Giờ đây tôi phải nhận ra thanh tịnh quang của cái chết như Dharmakaya, tôi phải gửi vô lượng lưu xuất của tôi để rèn luyện người khác tùy theo nhu cầu của họ, và tôi phải phục vụ nhu cầu của chúng sanh cho đến khi sinh tử luân hồi trống rỗng.”

Tư thế nằm nghiêng về bên phải là tư thế của Đức Phật khi Ngài nhập niết bàn. Sự chuyển di Dharmakaya này cho người có kinh nghiệm trong tất cả giai đoạn nâng cao của thực hành. Người này chết đi với sự hướng dẫn của bạn bè về lý thuyết và thực hành. Trong cách này người đó thành tựu sự quan tâm của chính họ và người khác. Sự hoàn thành mối quan tâm của chính bạn là thực sự nhận ra bản tánh của Dharmakaya. Để hoàn thành mối quan tâm của người khác người ta phải liệu trước việc gửi vô số hóa thân để phục vụ nhu cầu của chúng sanh cho đến khi chu trình sinh tử trống rỗng.

Ở Tây Tạng khi các hành giả già của Giáo Pháp kề cận cái chết, họ thường đặc biệt hạnh phúc khi thấy cái chết đến gần. Dĩ nhiên, lý do mà họ hài lòng là vì họ đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho tiến trình chuyển tiếp này. Về những người như vậy, có nói rằng, “Cái chết không phải là chết, mà là sự vượt qua của một vị Phật nhỏ.” Cũng giống như nói rằng về cái chết của loại người này là một kinh nghiệm giác ngộ. Trái lại, phần lớn chúng ta không chuẩn bị kỹ và nếu không chuẩn bị chu đáo thì hoàn cảnh hoàn toàn rất khác biệt. Nhiều người trong chúng ta sống như thể cái chết còn cách xa hàng ngàn năm mà không có bất kỳ quan tâm thực sự về hành động của chúng ta và các hậu quả. Loại cái chết của cách sống này là rất khác biệt.

Khi còn trẻ tôi đã chứng kiến nhiều lần các vị hành giả già của Giáo Pháp đã có kinh nghiệm hoan hỷ khi nhận ra họ đang đối diện với cái chết. Họ đã chuẩn bị cho cái chết suốt giai đoạn sống của họ bằng thiền định về vô thường, bản tánh của luân hồi là đau khổ, thực tại của tánh Không v.v... Nhiều vị lama và hành giả già của Giáo Pháp chết theo cách này. Thỉnh thoảng có người nghe về việc họ hoan hỷ vào lúc chết cũng cố bắt chước họ, dù rằng chính bản thân người đó chẳng chuẩn bị. Song, khi họ chết thật sự họ sẽ trở nên quẫn trí và đau khổ còn hơn người bình thường. Do đó, cái chết là điều gì đó phải được chuẩn bị. Tất cả các rèn luyện, lắng nghe, suy nghĩ và thiền định về Giáo Pháp của chúng ta nên chuẩn bị cho tiến trình chuyển tiếp này.

Kế tiếp hãy suy nghĩ không sao lãng, “Sự kiện tôi đã dâng hiến chính tôi đến vị thầy tâm linh và đã tìm kiếm hướng dẫn thâm sâu là cho mục đích đó,” và đi vào kinh nghiệm trong sáng một cách không dao động của các hướng dẫn thiết thực.

Sau đó tâm thức không thay đổi, thoát khỏi nền tảng của bất cứ thứ gì và bất kỳ gì làm chuyển di nó, hãy để mặc sự nhận biết của bạn trong một thời gian dài không tạo tác, kiên định không dao động, sống động, rõ ràng không che đậy, rỗng không và kiên quyết. Nếu hơi thở của bạn ngưng lại khi bạn đang trong kinh nghiệm đó thì thanh tịnh quang của nền tảng và thanh tịnh quang của con đường bây giờ được trau dồi, sẽ gặp nhau như cây cầu uốn cong bắc qua dòng sông. Đây là “sự gặp nhau của mẹ và con” của thanh tịnh quang.

Điều này cũng giống như sự tụ hội của hai dòng sông. Trong phép loại suy của một cây cầu bắc qua dòng sông, tất cả chín thừa của Giáo Pháp giống như dòng sông và Đại Viên Mãn giống như cây cầu bắc qua đó. Do đó, Đại Viên Mãn được gọi là bindu duy nhất, bản tánh thật sự của tánh giác, tinh túy (bản chất).

Sự định nghĩa các đặc tính của nền tảng, con đường và kết quả là như sau. Bản tánh của con đường là cái của chuyển tiếp, của thay đổi và của dao động. Bản tánh của con đường là thoát khỏi mọi dạng bám chấp, thèm khát và đeo đuổi. Bản tánh của kết quả là tỏa khắp một cách phổ quát và siêu việt. Nó là bản chất tinh túy của luân hồi và niết bàn và trong nó chẳng có mười địa bồ tát hay năm con đường.

Đó là sự định nghĩa các đặc tính của kiến, thiền và hành. Cái thấy (kiến) là bản tánh duy nhất của tánh bất nhị của luân hồi và niết bàn. Định nghĩa đặc tính của thiền là tất cả hạnh phúc và đau khổ, hy vọng và sợ hãi của chúng ta đều bình đẳng trong một vị. Bản tánh của hành là sự nhận biết không che đậy, chẳng lấy hay bỏ. Sự nhận biết không che đạây hay không thiền định này là sự nhận biết của chính chúng ta, là bản tánh của chúng ta và chẳng thể tìm kiếm ở đâu khác. Thậm chí không thể tìm kiếm nơi chư Phật. Ngoài ra, trong việc nhận ra bản tánh sự nhận biết của chính bạn, bạn nhận ra rằng tâm của tất cả chư Phật trong mười phương, ba thời và tâm bạn là bất khả phân. Nhận ra điều này là nhận ra ý định của tất cả chư Phật và với nhận biết này bạn đạt được trạng thái vô uý tuyệt đối, không bao giờ quay trở lại luân hồi.

Nghe về sự giải thoát không thể đảo ngược từ chu trình sinh tử này, một số người có thể cảm thấy một ít hoảng sợ, suy nghĩ rằng, “Một khi tôi đã hoàn toàn thoát khỏi chu trình sinh tử, rồi sau đó thì sao? Tôi sẽ bị lạc!” Đừng lo lắng, bạn sẽ không bị lạc. Sự nhận biết này là để thỏa mãn quan tâm của chính bạn và đáp ứng tự nhiên sự quan tâm của người khác. Bây giờ bạn có thể phục vụ nhu cầu của vô lượng chúng sanh, giống như tia sáng mặt trời chiếu ra khắp mọi nơi. Mặt trời không có ý định chiếu ra tia sáng để làm điều gì; mà đơn giản bản chất của mặt trời là chiếu ra các tia sáng này một cách tự phát. Tương tự, một khi thành Phật, bạn không cần phát sinh một ý định đặc biệt nào để phục vụ nhu cầu của chúng sanh, đúng hơn là sự phục vụ của bạn tuôn chảy không chướng ngại và tự phát. Do vậy, đừng lo nghĩ về việc bị lạc lối vì điều đó chỉ làm trượt vào chủ nghĩa hư vô (đoạn kiến). Chẳng có gì để buồn trong sự nhận biết như vậy. Chẳng có nền tảng để hoảng sợ. Ngoài ra, dù sao đi nữa cũng rất khó đạt được như vậy.

Dharmakaya bất sinh, phi chướng ngại cao nhất đã đạt được, và trong chốc lát bạn sẽ giải thoát. Riêng điều này nên lập lại nhiều lần với nhận biết dựa trên kinh nghiệm trong sáng. Do đó, điều này được gọi là “sự chuyển di Dharmakaya nguyên thủy,” và nó là sự chuyển di tốt nhất trong tất cả chuyển di.

Với những người chưa nhận ra nó và người thiếu nhận biết dựa trên kinh nghiệm, thậm chí nếu họ áp dụng sự chuyển di Dharmakaya cũng giống như phô bày một đồ vật cho người mù, hoặc chỉ ngôi sao cho con chó. Điều quan trọng là việc quán tưởng và chuyển di phải thích hợp với khả năng tâm thức của hành giả.

Nếu thành công trong chuyển di Dharmakaya thì dấu hiệu bên ngoài là bầu trời trở nên trong sáng; dấu hiệu bên trong là vẻ rực rỡ của thân không biến mất trong một thời gian dài và có nước da trong sáng; dấu hiệu bí mật bao gồm sự xuất hiện của chữ AH trắng và một chữ HUM xanh dương đậm. Đó là sự chuyển di Dharmakaya. Samaya.

Trong việc thành công về chuyển di, bầu trời trở nên rất trong sáng thanh bình. Dấu hiệu khác đã xảy ra nhiều lần với các hành giả lớn tuổi của Giáo Pháp là xác chết không có mùi hôi và vẫn giữ được nước da sáng bóng như lúc sống trong một thời gian dài sau khi chết. Những dấu hiệu như vậy đã xảy ra nhiều lần trong quá khứ ở Tây Tạng lẫn Ấn Độ. Chẳng hạn, năm 1958, cả hai ngữ và thân lưu xuất của Ngài Dudjom Lingpa vẫn hoạt động. Nhân một dịp chúng gặp nhau và cùng chết thậm chí dù không bệnh tật. Ngay sau khi chết dù trong mùa đông lại xảy ra sấm sét là rất bất thường trong mùa đó. Ngoài ra còn có động đất, và người ta thấy có bông tuyết giống như hoa rơi xuống từ bầu trời. Những ngày sau đó, bầu trời trở nên hoàn toàn thanh bình và trong sáng. Đó là những dấu hiệu chắc chắn của một bậc vĩ đại nhập niết bàn.

Gần đây hơn ở Buxa, Ấn Độ, nơi khu định cư của nhiều tu sĩ tị nạn, có một vị lama là hóa thân hiện nay còn rất trẻ tên là Drugpa Kyabgon. Khi Ngài viên tịch vào năm 1961 hay 1962, Ngài vẫn ngồi thẳng trong tư thế nhập định sâu trong hai tuần sau khi viên tịch và chẳng có bất cứ mùi nào. Ngoài ra khi H.H. Dudjom Rinpoche viên tịch trong hai tuần có những dấu hiệu như sự xuất hiện của cầu vồng và bindu được chứng kiến bởi hàng ngàn người từ các nước khác nhau.

Sự Chuyển Di Sambhogakaya

Nếu bạn thực hành chủ yếu về giai đoạn phát triển và nhất là có một ít thấu suốt về tánh Không, thì sự chuyển di Sambhogakaya là thích hợp. Nếu bạn có thể ngồi thẳng trong tư thế trước đó và thực hiện quán tưởng chuyển di được làm trước lúc rèn luyện. Nói cụ thể, tại đỉnh đầu của bạn hãy quán tưởng vị thầy tâm linh của bạn ngồi trên một hoa sen, mặt trời và mặt trăng trong thân tướng Sambhogakaya như Đức Vajrasattva, Vajradhara vĩ đại hoặc Đức Avalokiteshvara. Một cách cụ thể, hãy quán tưởng Ngài trong thân tướng vị Bổn Tôn đã chọn mà bạn sùng kính trong giai đoạn phát triển. Bên trong thân bạn, hãy quán tưởng rõ ràng một bindu trắng hoặc chủng tử tự của Bổn Tôn mà bạn đã chọn – như chữ AH trắng, chữ HUM màu xanh dương đậm, hay chữ HRIH đỏ – tại phần cuối của kinh mạch trung ương trong suốt, tinh khiết phía dưới rốn bạn. Tốt nhất nếu bạn quán tưởng rõ ràng các lỗ mở đều được đóng lại với chữ HUM.
Khi quán tưởng bindu trắng hay chủng tử tự của vị Bổn Tôn bạn chọn, hãy chắc chắn rằng nó được quán tưởng bên trong thân bạn, không phải thân của vị thầy tâm linh. Tốt nhất là bạn có thể đóng lại mọi lỗ mở dẫn đến nhiều trạng thái khác nhau của luân hồi với chữ HUM, nhưng nếu không thể làm toàn bộ quán tưởng đó cũng chẳng sao.

Nếu quán tưởng chúng không được rõ ràng, đừng chú ý đến các lỗ mở mà hãy tập trung chú tâm một điểm vào bên trong kinh mạch trung ương. Hãy đẩy mạnh năng lực thân thể của bạn lên trên; đóng lại mạnh mẽ các lỗ mở ở dưới, trợn mắt nhìn lên trên, ép lưỡi vào vòm miệng; kéo năng lượng sự sống ở dưới lên trên và tập trung ý thức của bạn vào bên trong kinh mạch trung ương. Kêu to “HIG KA, HIG KA,” kéo nó dần dần lên trên và khi nó đến lỗ mở Brahma hãy quán tưởng lỗ mở Brahma được che phủ với chữ HAM đang mở ra. Từ bên trong sự tinh khiết, màu trắng của nó (bindu), hãy quán tưởng ý thức của bạn bắn lên như một mũi tên và được thấm nhập vào ngực vị Bổn Tôn bạn chọn. Tập trung nhận biết của bạn ngay ngực vị Bổn Tôn đã chọn. Không được để nó đi xuống, hãy kéo nó lên và hòa nhập nhiều lần. Sau đó cũng để vị Bổn Tôn bạn chọn trong bản tánh không khách quan. Nếu hơi thở của bạn chết trong kinh nghiệm đó, bạn sẽ đạt được trạng thái của một Vidyadhara bất khả phân với vị Bổn Tôn bạn chọn và bạn sẽ trở thành Phật như một Sambhogakaya.

Trong quán tưởng trên bạn đẩy bindu trắng, đó là bản tánh của ý thức bạn lên ngực vị Bổn Tôn bạn chọn. Trong giai đoạn rèn luyện trước lúc thực hiện, bạn nói HIG khi ý thức đi lên và sau đó với KA bạn để ý thức đi xuống trở lại. Khi bạn thật sự sắp chết, tốt nhất đừng nói KA, chỉ nên nói HIG vì chỉ cần bắn ý thức bạn lên như mũi tên không cần kéo nó xuống. Đây là chuyến đi một chiều. Bạn đẩy nó lên và nó hòa nhập vào của vị Bổn Tôn bạn chọn hoặc vị thầy tâm linh, tan hòa ở đó không quay lại.

Theo cách đó, nếu bạn thành công trong chuyển di Sambhogakaya, dấu hiệu bên ngoài là bầu trời tràn đầy cầu vồng và ánh sáng; dấu hiệu bên trong bao gồm sự xuất tiết máu hay huyết tương và sự xuất hiện của vài giọt sương hay sự phồng lên tại lỗ mở Brahma trên đỉnh đầu của bạn; và dấu hiệu bí mật bao gồm việc xảy ra một hay năm loại xá lợi và sự xuất hiện của thân tướng Bổn Tôn, các dấu hiệu bàn tay của Ngài v.v... Đó là sự chuyển di Sambhogakaya. Samaya.

Thực hành trên đặc biệt dành cho những người đã rèn luyện thành thạo trong giai đoạn phát triển. Trong thực hành như vậy, bạn xem toàn bộ môi trường của bạn như cõi tịnh độ, loại bỏ bám chấp và các hình tướng thông thường. Bạn cũng thấy hình tướng bên trong và tất cả chúng sanh đều thanh tịnh, tuy xuất hiện nhưng không có tự tánh. Kiến thanh tịnh này là đặc điểm chủ yếu của giai đoạn phát triển và nó là điều cốt lõi để áp dụng thực hành này trong tiến trình cận tử cho sự chuyển di Sambhogakaya. Giáo lý này được áp dụng trong suốt tự thân tiến trình cận tử hoặc nếu bạn không thành công vào lúc đó, thì trong lúc kinh nghiệm tiếp theo sau khi chết lúc các hình tướng hiền minh và phẫn nộ xuất hiện. Thực hành này không dành cho mục đích cường điệu.

Sự Chuyển Di Nirmanakaya

Về phần tư thế của thân; do nằm nghiêng về bên phải năng lượng sự sống sẽ di chuyển từ lỗ mũi trái. Vào lúc đó hãy cầu nguyện một Nirmanakaya có thể xuất hiện trước bạn, như Phật Sakyamuni vĩ đại, Phật Maitreya, Phật Dược Sư, hoặc thân tướng của Đức Orgyen Padma, vị thầy tâm linh và bạn bè của bạn hoặc hình, tượng của một trong những người đó. Bày biện đồ cúng dường phong phú đến các vị đó. Nếu không có hình thức thực sự hãy quán tưởng nó một cách rõ ràng và tạo cúng dường lưu xuất trong tâm. Sau đó, bạn và người khác nên cầu nguyện, “Giờ đây trong việc phụ thuộc vào cái chết, cầu mong con thọ tái sanh như một Nirmanakaya vì lợi ích của tất cả chúng sanh, và cầu mong điều này là sự phục vụ to lớn cho thế gian. Cầu mong chính Nirmanakaya đó được phú cho các dấu hiệu của thân và biểu tượng giác ngộ, và cầu mong không có chướng ngại cho cuộc sống và hoạt động giác ngộ của con.”

Khi bạn cầu nguyện một Nirmanakaya ở phía trước, có thể là bất cứ đại diện khác nhau nào của thân, khẩu, ý của chư Phật. Việc đặt bất cứ biểu trưng nào về các vị đó là thích hợp. Chẳng hạn, nếu thấy chính bạn sắp chết trong bệnh viện thì việc có một biểu tượng của thân, khẩu, hay ý của chư Phật có thể không thực tế và không đơn giản khi bày biện bất kỳ cúng dường nào. Trong trường hợp đó, đừng lo lắng hay bối rối. Nếu bạn không có vật chất để cúng dường hoặc bàn thờ để đặt cũng chẳng sao. Hãy cúng dường thân, khẩu và ý của bạn và đừng bối rối. Điều đó là tốt. Việc chỉ lựa chọn cúng dường thân, khẩu và ý của bạn là điều tốt. Vì vô số kiếp trong quá khứ bạn đã kiên trì bám chấp vào thân, khẩu, ý như là “của tôi”. Chừng nào còn sự nhận dạng mạnh mẽ hay cảm giác về “thân, khẩu, ý của tôi,” triển vọng về việc cúng dường chúng là không cần bàn cãi. Trong tiến trình cận tử của một kiếp, nếu bạn có thể thành thật cúng dường thân, khẩu, ý của bạn thì có lợi ích to lớn trong đó hay không?

“Cầu mong con thọ tái sanh như một bậc Vidyadhara vĩ đại, phục vụ như biểu tượng của các Đấng Chiến Thắng trong ba thời.” Hãy phát sinh trong tâm thức một khao khát chân thực như vậy. Ở dưới rốn, hãy quán tưởng một nguồn Giáo Pháp ba góc và bên trong kinh mạch trung ương tinh khiết, trong suốt là một bindu trắng và đỏ, sắp bốc lên. Đóng lại lỗ mở ở dưới bằng việc rút nó lại và kéo lên trên. Năng lượng sự sống không lay chuyển ở dưới đẩy bindu lên trên và do nói “HIG KA, HIG KA,” nhiều lần khi bạn có thể, hãy rút nó lên trên. Nó đến lỗ mở ở lỗ mũi trái với nhận biết đi kèm năng lượng sự sống, và trong một chốc lát, giống như một mũi tên chúng hòa nhập vào ngược của vị Nirmanakaya ở phía trước bạn. Hãy để năng lượng sự sống và sự nhận biết như chúng là, không cần gom chúng lại. Lập lại điều này nhiều lần cho đến khi bạn thành công trong việc để ý thức ra đi. Sau khi ý thức ra đi trong kinh nghiệm đó chắc chắn sau này bạn sẽ được tái sanh như một Nirmanakaya để phục vụ nhu cầu của chúng sanh.

Nguồn Giáo Pháp có hình dạng như một hình tứ diện. Bindu màu hồng như màu của hoa dâu nở. Hãy quán tưởng sự nhận biết của bạn hòa nhập vào ngực của vị Nirmanakaya ở phía trước hoặc vào vị thầy tâm linh của bạn. Sự nhắc đến “việc tống ra từ lỗ mũi trái” là khác thường. Một số giáo lý về chuyển di tâm thức chỉ nói đến việc hướng sự nhận biết lên trên qua đỉnh đầu. Nếu bạn có thể làm được điều này thì thật tốt. Tuy nhiên, bản văn này giới thiệu sự lựa chọn khác và cũng không mâu thuẫn với các phương pháp khác về mặt kết quả cuối cùng của thực hành.

Theo cách đó nếu thành công trong chuyển di Nirmanakaya, các dấu hiệu bên ngoài bao gồm sự xuất hiện trong bầu trời có mây và cầu vồng như một cây như ý giống như một cái lọng mở rộng, và mưa hoa từ bầu trời; những dấu hiệu bên trong bao gồm sự xuất hiện của máu, huyết tương, dịch phục hồi hoặc những giọt sương từ lỗ mũi trái; và các dấu hiệu bí mật bao gồm sự xuất hiện của nhiều xá lợi nhỏ, sọ không bị vỡ mà còn nguyên (ngay cả khi thân được hỏa thiêu) và xuất hiện biểu tượng tay của các Bổn Tôn. Đây là sự chuyển di Nirmanakaya. Samaya.

Dịch phục hồi là bodhicitta trắng và đỏ đã được mô tả trong tantra. Về một số trường hợp xảy ra ở Tây Tạng, chất dịch trắng và đỏ này chảy ra từ lỗ mũi của hành giả sắp chết. Ngoài ra, khi thân của hành giả này được hỏa thiêu, sọ không bị cháy và không bể, và có thể có những biểu tượng tay của Bổn Tôn thực sự xuất hiện trên chính hộp sọ.

Sự Chuyển Di Mãnh Liệt

Các hướng dẫn trước áp dụng cho cái chết dần dần, nhưng trong trường hợp chết đột ngột thì không có thời gian cho thực hành thiền định như vậy; do vậy “sự chuyển di lập tức” là điều quan trọng. Ngoài ra, vì không biết hoàn cảnh về cái chết của bạn sẽ là gì, ngay bây giờ bạn phải luân phiên giữa thực hành rèn luyện chuyển di và sự chuyển di tức thời.

Như thế, trong chương này, có tiêu đề “Giải Thoát Tự Nhiên Của Sự Quan Tâm Về Chuyển Di: Các Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm Về Tiến Trình Chuyển Tiếp Của Cận Tử,” sự chuyển di Dharmakaya, Sambhogakaya và Nirmanakaya đã được dạy. Tất cả các điều này làm người sắp chết có khả năng thành thạo về tiến trình cận tử. Nhưng bạn có thể chết đột ngột như trong một tai nạn, trong trường hợp đó bạn chẳng thể làm được gì với thân thể hoặc các sở hữu của bạn vào lúc chết. Do vậy điều rất quan trọng là hãy chuẩn bị khả năng này ngay bây giờ. Tất cả chúng ta chắc chắn sẽ chết và cái chết sẽ tách rời chúng ta khỏi mọi thứ mà chúng ta nhận dạng: thân thể, của cải của ta v.v... Do đó việc buông bỏ bám luyến và cho đi mọi thứ ngay bây giờ là có lợi. Buông bỏ hoàn toàn thân thể, tài sản của bạn và mọi thứ khác để có cảm giác chúng chẳng còn thuộc về bạn. Không liệu trước bất cứ phần thưởng, biết ơn hoặc sự yêu mến nào – “tôi thương bạn”, một cái ôm, một nụ hôn, một ít quà tặng hoặc bất kỳ điều gì khác – hãy dâng cúng không có bất cứ bám luyến có điều kiện nào. Chẳng có ai tiếp nhận sự dâng cúng này. Đức Phật Sakyamuni không ra từ đám mây và nói, “Cám ơn” hoặc “Đồ của Ta đâu?” và đem đồ cúng dường đi. Mục tiêu của sự dâng cúng này là giải thoát mọi bám chấp vào mọi thứ mà bạn nhận dạng. Bám chấp này giống như thần chết được mô tả với miệng há rộng, nhe nanh, hai bàn tay ôm chặt sinh tử luân hồi. Việc có vị thần chết thực sự hiện hữu hay không lại là một vấn đề khác. Nhưng việc bám chấp thực sự được mô tả rõ với miệng mở rộng và hai bàn tay giữ chặt ba cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Ngoài ra, sự chấp bám rất tham lam háo hức, nó bám chấp vào mọi loại hiện tượng. Vì vậy thậm chí nếu chúng ta không thể hoàn toàn loại bỏ sự bám chấp của mình, điều quan trọng là ngay bây giờ chúng ta có thể bắt đầu làm mọi thứ để giảm bớt bám chấp.

Chúng ta có thể hỏi liệu mình thực sự có bất cứ năng lực nào hoặc làm chủ trên thân thể chúng ta, để tài sản hoặc những thứ bên ngoài mà chúng ta có mối kết nối trực tiếp hay không. Không chỉ chúng ta thiếu sự làm chủ thực sự trên thân thể mình mà cũng chẳng thể kiểm soát được ý thức của chúng ta. Hãy quán sát tâm bạn và chính bạn thấy. Có phải tâm này hoàn toàn dưới sự kiểm soát hoặc nó vận hành dưới năng lực ảnh hưởng của chính nó? Trong tiến trình của cuộc sống bạn, sự kiện xuất hiện không đơn giản tùy theo bạn muốn mà phụ thuộc vào hành động trước của bạn hay karma. Chẳng hạn, bạn có thể có ý định tốt nghiệp trung học hoặc đại học, nhưng được hay không? Nếu không, bạn có thể đã có ý định nhưng kết quả của chính hành động bạn đã xen vào và điều này xác định nhiều sự kiện trong cuộc sống của chúng ta. Loại công việc chúng ta được, loại công việc chúng ta mất, chúng ta đi đâu, chúng ta ở đâu – tất cả điều này bị ảnh hưởng bởi hành động chúng ta đã làm trong quá khứ. Do đó, vì không có sự tự kiểm soát trong quá trình sống của chúng ta, làm sao chúng ta có thể tìm thấy sự tự kiểm soát như vậy sau khi chết?

Vì lý do này, điều quan trọng là chuẩn bị ngay bây giờ cho tiến trình cận tử và làm mọi điều có thể để giảm bớt sự bám chấp của chúng ta vào bất cứ loại hiện tượng nào. Chúng ta phải có khả năng thấy cho chính mình rằng sự bám chấp vào thân, khẩu và ý có giúp ích gì cho chúng ta hay không. Tất cả chúng ta ở đây đều được giáo dục, tất cả chúng ta đều được đến trường ở nhiều trình độ khác nhau. Tất cả chúng ta đều được học cách suy nghĩ ra sao, do vậy chúng ta có khả năng thẩm xét chủ đề này cho chính mình. Chúng ta phải có khả năng nhận dạng sự bám chấp của mình và thấy trên nền tảng của kinh nghiệm chính mình, với sự thông minh của mình liệu có bất cứ lợi ích nào trong việc bám chấp hay không. sự bám chấp là nguyên nhân gốc rễ cho sự tái sanh liên tục trong chu trình sinh tử này được biết là samsara. Nó thực sự là cái còng tay; dù còng tay bằng vàng hay bằng sắt, nó đều trói buộc chúng ta.

Có những người được biết như hành giả lại hoàn toàn vi phạm Phật Pháp. Tuy nhiên, người như vậy thường có rất nhiều bám luyến đến truyền thống Giáo Pháp, dòng truyền của họ, hay môn phái và có ác cảm, coi thường hoặc chống đối các dòng truyền khác. Đây không phải là cách Đức Phật trình bày Giáo Pháp của Ngài, và cũng không phải là mục tiêu mà Ngài dạy Giáo Pháp. Đôi khi tôi cũng nghe người ta bình luận, “Ồ, như vậy và như vậy là một lama tốt, nhưng ông ta không thực sự biết được thế giới thực.” Hãy nhìn những vị đại lama của quá khứ, như Ngài Milarepa, Guru Rinpoche, và Tsongkhapa. Nhiều người trong các Ngài là khất sĩ sống dựa vào bình bát. Vậy các Ngài có rơi vào phạm trù của lama tốt nhưng không biết thế gian hay không? Loại đánh giá này đơn giản là lớp vỏ che đậy tính suy nghĩ tự phụ của chính mình là thông minh, hoặc nhiều tri kiến hơn chư Phật.

Có nhiều hoàn cảnh dẫn đến cái chết của chúng ta, nhưng chúng ta chẳng có ý niệm cái nào thực sự tấn công mình. Do vậy, điều quan trọng là hãy luân phiên thực hành các rèn luyện chuyển di trước đó và thực hành hiện nay, điều này được gọi là “sự chuyển di tức thời.”

Nó giống như vầy: hãy nhớ mạnh mẽ trong tâm, “Nếu bị chết bất thình lình, tôi phải tập trung trên đỉnh đầu tôi.” Quyết định này là quan trọng chủ yếu. Chẳng hạn, vào buổi chiều của ngày 22 âm lịch, nếu có quyết định chân thực hãy nghĩ rằng bạn thức dậy ngay khi mặt trăng mọc, khi mặt trăng mọc vào giữa đêm, bạn sẽ thức dậy. Nó cũng giống như vậy. Ngoài ra, ngay bây giờ hãy nhanh chóng quyết tâm tập trung chú ý trên đỉnh đầu bạn bất cứ khi nào nỗi sợ hãi xuất hiện. Kế tiếp trong trường hợp “chết đột ngột”, như té xuống từ sườn núi cao, dốc, tư tưởng sẽ khởi lên, “Tôi sắp chết!” Ngay khi xảy ra điều này, tốt nhất là nhớ lại vị thầy tâm linh của bạn hoặc vị Bổn Tôn đã chọn trên đỉnh đầu bạn. Nếu không có thời gian làm điều đó thì điều quan trọng then chốt là hướng sự tập trung vào đỉnh đầu bạn. Lý do tại sao sự chú ý của chúng ta trở nên tập trung vào lúc đó, là khi kinh nghiệm nỗi sợ hãi to lớn chúng ta thường đột ngột kêu lên “Mẹ ơi!” Do vậy, vào lúc đó chúng ta cũng phải chắc chắn nhớ lại vị thầy tâm linh của mình hoặc hướng sự nhận biết lên đỉnh đầu. Vì thế, điểm này là rất thâm sâu.

Trong thực hành này, bạn tập trung trên đỉnh đầu mình và ngay cả nếu không thể quán tưởng rõ ràng, hãy hình dung bạn cũng như thân lưu xuất của Đức Phật, hãy là Đức Phật Amitabha, vị thầy tâm linh của bạn hoặc bất cứ vị nào khác. Quyết tâm này là quan trọng cốt yếu.

Vào ngày 22 âm lịch, một tuần sau khi trăng tròn, mặt trăng mọc rất trễ vào ban đêm. Bản văn này được viết ở Tây Tạng, ở đó chưa có đồng hồ đeo tay, nên tác giả không thể đơn giản nói, “Nếu bạn muốn thức dậy vào hai giờ sáng, hãy liệu trước, rồi thức dậy vào lúc đó.”

Trong tiến trình cuộc sống bạn, ngay khi nghĩ rằng bạn có thể sắp chết, hãy tập trung chú ý vào đỉnh đầu bạn. Nếu có thể làm điều đó trước khi bạn chết, điều đó sẽ góp phần cho sự giải thoát của bạn. Hoặc thậm chí sau khi nhận ra bạn vừa mới chết, nếu hướng sự nhận biết lên đỉnh đầu bạn, đến vị thầy tâm linh hoặc hóa thân khác của Đức Phật, điều đó cũng sẽ dẫn bạn đến giải thoát. Thế nên, điều quan trọng là nhớ lại sự tập trung này trước hoặc ngay sau khi chết. Hãy quyết tâm rằng nếu thấy chính bạn có nguy cơ sắp chết, bạn phải hướng sự nhận biết lên đỉnh đầu bạn. Nếu không làm được và nếu chẳng nhớ lại thực hành Pháp trong tiến trình cận tử, hầu như bạn sẽ chỉ kinh nghiệm sự sợ hãi, hy vọng, và rối loạn vào lúc chết. Ngay cả bây giờ, khi cuộc sống người ta không xấu và kinh nghiệm ít đau khổ, nhiều người diễn tả rằng họ cảm thấy rối loạn. Nếu bạn rối loạn khi không đối mặt với cái chết và khi không kinh nghiệm nhiều đau khổ, làm sao bạn cho rằng có thể chịu đựng khi thật sự sắp chết? Nó sẽ diễn tiến xấu đi. Người phương Tây có tính cách đồi bại, nuông chiều trong sự rối loạn này hơn là làm điều gì đó chống lại nó.

Khi nhận ra bạn sắp chết, điều có lợi ích là quán tưởng vị thầy tâm linh trên đỉnh đầu hoặc bất cứ vị nào khác là đối tượng của niềm tin bạn, như Đức Avalokiteshvara, Phật Sakyamuni, hoặc bất kỳ hóa thân nào của Đức Phật. Ngoài ra, đây cũng là lúc để nhớ lại các giáo lý thiết thực bạn đã tiếp nhận liên quan đến tiến trình cận tử. Khi cái chết sắp xảy đến với bạn, điều quan trọng nhất là suy nghĩ về người mà bạn có niềm tin nhiều nhất.

Ở Tây Tạng khi tai họa xảy ra, việc người ta kêu lên trong đau khổ, “lama kyeno!” là rất phổ biến, có nghĩa “vị thầy tâm linh biết hết!” Đây là sự kêu cầu các bậc giác ngộ này hiện diện. Đúng vào lúc khủng hoảng hãy kêu cầu bất cứ bậc giác ngộ nào mà bạn có niềm tin. Trái lại, ở phương Tây nếu người ta kêu lên trong đau buồn đến “tam bảo”, có thể họ ám chỉ đến nhà cửa, xe cộ và bạn gái của họ.

Không có quan điểm trong việc kêu lên “Ôi, Trời!” hoặc “Ôi, Lama!” hay “Ôi Tam Bảo” nếu đó là lời vô nghĩa với bạn. Điều quan trọng là biết ý nghĩa của đối tượng bạn sùng kính và quen thuộc với những phẩm tính xuất sắc của đối tượng quy y. Tới mức khi bạn nhận biết các phẩm tính này và kêu cầu các đối tượng quy y đúng vào lúc khủng hoảng hoặc vào lúc chết thì lúc đó sẽ có ân phước thực sự. Nếu phát triển sự quen thuộc với thực hành này trong tiến trình sống của bạn, điều này chắc chắn sẽ là phản ứng tự nhiên của bạn vào lúc chết.

Tương tự, chẳng hạn khi bạn hoàn toàn bị ngập trong biển lửa, hoặc bị cuốn trôi trong một dòng sông to lớn, hay bị sét đánh xuống đầu, tên bắn trúng ngực, hãy nhanh chóng tha thiết nhớ lại vị thầy tâm linh hoặc hướng sự nhận biết ngay trên đỉnh đầu bạn. Điều đó cũng được gọi là “sự chuyển di tức khắc” và “chuyển di mãnh liệt”. Vì đây là rèn luyện rất thâm sâu nên hãy rèn luyện tâm thức trong đây thật tốt.

Trong phần trước về chuyển di Nirmanakaya, người sắp chết được khuyến khích nằm nghiêng về bên phải và thải ra năng lượng sự sống, hay hơi thở từ lỗ mũi trái. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là tập trung sự nhận biết tại đỉnh đầu. Bạn có thể nhớ lại các khía cạnh khác của thực hành phức tạp hơn về việc đóng lại mọi lỗ mở với những chủng tử tự được thiết kế để giúp tâm thức xuất ra từ đỉnh đầu. Nếu bạn làm được tất cả thực hành phức tạp, điều đó sẽ tốt hơn, nhưng điều quan trọng nhất là tâïp trung sự nhận biết trên đỉnh đầu.

Có nói rằng khi sự sợ hãi rất lớn khởi lên, đó cũng là thuận lợi để kêu cầu danh hiệu của chư Phật, hãy kêu lên “Người cha tâm linh!” hoặc “Orgyen!” Đây là trường hợp có những thuận lợi không thể tưởng khi tập trung sự chú ý của bạn vào vị thầy tâm linh tại đỉnh đầu bạn.

Kế tiếp, có những khác biệt lớn về phần đường dẫn của sự chuyển di tâm thức, cụ thể là, có chín bậc phân loại liên quan đến khả năng cá nhân siêu phàm, trung bình và thấp. Lỗ mở Brahma trên đỉnh đầu là đường dẫn để đến cõi tịnh độ của chư dakini, do vậy nếu tâm thức bạn xuất ra từ đó, bạn sẽ chắc chắn giải thoát. Đó là đường dẫn cao nhất, nên việc rèn luyện tập trung sự chú ý của bạn vào đó là điều quan trọng. Nếu tâm thức bạn xuất ra từ mắt, bạn sẽ sinh ra là một vị vua của thế gian; và nếu xuất ra ở lỗ mũi trái bạn sẽ có được thân người thanh tịnh. Đó là ba lỗ mở siêu phàm.

Nếu tâm thức xuất ra từ lỗ mũi phải bạn sẽ sinh ra như một yaksa;51 nếu nó xuất ra hai lỗ tai bạn sẽ sinh ra là một vị thần của cõi sắc giới; nếu xuất ra từ rốn bạn sẽ sinh ra như một vị thần cõi dục giới. Đó là ba lỗ mở trung bình.

Nếu tâm thức xuất ra từ lỗ tiểu bạn sẽ sinh làm súc vật; nếu xuất từ lỗ mở của sự trở thành, đó là đường dẫn trong đó dịch tái tạo và bindu trắng, đỏ di chuyển; bạn sẽ sinh làm preta (ngạ quỷ), và nếu xuất ra từ hậu môn bạn sẽ sinh vào địa ngục. Đó là ba lỗ mở thấp.

Vì thế có sự khác biệt rất lớn trong đường dẫn của sự chuyển di tâm thức, do vậy vào lúc chết việc hướng sự nhận biết vào đỉnh đầu của bạn sẽ có vô số thuận lợi. Đó là sự chuyển di mãnh liệt. Samaya.

Sự Chuyển Di Thông Thường

Những người trong các bạn chưa nhận ra ý nghĩa của tánh Không và không hiểu ý nghĩa của giai đoạn phát triển và hoàn thiện thì nên nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng bắc. Vị thầy tâm linh, anh chị em ruột, hoặc bạn bè của bạn nên dẫn dắt sự quán tưởng của bạn; và nếu thân bạn có khả năng, họ nên để bạn thọ quy y, trau dồi tâm linh tỉnh thức và sám hối tội lỗi. Sau đó thọ những nguyện thông thường và nếu có thời gian hãy thọ nhập môn tantric. Nhờ lúc sắp chết với động lực nghiệp tối ưu của việc có các giới nguyện rõ rệt không thể phai mờ, bạn được giải thoát khỏi các trạng thái khổ cực của luân hồi và có vô số thuận lợi.

Nếu bạn chưa có nhận biết của thực tại về tánh Không và nếu chưa thành thạo nhiều trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện thì bạn nên thực hành sự chuyển di thông thường này. tinh hoa của giai đoạn phát triển là nhìn mọi hình tướng như thân của Đức Phật; mọi âm thanh như ngữ của Phật, và mọi sự kiện tinh thần như ý của Phật. Tinh hoa của giai đoạn hoàn thiện là nhận ra bản tánh của tự thân thực tại. Nếu bạn không có bất cứ kinh nghiệm, nhận biết hoặc hiểu biết nào như vậy, bạn nên nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng bắc. Sau đó thọ nguyện quy y, nguyện bồ tát và phát lồ sám hối bất cứ hành động không đạo đức nào đã vi phạm.

Ở Tây Tạng, khi người ta thấy chẳng mấy chốc họ sẽ chết, thường họ sẽ nhận một lễ nhập môn liên quan đến các hóa thân hiền minh và phẫn nộ của Đức Phật. Điều này có thể có lợi ích xác thực cho người sắp chết. Nếu bạn chẳng chuẩn bị cho cái chết dù là sắp xảy ra hay còn cách xa mà người khác tụng niệm cầu nguyện đại diện cho bạn sau khi bạn chết thì rất khó có lợi ích thiết thực nào cho bạn. Nếu điều này được làm với một vị lama giác ngộ cao thì có thể có một số lợi ích và sẽ chỉ có một chút lợi ích nếu cầu nguyện này được làm bởi người bình thường. Nếu bạn có thể thọ giới, nguyện tantric ngay trước khi chết thì gần như không có khả năng giới nguyện này bị sứt mẻ trước khi bạn chết. Điều đó cho bạn động lực nghiệp tối ưu khi bạn chết và nó là cách tốt nhất đem cuộc sống bạn đến lúc kết thúc.

Một vấn đề chủ yếu trong số các Phật tử Mỹ là không bắt đầu dấn thân vào thực hành mà họ được dạy. Tổng quát, Phật tử ở Mỹ trong truyền thống đạo Phật Tây Tạng đã nhận được đầy đủ giáo lý về quy y và đã thọ nguyện quy y, thọ bồ tát giới. Nhiều người trong các bạn đã nhận nhiều lễ nhập dòng nên vào lúc chết sẽ không phải là lễ nhập dòng lần đầu tiên. Nhưng trong tiến trình của cuộc sống bạn dường như thấy ít có thời gian để thực hiện giáo lý này. Do vậy, khi đối mặt với cái chết của chính bạn, đừng nên cố gắng làm điều gì đó thật đặc biệt. Nếu bạn có thể chỉ cần hướng niềm tin vào các đối tượng quy y Phật, Giáo Pháp và Tăng Đoàn, và nhớ lại tinh thần mà bạn đã đi vào thực hành – để cố gắng cho tâm linh tỉnh thức vì lợi ích của tất cả chúng sanh – điều đó là đủ.

Trong trường hợp người ta thậm chí không thể làm được điều đó, hãy kêu tên người đó và nói, “Trên đỉnh đầu của bạn là Đức Thế Tôn của Lòng Đại Bi.52 Hãy sùng kính Ngài!” và vỗ vào đỉnh đầu người đó. Nhẹ nhàng giật tóc ở lỗ mở Brahma. Điều đó làm cho tâm thức thoát ra lỗ mở Brahma.

Trong trường hợp người đó không khác hơn một con vật và ngay cả không có khả năng hãy để đầu người đó quay về hướng bắc và nói nhiều lần, “Kính lễ Đức Phật Raknasikhin.” Điều đó sẽ chắc chắn giải thoát người đó khỏi trạng thái khổ cực của sinh tử, vì trước đó Đức Phật này đã nguyện, “Cầu mong tất cả những người nghe được danh hiệu Ta đều được thoát khỏi các trạng thái khổ cực của sinh tử.” Ngoài ra, có nói rằng nếu người nào thốt lên danh hiệu của Đức Phật, Bậc Chữa Lành Thần Hiệu, Vua của Ánh Sáng Xanh Da Trời, chỉ cần nghe được danh hiệu này, người đó sẽ được bảo vệ khỏi các trạng thái khổ cực của sinh tử. Tương tự, hãy kêu lớn mọi danh hiệu của chư Phật mà bạn biết, tụng niệm bất cứ các tinh hoa ban phước nào bạn biết như mantra lục tự. Nói cụ thể, nếu bạn có mantra bảo vệ treo trên cổ hãy đọc nó. Tụng niệm bài Giải Thoát Qua Sự Nghe và cúng dường bất cứ bài nguyện nào bạn biết. Nhờ làm như vậy, có khả năng thiết lập được một động lực nghiệp tối ưu nên điều này có được thuận lợi rất lớn. Có nói rằng tối thiểu chỉ nhờ người sắp chết nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng bắc sẽ không đi vào các trạng thái khổ cực của sinh tử.

Nếu bạn không thể nhớ lại danh hiệu của Đức Phật Raknasikhin, hãy nhớ Đức Phật Amitabha. Bạn cũng có thể tụng niệm mantra lục tự OM MANI PADME HUM hoặc mantra một trăm âm của Đức Phật Vajrasattva.

Vì thế, mọi lợi ích của việc thực hành Giáo Pháp sẽ đến vào lúc gần chết, nên điều quan trọng là khéo léo vào lúc sắp chếtø. Đây là những hướng dẫn về tiến trình chuyển tiếp lúc cận tử, được gọi là “sự giải thoát tự nhiên của việc quan tâm về chuyển di.” Samaya.

Đã niêm, đã niêm, đã niêm.

Bất kể các thực hành nào bạn đang làm, nó phải liên quan đến cái chết của bạn và giúp bạn trong tiến trình cận tử. Nếu nó không cho bạn bất cứ lợi ích hiển nhiên nào khi chết, bạn đã bị mất hiệu quả. Như một loại suy, nếu bạn làm món canh bằng các miếng phổi khô, tất cả các miếng phổi sẽ nổi lên mặt canh. Tương tự, nếu bạn đặt bắp rang vào nước, nó sẽ nổi ngay lên mặt nước. Đừng để thực hành của bạn giống như món canh phổi khô hay bắp rang nổi lên mặt nước. Sự thực hành của bạn phải có một số giá trị vững chắc lâu dài và lợi ích hiển nhiên cho bạn khi chết. Đây là điều rất quan trọng cho dù bạn là học giả, hành giả hay thiền giả.

Mặt khác, đây là lợi ích chắc chắn trong bất cứ thực hành Giáo Pháp nào mà bạn tham gia, bao gồm sự nghe, tư duy, thiền định, sùng kính v.v... Trái lại, ở Mỹ thường người ta chẳng bao giờ thỏa mãn. Có hai loại không thỏa mãn. Cái đầu tiên không thỏa mãn khi bạn đang tham gia trong lắng nghe, suy nghĩ hay thiền định, cho đến khi bạn thực sự đạt giải thoát. Loại không thỏa mãn này nảy ra sự thiếu tự mãn, đó là điều tốt. Với loại không thỏa mãn thứ hai bạn có thể nhận được Giáo Pháp có năng lực đem bạn đến giác ngộ và giải thoát trong chính kiếp sống này. Nhưng vì không thỏa mãn chúng ta bỏ quên chúng và không áp dụng vào thực hành. Đúng ra là bạn chờ đợi cho giáo lý được nói là cao quý, bí mật và mật truyền hơn và chạy theo chúng với hy vọng sẽ có hiệu quả đặc biệt hơn. Ví dụ, trước tiên bạn có thể nhận được giáo lý cao quý về quan điểm Madhyamaka (trung đạo) và có được một số hiểu biết về trí tuệ nhưng không thực hiện quan điểm này vào thiền định. Sau đó có thể bạn nghe về Mahamudra rồi chạy theo. Chẳng thực hành theo giáo lý nào, có thể bạn lại nghe về Atiyoga, Đại Viên Mãn và nghĩ rằng giáo lý đó còn cao hơn. Nhưng một thói quen xấu đã được thiết lập và bây giờ bạn lại quen với việc đi tìm nhiều giáo lý mật truyền hơn. Trong tiến trình bạn chẳng đặt được một nền tảng nào cho bất cứ điều gì. Đây là vấn đề của xứ sở này. Những người mới bắt đầu không biết cái nào tốt nên họ không đáng trách.

Khuynh hướng phổ biến khác là chấp nhận quan điểm phù phiếm hướng đến Giáo Pháp, một loại tâm thức hổ lốn lý sự hết giáo lý này đến giáo lý khác mà không thực sự nghiền ngẫm và lĩnh hội giáo lý đã tiếp nhận. Đó là vấn đề, và giải pháp là tự mình cam kết vững chắc với giới luật tâm linh và thực hiện trong thực hành từng giai đoạn. Hãy thiết lập một nền tảng trong thực hành và xây dựng trên đó. Khi xem lại cuộc sống của chúng ta từ thời còn bé đến nay, chúng ta có thể tự hỏi, “Thực tế cho đến bây giờ chúng ta đã xây dựng được nền tảng gì rồi?” Nhiều người trong chúng ta thậm chí chưa thực sự hoàn thành khóa học của mình, điều đó cho thấy cùng một dạng thái độ không tham gia xuyên suốt với một dự định tốt. Chúng ta đã có nhiều cơ hội để nâng cao khóa học của mình nhưng lại không tận dụng và để cơ hội trôi qua. Do vậy, hãy tập trung vào thực hành của bạn và lĩnh hội những gì bạn đã được dạy.

Một số người rất kiên trì bám chấp vào một hệ phái hay truyền thống Phật giáo riêng. Ví dụ một số hành giả Hinayana nghĩ rằng phái của họ là giáo lý duy nhất thật sự của đạo Phật và giáo lý Mahayana là không trung thực. Có thể một số người đi theo truyền thống Mahayana nghĩ rằng Hinayana là không trung thực hay thấp hơn. Dĩ nhiên, loại quan điểm bè phái này chẳng có bất kỳ lợi ích nào. Mặt khác nó cũng chẳng có lợi ích gì. Nếu đi theo Hinayana, bạn đang tập trung trên nền tảng của toàn bộ thực hành đạo Phật. Điều này đòi hỏi thiền định về Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và trau dồi quan điểm thoát khỏi luân hồi sinh tử. Trên nền tảng đó bạn có thể tiến tới Mahayana và trau dồi tâm linh tỉnh thức, trau dồi trước hết mọi tinh thần khao khát giác ngộ. Để điều này được dễ dàng, bạn phải trau dồi tứ vô lượng tâm của lòng từ, bi, hỷ, xả v.v... Trên nền tảng đó bạn có thể tiến đến việc trau dồi sự mạo hiểm đến giác ngộ với sự trau dồi sáu hoàn thiện v.v... Trên nền tảng đó bạn có thể đi vào Vajrayana. Có nhiều đại lộ của thực hành, chẳng hạn nếu bạn tập trung trên giai đoạn thực hành phát triển và có được nhận biết của các hóa thân hiền minh và phẫn nộ của các bậc giác ngộ, điều đó sẽ dẫn bạn đến giải thoát. Trên nền tảng thực hành này bạn có thể đi vào Atiyoga hay Đại Viên Mãn. Tuy nhiên, nó được thiết lập bởi nền tảng mà bạn có thể hoàn thành từ chuỗi thực hành trên. Nếu không thiết lập được nền tảng đó mà chỉ tiến tới điều gì khác và sau đó từ bỏ thì cũng không có lợi ích. Mọi biểu lộ của tâm thức bè phái là biểu lộ tương tự của vấn đề cũ kỹ; bám luyến và thù ghét. Việc nói “Tôi là người thuộc phái Nyingmapa” hay “Tôi thuộc phái Gelugpa” với thái độ cam kết với con đường riêng cho đến khi đạt được cực điểm của nó là điều tốt. Nhưng nếu bạn không đến được kết quả của con đường mà chỉ bám luyến vào nó thì chẳng có lợi ích. Nếu bạn đang theo một con đường của Phật giáo, việc thực hành cắt đứt của bạn phải là sự hàng phục ba độc của tâm bạn: tham, sân và si. Sự thực hành Pháp của bạn phải hoạt động như sự giải độc cho ba độc này.

Nếu sự thực hành Giáo Pháp của bạn không chống lại và hàng phục được các phiền não trong tâm thức thì việc bạn là một Phật tử là điều đáng ngờ. Là một Phật tử có nghĩa để khuất phục được chất độc trong tâm thức bạn, để trau dồi tâm linh tỉnh thức và để chuyển tâm bạn khỏi sinh tử. Nếu, trong tiến trình thực hành của bạn, chẳng có điều gì kể trên xảy ra vậy việc gọi chính bạn là một Phật tử có ý nghĩa gì?

Một số trong các bạn có thể muốn thực hành Atiyoga, Đại Viên Mãn. Tại sao được gọi là “Đại?” Tại sao nó được gọi là “Viên mãn?” Nó được gọi là Viên mãn vì mọi phẩm tính của giác ngộ đều được viên mãn trong thực hành này. Nó được gọi là “Đại” vì không có gì lớn hơn được. Tuy vậy, nếu chấp nhận quan điểm bè phái bám chấp vào chính bạn như hành giả của Đại Viên Mãn, thì bạn không biết Đại Viên Mãn là gì. Giáo lý về Đại Viên Mãn trình bày rằng toàn bộ luân hồi và niết bàn đều cùng một bản tánh. Nếu đó là trường hợp, trong lúc này bạn đang bám chấp vào khái niệm là một hành giả của Đại Viên Mãn thì bạn ở đâu trong luân hồi và niết bàn? Nếu ngay cả bạn không biết ý nghĩa của thuật ngữ “Đại Viên Mãn,” tôi đề nghị bạn nên dừng lại việc tuyên bố như vậy về chính bạn. Mọi hiện tượng đều cùng một vị và tất cả Giáo Pháp đều cùng một vị. Chẳng hạn, trong truyền thống Gelugpa, có một thực hành phổ biến được biết như Lama Chopa, là sự thờ phụng hay sùng kính đến vị thầy tâm linh. Trong thực hành này bạn niệm, “Ngài là vị thầy tâm linh”, “Ngài là vị bổn tôn đã chọn” “Ngài là Dakini” “Ngài là Hộ Pháp” v.v... Sự thực hành tập trung trên vị thầy tâm linh là vì mục đích kinh nghiệm các phẩm tính giác ngộ của vị thầy tâm linh. Sự thực hành như vậy được tìm thấy trong tất cả truyền thống của Phật giáo Tây Tạng không chỉ trong phái Gelugpa. Đó là cùng một vị trong tất cả truyền thống này.

Giữa nhiều dạng thực hành có thể sử dụng được cho chúng ta, nếu tập trung chỉ trên guru yoga và nếu chúng ta làm điều này thật tốt sẽ thấy toàn bộ ý nghĩa của giai đoạn phát triển và hoàn thiện đều được bao gồm trong đó. Toàn bộ con đường Hinayana và Mahayana đều bao gồm trong đó. Toàn bộ tantra và Atiyoga đều bao gồm trong đó. Nếu bạn có thể thực hành tốt guru yoga, điều đó là đủ. Bạn không cần làm gì nhiều ngoài thực hành của mình, chỉ thực hành và làm tốt nó. Nếu không làm được và đi vòng quanh với cảm giác kiêu ngạo rằng bạn đang đi theo cái cao nhất của mọi thực hành và bạn là một hành giả của Atiyoga, bạn chỉ đem lại sự hổ thẹn trên chính bạn.

Một số trong các bạn có thể đôi khi đảm nhận vai trò của một Pháp sư. Nói chung, tư tưởng có thể dễ dàng khởi lên rằng dù thế nào chăng nữa thường thì vị thầy cao hơn đệ tử và đó là điều tại sao vị thầy giảng dạy và người khác được nhận giảng dạy. Nếu thỉnh thoảng bạn đảm nhận vai trò của một vị thầy tâm linh, người cố vấn hoặc người hướng dẫn, điều quan trọng trước tiên là hãy khảo sát tâm bạn. Khi bạn đến gần Pháp tòa. Từ điểm lợi thế của tánh không hãy thấy Pháp tòa là rỗng không. Khi bạn bước lên ngai để ban Giáo Pháp, điều quan trọng trước tiên là hãy nhớ lại những phẩm tính xuất sắc của Đức Phật, Giáo Pháp, Tăng Đoàn và các phẩm tính của vị thầy tâm linh bạn. Hãy cầu khẩn sự ban phước của các Ngài. Hãy nhớ lại lòng từ của các Ngài. Hãy cúng dường trong tâm. Với thái độ tôn kính, hãy suy nghĩ về những điều này khi bạn sắp bắt đầu ban giáo lý. Kế tiếp, khi để ý những người đến với bạn cầu giáo lý, hãy đáp ứng sự thỉnh cầu và mối quan tâm của họ với tinh thần rộng lượng. Điều này là tặng phẩm của bạn cho họ. Cống hiến giáo lý với động cơ sống để lợi ích người khác. Với động cơ như vậy, trong thực tế đó là lợi ích cho người khác và cũng là lợi ích cho chính bạn. Chính hành động cống hiến giáo lý cho người khác khiến tịnh hóa các nhiễm ô và nghiệp bất thiện bạn đã tự tích lũy và giúp bạn tích tụ công đức cho chính mình. Trong hai cách này đều là lợi ích cho bạn. Ngoài ra, khi đang giảng dạy bạn nghe giáo lý bạn đang ban và như vậy bạn cũng đang giảng dạy chính mình. Thậm chí bạn có thể học được từ những lời được thốt ra từ chính miệng bạn. Khi bạn đang giảng dạy việc quán tưởng vị thầy tâm linh hoặc các đối tượng quy y khác trên đỉnh đầu bạn cũng rất hữu ích. Bất kể truyền thống nào bạn theo, là Gelug, Kagyu, Sakya hay Nyingma, hãy mang trong tâm vị nào mà bạn có lòng tin lớn nhất. Thậm chí nếu có niềm tin vào nhiều vị, bạn vẫn có thể quán tưởng chỉ một vị, nhưng hình dung vị này cùng bản tánh như tất cả đối tượng quy y đó. Tất cả các Ngài đều bao hàm trong một.

Bạn thực có niềm tin và thực sự có lòng bi vậy phải nhớ điều này trong tâm khi đảm nhận vai trò vị thầy. Trái lại, nếu bạn bước lên Pháp tòa với cảm giác là người đặc biệt trong lúc người khác là bình thường, ngay cả điều này cũng không phải là thái độ của người Phật tử. Hãy nhìn tấm gương của người khác. Khi Đức Dalai Lama sắp ban giáo lý, trước tiên Ngài đến Pháp tòa và đảnh lễ ba lần. Tại sao Ngài làm điều này? Ngài đang nhớ lại những phẩm tính của Đức Phật, Giáo Pháp, Tăng Đoàn và vị thầy tâm linh của Ngài; và Ngài làm điều này với thái độ tôn kính và yêu quý. Ngài không đảnh lễ đến ngai và nghĩ, “Đó là nơi tôi sắp ngồi và vì là người trong sạch nên cúi lạy ngai này mà tôi sắp ngồi.”

Nếu bạn giảng dạy Giáo Pháp hãy làm với thái độ tôn kính và yêu quý này, bạn sẽ không cần làm bất cứ điều nào khác thường. Bạn chỉ làm theo cách đơn giản này. Mặt khác, nếu động cơ của bạn và Giáo Pháp không thích hợp thì chẳng có lợi ích trong sự giảng dạy của bạn. Sẽ chẳng lợi ích cho bạn khi chết, đúng hơn là có hậu quả bất lợi. Kết quả sẽ là sự giảng dạy Giáo Pháp không trung thực và điều này sẽ chỉ gây cho bạn tái sanh vào một trong các trạng thái thấp của sinh tử.

Đó là loại thái độ một vị thầy phải có để giảng dạy Giáo Pháp. Bây giờ, về phần học trò ra sao? Tôi đã du hành vòng quanh xứ sở này đã nhiều, đã từng đến các trường học và đã thấy cách cư xử của học trò trong trường học ở Mỹ. Học trò thường giơ chân lên hướng về vị thầy; họ ngồi dựa lưng vào ghế quay lưng về mặt vị thầy, trong tư thế đó họ hỏi người thầy và vị thầy trả lời trong lúc nhìn vào lưng họ. Điều đó có thể được tán thành ở trường Mỹ; nhưng với Giáo Pháp thì không được tán thành. Tư thế đó không làm tổn thương vị thầy dù ở bối cảnh Giáo Pháp hoặc thế gian mà nó làm hại học trò. Về một mặt nào đó xứ sở này vô trật tự, chẳng có quy tắc nào về tư thế của học trò phải có trong lớp học. Tuy nhiên, loại tư thế vô tình hoặc có lẽ thậm chí kiêu ngạo này thực sự gây bất lợi cho bản thân người học trò. Chẳng có lợi ích hay tổn hại nào cho vị thầy mà là làm hại học trò. Nếu bạn muốn học đúng cách hoặc có lợi nhất, cách cư xử về phần của đệ tử trong Giáo Pháp, bạn có thể tìm thấy thảo luận chi tiết về điều này trong bản văn được gọi là Năm Mươi Bài Kệ Về Sùng Kính Guru, đã được dịch sang tiếng Anh. Hãy nhớ rằng năm mươi bài kệ về mối liên quan đến vị thầy tất cả đều vì lợi ích cho đệ tử, không phải lợi ích cho vị thầy. Cư xử theo cách đúng là vì lợi ích của đệ tử, tịnh hóa những khuynh hướng và dấu vết bất thiện, tích lũy công đức và trau dồi những phẩm tính xuất sắc về phần của đệ tử.

Giữa bốn phẩm cấp tâm linh của Phật giáo Tây Tạng – Gelug, Sakya, Nyingma và Kagyu – phái Gelug có chiều hướng là gương mẫu nổi bật nhất trong cách đệ tử sùng kính đến vị thầy. Họ thực sự gương mẫu. Mặc dù không thuộc phái Gelugpa, tôi đã sống bảy hay tám năm với các thành viên của phái này nên thấy cách họ cư xử ra sao. Mặt khác tôi cũng không thuộc phái Nyingmapa, cũng như Sakyapa hoặc Kagyupa. Tôi là một Phật tử và có niềm tin vào tất cả truyền thống này. Tôi không khẳng định có kiến thức hoặc hiểu biết về tất cả nhưng thật sự có niềm tin vào tất cả phái này. Do sự khẳng định ở trên về Gelugpa, tôi không ngụ ý rằng các phái khác không tốt. Đạo đức của họ cũng xuất sắc, nhưng tôi thấy Gelugpa đặc biệt nổi bật trong khía cạnh riêng biệt đó của thực hành. Và, dĩ nhiên ba phái khác thực sự biết đệ tử của họ phải liên hệ với vị thầy tâm linh ra sao. Song, có thể dưới ảnh hưởng của các vùng khác nhau ở Tây Tạng nên mỗi truyền thống này có khuynh hướng ưu thế hơn, bạn sẽ thấy một số khác biệt giữa bốn truyền thống tâm linh. Chẳng hạn, truyền thống Gelugpa đã được nuôi dưỡng rất mạnh ở khu vực Lhasa, thủ đô của Tây Tạng. Xã hội Lhasa có cách cư xử lịch thiệp và được tu dưỡng rất tốt. Cư dân ở Lhasa có xu hướng thời lưu nên điều này đã ảnh hưởng truyền thống tâm linh chiếm ưu thế nhất ở đó, đó là Gelugpa. Nếu bạn đến những nơi khác của Tây Tạng như Golok, Kham, hoặc Amdo ở phía bắc Tây Tạng thì không có văn hóa xã giao tế nhị lịch sự như vậy. Những vùng này là nơi truyền thống Nyingmapa và Kagyupa được nuôi dưỡng mạnh mẽ nhất. Do đó, có thể các truyền thống này bị ảnh hưởng tùy theo xã hội. Bản thân tôi từ Gyalrong trong vùng Kham-Amdo nên tôi không được lớn lên trong môi trường văn hóa tế nhị. Tôi không học được nhiều phép xã giao. Nếu bạn có thể cư xử lịch thiệp đến vị thầy tâm linh thì đó là điều tốt. Cùng lúc, điều quan trọng là cách cư xử bên ngoài của bạn với vị thầy tâm linh phải không giả tạo hay dối trá. Sự trung thực, trong sạch và kính trọng là những gì tôi xem là quan trọng.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/201520:51(Xem: 7723)
rang mạng Buddhaline.net, một trang mạng Phật giáo rất uy tín vừa phổ biến lá thư số 139 (tháng 10/2015) với chủ đề "Thiền Định", nhằm đánh dấu 15 năm thành lập trang mạng này, và đồng thời kêu gọi những người Phật tử khắp nơi hãy hưởng ứng chương trình "24 giờ thiền định cho Địa cầu" ("24 heures de méditation pour la Terre") sắp được tổ chức trên toàn thế giới.
28/12/201209:52(Xem: 9129)
Nguyên tác Hoa ngữ của “66 cầuthiền ngữ” này là “Lục thập lục điều kinhđiển thiền ngữ” (六十六條經典禪語),có nghĩa là “66 câu thiền ngữ trong Kinhđiển [Phật giáo]”, được phổ biếntrên internet vào khoảng năm 2004. Bản dịch tiếng Việt được phổ biến năm 2010,có tựa đề là “66 cầu làm chấn động thiền ngữ thế giới” hoặc “66 câu Phật họclàm chấn động thiền ngữ” đều không chuẩn với nguyên tác Hoa ngữ, đồng thời, đãthêm cụm từ “chấn động thế giới” và tỉnh lược từ “kinh điển”.
30/01/201103:37(Xem: 9418)
Rõ ràng hơi thở là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Nói khác đi, ta có thể dùng quán sát hơi thở để kiểm soát cảm xúc và hành vi của ta.
15/01/201109:42(Xem: 10641)
Điều làm cho một người trở thành một Phật tử chân chính là người ấy tìm nơi nương tựa ở Đức Phật, Giáo pháp, và chư Thánh Tăng - gọi là Quy Y Tam Bảo.
22/07/201119:28(Xem: 1903)
Ngày nay, Thiền tông đang phát triển nhanh ở nước Mỹ; ở những quốc gia phương Tây khác, thiền cũng được nhiều người quan tâm hơn, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, dù có nhiều người cảm thấy thích thú đối với thiền ngay từ lúc đầu, nhưng chỉ có một số ít người theo đuổi cho đến mục đích cuối cùng. Tại sao như vậy? Tại vì sự quan tâm của họ không được xây dựng trên nền tảng vững chắc, nhiều người đã từ bỏ sự theo đuổi đối với thiền giữa chừng. Sự quan tâm của họ chỉ đơn thuần là sự tò mò, đến rồi đi, vào rồi lại ra một cách dễ dàng như là sự thay đổi áo quần vậy. Để kiên trì theo con đường của thiền, thì ngay từ đầu cần phải biết và rèn luyện ba nhân tố cốt lõi của thiền tập.
23/07/201116:30(Xem: 2798)
Khi chấp nhận thực hành thiền, chúng ta phải có niềm tin sâu sắc vào khả năng của tâm chúng ta ngay từ lúc khởi đầu, và phải duy trì niềm tin ấy...
02/12/201409:08(Xem: 16097)
Bản dịch tiếng Việt Ba Trụ Thiền do chúng tôi thực hiện lần đầu tiên vào năm 1985 tại Sài gòn, Việt nam, và được nhà xuất bản Thanh Văn ấn hành lần đầu tiên vào năm 1991 tại California, Hoa kỳ đã được nhiều độc giả tiếng Việt hâm mộ. Chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả quí độc giả và hành giả tu tập thiền nhiệt tình, và nhà xuất bản Thanh Văn.
12/01/201120:16(Xem: 4471)
Pháp Sư Thái Hư cũng như Hòa Thượng Thích Minh Châu đều dùng các từ Như Lai Thiền để chỉ Thiền Nguyên Thủy và Tổ Sư Thiền để chỉ các hình thức Thiền Phát Triển sau này do các Tổ Sư các Thiền phái nổi danh đề xướng và truyền lại cho các đệ tử của mình. Cũng có người dùng các từ Thiền Tiểu Giáo (tức Thiền Tiểu Thừa) và Thiền Đại Giáo (tức Thiền Đại Thừa) như Trần Thái Tôn trong bài "Tọa Thiền Luận " của Khóa Hư Lục.
30/04/201103:17(Xem: 5055)
Vào năm 1986-1987 Hòa Thượng giảng Kinh Nguyên Thủy; đối chiếu Kinh Pali (dịch ra Việt Ngữ) và A Hàm tại Thường Chiếu giúp cho Thiền sinh thấy rõ nguồn mạch Phật Pháp từ Nguyên Thủy đến Đại Thừa và Thiền Tông.
20/01/201102:20(Xem: 3322)
Làm sao tôi có thể hành thiền khi quá bận rộn với công việc và gia đình? Làm sao tôi có thể phối hợp hoạt động với ngồi yên một chỗ? Có các nữ tu sĩ không?