Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Suy tư về vô thường và cái chết

08/12/201016:10(Xem: 6064)
Suy tư về vô thường và cái chết

SUY TƯ VỀ VÔ THƯỜNG VÀ CÁI CHẾT

Matthieu Ricard biên dịch
(Hoang Phong chuyển ngữ)

"Cái chết không nấn ná để chờ xem những gì ta đã làm
và những gì ta sẽ còn phải làm"
Tịch Thiên (Shantideva)

blank

Tháng 10 năm 2010 vừa qua, nhà xuất bản Nil vừa phát hành một quyển sáchrất công phu dầy hơn 400 trang của nhà sư người Pháp, Matthieu Ricard, góp nhặtnhững đoạn hay nhất trong kinh sách Tây tạng mà ông có dịp chuyển ngữ từ vài chụcnăm nay. Dưới đây là bản dịch một chương ngắn liên quan đến vô thường và cái chết.Sách mang tựa đề là "Những con đườngtâm linh, tuyển tập nhỏ về những đoản văn xuất sắc nhất của kinh sách Tây tạng"(Chemin spirituels, Petite anthologie desplus beaux textes tibétains).

Mỗi giây phút trong cuộc sống đều tượng trưng cho một giá trị vô biên.Thế nhưng chúng ta lại cứ để cho thời gian trôi đi như những hạt cát vàng lọt quakẻ hở của bàn tay. Chẳng có gì đáng buồn hơn khi thấy đôi bàn tay trắng vào cuốiđời mình. Hãy ý thức sự quý báu của từng giây phút trong cuộc sống. Nên sử dụngnhững giây phút ấy một cách hữu hiệu hầu mang lại sự tốt lành cho ta và cho ngườikhác. Trước hết phải xóa bỏ mọi ảo giác khiến ta tin rằng "còn cả một cuộcđời trước mặt". Sự sống của ta trôi đi như một giấc mơ, một lúc nào đó nósẽ dừng lại mà ta không hề hay biết. Không nên nấn ná hãy sử dụng những giâyphút còn lại một cách thiết thật nhất để khỏi hối hận khi lìa đời. Tu tập đểphát huy những phẩm tính nội tâm không bao giờ là một việc quá sớm.

Bảnchất phù du của mọi hiện tượng được thể hiện dưới hai dạng khác nhau : thứ nhấtlà vô thường thô thiển - chẳng hạn như mùa màng đổi thay, núi non sụp lở, thânxác già nua, xúc cảm trồi sụt - thứ hai là vô thường tinh tế, phát hiện trong từngđơn vị nhỏ bé nhất của thời gian. Trong từng khoảnh khắc cực vi tất cả những gìdù bề ngoài có vẻ bền vững thì thực ra cũng đều không tránh khỏi sự đổi thay.Phật giáo xem thể dạng vô thường tinh tế tương tợ như một giấc mơ, một ảo ảnh,một dòng lưu chuyển vô tận không thể nắm bắt được.

Người tu tập phải thường xuyên ghi nhớ trong tâm trí mình ý nghĩ về cáichết, tuy nhiên không phải vì thế mà người ấy phải buồn khổ và u sầu, trái lại ýnghĩ ấy luôn nhắc nhở họ không nên phí phạm những giây phút trong cuộc sống nàymà hãy sử dụng chúng để biến cải nội tâm mình, đúng như những gì mà mình mong ước.Ta thường có xu hướng tự nhủ : "Tôi phải thanh toán cho xong các công việcđang chờ đợi và hoàn tất các dự án dở dang, sau đó mới mở mắt ra được để lo đếnđời sống tâm linh." Tuy nhiên đấy chỉ là một cách nguy hại nhất để tự đánhlừa mình cái chết là một chuyện hiển nhiên, chỉ có điều là ta không thể biếttrước nó sẽ đến lúc nào và trong bối cảnh nào. Trong cuộc sống thường nhật, dùtrong cảnh huống nào chẳng hạn như đang đi, đang ăn hay đang ngủ... tất cả đềucó thể bất thần biến thành nguyên nhân đưa đến cái chết. Đấy là những gì mà ngườitu tập chân chính phải luôn ghi nhớ. Ở Tây tạng, các nhà tu ẩn dật khi nhóm bếplúc tinh sương đều tự nhắc nhở lấy mình là biết đâu sáng mai mình sẽ không còn ngồiđây để nhóm thêm một bếp lửa mới. Sau mỗi hơi thở ra họ đều nghĩ rằng mình vẫn cònmay mắn để hít vào một hơi thở mới. Ý nghĩ về cái chết và vô thường là động cơkhích lệ họ chú tâm hơn vào việc tu tập hằng ngày.

LONG THỤ (NAGARJUNA - Thế kỷ thứ I) (1)

Ngọn gió của muôn ngàn khổ đau thổi tạt
Lên cuộc sống mong manh như bọt nước này.
Kỳ diệu thay, sau một giấc ngủ dài,
Ta thức dậy trong khoan khoái để được hít vào và lại thở ra.


LIÊN HOA SINH (PADMASAMBHAVA, thế kỷ VIII - IX) (2)

Như một dòng thác đổ vào biển khơi,
Như mặt trời, mặt trăng lặn xuống sau những rặng núi xa,
Ngày và đêm, giờ và phút, tất cả qua mau,
Cuộc sống con người trôi đi không kéo lại được.

DILGO KHYENTSÉ RINPOCHÉ (1910 1991) (3)

Như lượng dầu trong chiếcđèn luôn vơi dần, mọi sự trên thế gian mỗi lúc một gần hơn với hồi chung cuộc.Thật vô cùng ngây thơ khi nghĩ rằng có thể hoàn tất các công việc dở dang và sauđó sẽ dành quãng đời còn lại của mình để tu tập Đạo Pháp. Có chắc là ta còn sốngđến lúc ấy hay không ? Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào không phân biệt là giàtrẻ lớn bé ! Dù đang làm gì thì ta cũng nên nhớ là mình sẽ chết và luôn tự nhắcnhở mình về điều này trên Đường tu tập [...] Một kẻ tội phạm bị truy nã không cómột giây phút nào được yên tâm; lúc nào y cũng lo sợ, phải nghĩ ra trăm ngàn kếđể trốn tránh sự trừng phạt. Chắc chắn ta sẽ không thấy người ấy mải mê phác họasơ đồ để thiết kế một căn nhà mới cho mình. Làm thế nào ta có thể lơ là khi cáichết đang rình rập trong từng giây phút ? Vậy chỉ còn cách tu tập Đạo Pháp ngaytừ giờ phút này, hầu giúp ta biến cái chết thành một người bạn. [...]

Tất cả mọi thứ đều có hạnkỳ. Người nông dân hiểu rõ điều này, họ canh chừng để biết lúc nào cần phải cày,phải gieo hay phải gặt, họ chuẩn bị mọi thứ khi cần đến. Trong lúc ta đang hội đủmọi điều kiện thuận lợi và gặp được một vị thầy chân chính chỉ dạy, chẳng lẽ talại bỏ hoang cánh đồng giải thoát của mình ?

Các kiếp sống tương laiđang chờ đợi ta một con đường thật dài cái chết chỉ là một ngưỡng cửa phải bướcqua. Ta sẽ bước một mình qua cái ngưỡng cửa ấy, họa may sự tu tập và lòng tin tưởngnơi vị thầy của mình là những gì duy nhất có thể giúp ta trước ngưỡng cửa đó.Cha mẹ, bạn hữu, uy quyền, của cải và những gì ta thường coi trọng đều phải bỏlại.

Nếu cứ để cho công việclặt vặt làm mất hết thì giờ đến khi hấp hối ta sẽ hối tiếc và sợ hãi sẽ xâm chiếmlấy mình, tương tợ như một tên trộm bị nhốt vào ngục và tự hỏi số phận mình sẽra sao. Mật-lặc-nhật-ba (Milarépa) có nói với người thợ săn Gonpo Dordjé như thếnày : "Hãy đặt lòng tôn kính vững chắc vào Thầy mình và Tam Bảo dù cho phảimất tất cả, nhưng ngươi sẽ sống và sẽ chết trong an bình và lòng tràn ngập hânhoan".

LIÊN HOA SINH (PADMASAMBHAVA, thếkỷ thứ VIII - IX) (4)

Sự sống trôi nhanh như những đám mây mùa thu ;
Cha mẹ, bạn bè như những người [bàng quang] đứng nhìn hàng hóa trong một ngày họp chợ ;
Thần chết đang lén lút rình rập như chiếc bóng xế buổi hoàng hôn.
Thế giới bên kia [đối với chúng ta] như một con cá trong suốt đang bơi trong dòng nước đục;
Thế giới như một giấc mơ hiện đến trong giấc ngủ tối qua ;
Thú vui giác cảm thì cũng như một ngày lễ hội phù du ;
Sinh hoạt thường nhật không khác những gợn sóng vô tích sự,
Đang xô đẩy nhau trên mặt nước.

DILGO KHYENTSÉ RINPOCHÉ (1910 -1991) (5)

Xuân đến các hạt giốngnẩy mầm. Hè sang các cây non vươn lên, trổ lá và đơm hoa. Sang thu hoa mầu chínrộ, mùa gặt hái bắt đầu. Đông về lại xới đất để chờ xuân năm sau. Từng thángcon trăng lên cao và khuất đi, từng ngày mặt trời mọc rồi lại lặn mất, tất cảbiến đổi không ngừng. Chiều tối, rộn rã tiếng ca và điệu nhảy của hàng nghìnquan khách ; hừng đông, hoang vắng và yên lặng. Sau những phút ngắn ngủi của mộtđêm lễ hội, những kẻ trác táng đến gần hơn một chút với giây phút lâm chung..

SHECHEN GYALTSAP (1871 - 1926)(6)

Giữa những đám mây ảo giác và phù du,
Lấp lóe một tia chớp của sự sống này.
Bạn có tin rằng mình còn sống đến ngày mai ?
Hãy tu tập Đạo Pháp ngay trong lúc này đi !

GOUNTHANG TENPAI DRÖNMÉ (1762 - 1823) (7)

Trong dòng nước xanh biếc đang nhảy múa,
Giữa tiếng rì rào bất tận của những làn sóng vỗ,
Vang lên tiếng kêu cứu của một người con gái.
Đến khi nào nàng sẽ bị đông cứng trong băng giá của mùa đông ?

Những cánh đồng lấp lánh đầy hoa, vang lên tiếng ong rộn rã,
Chẳng mấy chốc sẽ tê buốt trong băng giá của buổi sáng mùa thu,
Để rồi trở thành hoang vắng như những bóng ma,
Rên siết và lo sợ trước những cơn mưa đá dập dồn.

Hai con chuột, một trắng một đen - ngày và đêm -
Luân phiên gặm nhấm những cọng rơm của sự hiện hữu này.
Trong mỗi khoảnh khắc ta bước thêm từng bước,
Để đến gần hơn với kẻ thù là cái chết.

Kìa một cụ già đang khóc đứa con ra đi,
Thân cụ run lên và còng xuống.
Mái tóc bạc phơ xoắn lại như một chiếc vỏ sò.
Nào có ai bảo những người già đi trước ?

TENNYI LINGPA (1480 - 1535) (8)

Suy tư về Vôthường

Hãy tưởng tượng bỗng thấymình trơ trọi trong một nơi xa lạ, chẳng biết từ đâu đến và cũng chẳng biết mìnhphải đi đâu. Ta lạc vào một thung lũng thật buồn thảm hướng về phương bắc, mặtđất đen xì rải rác những di tích đổ nát màu gạch đỏ, không một bóng người, từ xavọng lại tiếng ầm ầm của thác đổ từ các vách đá của những ngọn núi âm u. Các tảngđá sụp lở lăn xuống phá vỡ cả triền núi cao, gió rít trong cỏ dại, một đàn ác thúđang tranh nhau cấu xé một xác chết. Tiếng sủa ăng ẳng của chó rừng hòa lẫn vớitiếc oang oác của lũ quạ và tiếng kêu than của loài chim cú. Đỉnh núi giống nhưnhững lưỡi nhọn đâm thủng cả bầu trời , gió hú, mặt trời lặn xuống sau rặng núi,bóng tối dầy đặc tỏa rộng khắp nơi.

Lạc lõng, không bạn đồnghành, tôi chẳng biết mình đang ở đâu và phải đi về đâu. Vô cùng thất vọng tôichỉ biết than vãn một mình : "Thật thảm thương, tôi đang ở đâu thế này ? Concái tôi đâu rồi ? Cha mẹ tôi ? Của cải tôi ? Xứ sở tôi ? Thật vô cùng kinh hoàng!"

Tôi hoang mang muốn bướcđi, nhưng vừa nhấc chân lên đã vấp té và ngã lăn xuống một vực sâu. Đang khi rơitôi bỗng nắm được một bụi cỏ mọc trên một ghềnh đá cheo leo. Tôi nắm chặt chùm cỏ,tuyệt vọng và lơ lửng trong không trung. Nhìn xuống, hun hút không thấy đáy vựcđâu cả, nhìn lên vách đá phẳng lì như một tấm gương vút lên tận trời xanh. Giórít bên tai. Bỗng nhiên phía bên phải của bụi cỏ từ một kẻ hở trong phiến đá cómột con chuột trắng chui ra cắn một cọng cỏ và tha vào hang. Bên trái bụi cỏ lạixuất hiện một con chuột đen cắn một cọng cỏ và tha vào một hang khác. Cả haicon thay nhau cắn từng cọng cỏ mang đi, bụi cỏ thưa dần, (hai con chuột một trắng và một đen tượngtrưng cho ngày và đêm đang làm cho cuộc sống của ta ngắn lại).

Không có cách nào đuổi hai con chuột, tôi kinh hoàng nghĩ đến cái chết gầnkề : "Thế là giây phút cuối cùng đã đến". Chung quanh chẳng có bóng dángmột ai cho tôi cầu cứu. "Trước đây tôi không hề nghĩ đến tôi sẽ chết và khônghề chú tâm vào việc tu tập Đạo Pháp. Tôi không nghĩ phải giáp mặt với cái chếtsớm như vậy, thế nhưng nó lại đang hiện diện trước mặt. Tôi sẽ không còn nhìnthấy các con tôi, bạn hữu tôi, của cải và quê hương tôi. Trước đây tôi chỉ biếtgom góp của cải và không hề quan tâm đến những gì tốt đẹp hơn, để rồi giờ đây tôiphải bỏ lại tất cả để đơn độc lạc vào một nơi mà tôi không biết đấy là đâu. Thậtkinh hoàng ! Làm thế nào để thoát khỏi số phận thảm thương này ? Còn có một chútmay mắn nào giúp tôi ra thoát hay chăng ?"

Bỗng nhiên Thầy tôi hiệnra trên bầu trời, mang sáu món trang sức bằng xương, ngồi trên tòa sen cạnh mộtvầng trăng, đang lắc chuông và đánh vào một cái trống nhỏ (đấy là các biểu tượng mà người Thầy muốn gợilại cho người đệ tử : hoa sen tượng trưng cho cuộc sống thế tục nhưng vẫn giữđược sự thanh cao, mặt trăng tượng trưng cho lòng từ bi, sáu món trang sức bằngxương tượng trưng cho sáu phẩm hạnh siêu nhiên, chuông nhỏ tượng trưng cho trítuệ, cái trống tượng trưng cho Đại Phúc hạnh). Thầy tôi múa một cáchthật oai nghi trong không trung và nói với tôi :

"Bất hạnh thay ! Hiệntượng vô thường đang làm con biến mất. Mùa màng trôi nhanh, tất cả mọi người dùbạn hay thù đều già nua và phải chết. Tuổi trẻ cũng tàn phế theo từng tháng, từngngày. Không có cách nào để đẩy xa cái chết, tuy nhiên nếu con nghĩ rằng còn cóthể ra thoát thì hãy nhìn vào cảnh huống của con trong lúc này và tức khắc khôngđược chậm trễ hãy chú tâm nghe thầy dặn bảo với tất cả sự tôn kính."

Khi nghe những lời nói ấytôi thét lên : "Tiếc thay ! con đang đứng trước ngưỡng cửa cái chết và rấthối hận vì trước kia con không chuyên cần tu tập để biến cải tâm thức mình. Dùphải chết hay được sống còn, con xin đặt số phận con vào tay Thầy và Tam Bảo.Xin Thầy và Tam Bảo tràn đầy lòng từ bi hãy giải thoát cho con khỏi vực thẳm vàchu kỳ hiện hữu ! Thầy là hiện thân của Tam bảo, con xin đặt số phận con trongtay Thầy !".

Khi những lời cầu khẩn xuấtphát từ nơi sâu thẳm của đáy lòng ta hướng vào vị Thầy thì một tia sáng cũng phátra từ tim của vị Thầy rọi thẳng vào tim ta đúng vào lúc mà chùm cỏ đang treo lơlửng sinh mạng mình sắp đứt hết . Tia sáng kéo ta ra khỏi vực thẳm và đưa ta vàomảnh đất tinh khiết của Đại Phúc Hạnh. Vô lượng tia sáng khác sẽ phát ra từ timta để tiếp dẫn chúng sinh trong ba cõi của thế giới ta-bà, không bỏ sót một chúngsinh nào, tất cả đều cùng ta bước vào mảnh đất tinh khiết của Đại Phúc Hạnh. Hãysuy tư như thế để phát huy lòng từ bi cực mạnh.

ĐỨC PHẬT THÍCH-CA MÂU-NI (Thế kỷ thứ V trước Tây lịch) (9)

Như một vì sao băng, một ảo ảnh hay một đốm lửa,
Một ảo giác, một giọt sương mai hay một bọt nước,
Một giấc mơ, một tia chớp hay một làn mây,
Hãy nhìn mọi sự vật cấu hợp giống như thế.


ĐẠT-LAI LẠT-MA THỨ VII, KELZANG GYATSO (1708 - 1757) (10)

Đến lúc phải đặt xuống
Trước ngưỡng cửa cái chết, gánh nặng của kiếp người,
Chẳng có ai mang theo được cha mẹ, bạn hữu,
Tôi tớ và của cải của mình.
Thương thay cho một tâm thức còn bị nô lệ bởi sự bám víu.
Hãy chặt đứt hết các mối ràng buộc ấy đi !


GOTRAKPA (1170 - 1249) (11)

Thân xác, vô thường như sương sớm một ngày xuân ;
Tâm thức, phi vật chất như bầu trời trống rỗng ;
Tư duy, tan nhanh như một cơn gió thoảng ;
Lúc nào ta cũng nên suy tư về ba điều ấy !


GAMPOSA (1079 - 1153) (12)

Bước đầu ta phải khiếp sợsự sinh và cái chết, như một con hươu vừa thoát bẫy. Giữa đường, ta không nên hốitiếc bất cứ điều gì dù đấy là cái chết của mình, giản dị như người nông dân vừalàm xong công việc đồng áng. Bước vào đoạn cuối của con đường, ta hãy hân hoannhư một người vừa hoàn tất một công việc thật bao la [...]

Cần nhất phải hiểu rằngkhông được chậm trễ, phải khẩn cấp như ta vừa bị một mũi tên đâm trúng vào một chỗnhược trên thân mình.

MẬT-LẶC-NHẬT-BA (MILARÉPA, 1040 - 1123) (13)

Khiếp sợ trước cái chết, tôi đi vào các vùng núi non,
Ra sức thiền định về sự bất định của nó.
Chinh phạt được thành trì bất tử của sự trường tồn,
Giờ đây tôi không còn lo sợ cái chết nữa !


JIGMÉ LINPA (1729 - 1798) (14)

Những ai từng bị cái nóng của mùa hè hành hạ,
Đang nhàn nhã dưới ánh trăng vằng vặc của mùa thu.
Họ không có vẻ gì khiếp sợ,
Chẳng qua vì không hề nghĩ đến,
Kiếp sống của họ đã bớt một trăm ngày*.


*(một trăm ngày là thời gian giữamùa hè và mùa thu)

PATRUL RINPOCHÉ (1808 - 1887) (15)

Bất hạnh thay cho chúng ta còn vướng mắc trong ảo giác,
Còn xem thế giới khổ đau này là thật và trường tồn !
Trước lòng tốt vô biên của vị Thầy,
Chúng ta cầu mong nhận được phúc lành để sống tốt đẹp như một lời giảng huấn !
Sinh ra đời, chúng ta lăn xả vào con đường đang mở rộng,
Nó hướng chúng ta vào một ngưỡng cửa chật hẹp, nơi Thần Chết đứng chờ,
Thịnh nộ và bất trị, Hắn vung con dao dài và giật chiếc dây thòng lọng đen kêu lên đồm độp,
Hắn nhìn bằng cặp mắt làm lạnh toát cả người.
Như thế đó chúng ta từ giã cõi người,
Thế nhưng trước đây chúng ta chẳng bao giờ nghĩ đến.
Cất giữ trong bao những hạt giống màu trắng,
Chúng ta đem gieo và chờ đến mùa gặt hái.
Là những người nông dân chúng ta nào biết cuộc sống sẽ chấm dứt lúc nào,
Biết đâu chúng ta sẽ không còn đó,
Để nâng chén rượu trong mùa gặt mới ?
Ý nghĩ về cái chết chẳng bao giờ hiện lên trong đầu những con gà trống trẻ !
Nếu có những gì khác biệt giữa con người và một thây ma,
Thì đấy cũng chỉ là một sợi chỉ mành buộc vào một hơi thở ngắn.
Thật nhẹ nhàng tâm linh rời bỏ thân xác một thanh niên hấp hối,
Thế nhưng người ta cứ bảo đấy là một sự đau buồn và khiếp sợ quá nặng nề.
Thế còn bạn, đang lúc trẻ trung và tươi mát, ngực áo cài hoa và mang đầy trang sức.
Có khi nào bạn nghĩ đến lúc đầu bạc và già nua ?
Làm thế nào có thể che dấu được những tàn phá âm thầm của thời gian.
Bạn làm gì được nào ? Già nua đôi khi còn tàn ác hơn cả cái chết !
Thân xác này, từng được chăm sóc cẩn thận chỉ là kho chất chứa đủ mọi khổ đau.
Không báo trước, nghịch cảnh giáng xuống bằng những mũi tên thật bén nhọn,
Những mũi tên của bệnh tật cắt đứt mối liên hệ giữa tâm linh và thân xác,
Biến chúng ta thành lễ vật hiến dâng cho Thần Chết.
Xác chết nằm kia khiến mọi người sợ hãi và lánh xa,
Thật ra cũng không khác gì với xác chết của bạn một ngày nào đó !

Xin vị Thầy nhân từ hãy nhìn xuống,
Những khổ đau mà chúng ta đang gánh chịu.
Bất lực không đủ sức nhổ bỏ cội rễ của sai lầm,
Chúng ta bị lừa bịp từ kiếp này sang kiếp khác,
Để phải cuồng quay trong chu kỳ hiện hữu của cõi ta-bà.
Cầu mong chúng ta tìm thấy hạnh phúc,
Và tháo gỡ được các khúc mắc của những ảo giác này !

Cuộc gặp gỡ giữa Patrul Rinpoché và TcheuyingRangdrol (16)

(Patrul Rinpoché làtác giả bài thơ trên đây)

Một hôm nhà sư ẩn dật vàphiêu bạt Patrul Rinpoché cùng với một người bạn là Péma Dorjé đến viếng ngôichùa Kathok. Họ men theo con đường mòn bên bờ Hồ Đen, vượt qua các băng hà trêndãy núi Thromgo. Sau cùng họ trèo lên được ngọn Núi Thiêng, ngọn núi có một triềndốc thẳng băng gọi là Nữ Hoàng của các Vách đá Hung ác.

Triền núi này là nơi ẩndật của một vị đại thiền sư tên là Tcheuying Rangdrol. Tcheuying Randrol sống ẩndật gần như suốt đời mình. Tuy không được học hành cao siêu nhưng đã thấu triệtđược con đường thiền định của Đại Phúc Hạnh. Quần áo vỏn vẹn một tấm da cừu khoácngoài đã cũ và mòn nhẵn, bên trong là một manh áo mong manh mà cổ áo lại khâu ngượcra ngoài. Ông chưa bao giờ đi đâu cả, ngày ngày chỉ ngồi yên trên một manh chiếuđể lắng sâu vào thiền định.

Patrul Rinpoché và PémaDorjé trèo đến nơi và gặp Tcheuying Randrol đang thiền định. Patrul Rinpoché phủphục xuống đất và lạy Tcheuying Randrol ba lạy, sau đó ông xin TcheuyingRandrol giảng dạy cho mình giáo lý về Bảnthể của Không gian Rạng rỡ, theo đúng truyền thống của dòng truyền thụ tâmlinh thuộc các vị tổ trụ trì của chùa Kathok.

Ngày đầu tiên, TcheuyingRangdrol chắp tay trước ngực xướng lên vài tiết trong giáo lý, sau đó thì lập lạithật chậm rãi ba lần câu thứ nhất như sau :

"Thật đáng tiếc,

Quả rất khó để có thể kết hợp giữacác thể dạng tự do và sự ràng buộc của các điều kiện,

Cần thiết cho sự hiển lộ của Giácngộ."

Thế rồi nước mắt tuôntrào xuống hai má của ông. Patrul Rinpoché cũng bật khóc theo và sau đóTcheuying Rangdrol giữ yên lặng một lúc lâu và buổi giảng chấm dứt.

Sang hôm sau, TcheuyingRangdrol lại tiếp tục giảng dạy theo cách đó, ông không phân tích văn bản mà đithẳng vào kinh nghiệm do chính ông đã đạt được. Sau đây là câu ông xướng lên :

"Sự sống của chúng sinh đổ xuống như một thácnước trên đỉnh núi!"

Ông chắp hay tay trướcngực và khóc, ông giữ yên lặng một lúc rồi lại xướng lên :

"Phải coi trọng những điều kiện thuận lợi đangcó và sự tự do mà mình đang được hưởng.

Đừngphung phí một cách vô ích cuộc sống này!"

Nhìn thấy thế PémaDorjé nghĩ rằng : "Thật hết sức lạlùng ! Một vị Thầy như Patrul Rinpoché đã thấu triệt toàn thể các giáo lý mà lạithân hành đến đây để tiếp nhận một sự giảng dạy sơ đẳng đến thế ! Thế nhưng chỉcần đơn giản nhắc đến sự hiếm hoi đượclàm thân con người mà cả Thầy lẫn trò phải ôm nhau mà khóc. Thật tôi chẳng hiểugì cả".

(Trong buổi thuyết giảngđầu tiên, Cheuying Randrol nêu lên sự khó khăn trong việc tu tập khi phải mangthân xác trói buộc của con người, thế nhưng làm con người là một điều kiện cầnthiết để tu tập, lời thuyết giảng ấy đã làm cho ông động lòng trắc ẩn đối vớichúng sinh và bật khóc. Patrul Rinpoché cảm nhận được những xúc cảm từ bi ấytrong lòng của Cheuying Randrol nên cũng khóc theo. Hôm sau Cheuying Randrolnêu lên số phận của chúng sinh cùng sự hiếm hoi và quý báu được làm thân conngười. Niềm hân hoan đó, sự giác ngộ đó đã làm cho ông lại bật khóc. PatrulRinpoché bất chợt cũng cảm nhận được sự hiếm hoi và quý giá ấy khi được làm thâncon người để tu tập, khiến ông cũng khóc theo. Lòng từ bi và sự giác ngộ tronglòng hai ông tương tợ như những dây đàn căng thẳng trong yên lặng, chỉ cần mộtlời giảng xướng lên chạm nhẹ vào dây đàn cũng khiến cho những giọt nước mắttrào ra. Hai vị đại sư không đủ sức kiềm chế lòng từ bi và sự giác ngộ bùng lênthật mãnh liệt trong lòng mình nên đã ôm nhau mà khóc).

Bures-Sur-Yvette, 04.11.10

HoangPhongchuyển ngữ

Thư Tịch:

1- Nagarjuna,"Lá thư viết cho một người bạn","Shes pa'a spring yig", tiết55.

2- Tiếtthơ này được trích dẫn trong rất nhiều kinh sách Tây tạng.

3- Tríchtrong "Một trăm lời khuyên củaPadampa Sangyé", Padmakara, 2003, lời bình của tiết thơ 33.

4- DoSchechen Gyaltsap trích dẫn trong "Thegpa chen po'i blo sbyong gi man ngag zab don sbrang stsi'i bum bzang", Vol. 6 (Cha), trong "Colected works of zhe chen rgyal tshab padma rnam rgyal",nhà xuất bản Shechen Publications, New Delhi, 1975-1985.

5- Đãtrích dẫn (op. cit.) ghi chú 4, tr. 73.

6- Tríchtrong tập "Byang chub kyi sems bsgompa'i rim pa bdag 'dzin 'dzoms pa'i sman chen" trong "Collectedworks of zhe chen rgyal tshab padma rnamrgyal", đã trích dẫn (op. cit.) ghi chú 5, Vol.5, tr. 41-56.

7- Tríchtrong tập "Chants de la vision pure,une anthologie de la poésie mystique tibétaine" ("Những bài hát về sự quán thấy tinh khiết, hợptuyển thi tập thần bí Tây tạng"), do Thupten Jinpa tuyển chọn và dịchthuật, Cathérine Saint-Guily chuyển ngữ tiếng Pháp, Éditions Kunchap, 2004,tr.51.

8- TennyiLingpa, Péma Tséwang Gyalpo (bstan gnyis gling pa padma tshe dbang rgyal po,1080-1535). Tuyển tập Kungzang Nyingthig (kunbzang snying thig), trích dẫn trong "gter gsar rdzogs chen gyi khrid, yig ma rig mun sel ye shes sgron me de"của Chögyal Ngakyi Wangpo, Ngawang Dargyé (chosrgyal ngag gi dbang po ngagdbang darr gyas, 1736-1807), Paro, Ngodrup Lamaand Sherab Demy, 1979, tr. 53-63.

9- Đức PhậtThích-Ca Mâu-ni, Udanavarga(Ched du mjod pa'i mtshoms) (Tự Thuyết Kinhhay Ưu-đà-na Kinh), trong tập các tiết kinh do Dharmatrata (Đạt-ma Đa-la,đầu thế kỷ thứ IV) kết tập.

10- Đạt-laiLạt-ma thứ VII, Kelzang Gyatso (Skal bzang rgya mtsho, 1708-1757), theo bản dịchtiếng Anh của Glenn Mullin, "Songs of Spiritual Change" ("Những bài hát của sự biến đổi Tâm linh"), Ithaca, Snow Lion Publications, 1982, tr.46.

11- Gyalwa Godrakpa (ko-brag-pabsod namsrgyal mathan, 1170-1249). Dịch từ văn bản Tây tạng trong : Cyrus Stearns, Hermit of Go Cliffs: Timeless Instructions of a Tibetan Mystic, WisdomPublications, Boston,2000, tr. 303.

12- Gampopa Sonam Rinchen (sgam papa dwags po lha rje bsod namsrin chen, 1079-1153), do Dilgo Khyentsé Rinpoché kể lại bằng cách truyền khẩu.

13- Jetsün Milarépa (rje btsun mila ras pa, 1040-1123) trích từ tập "Cent mille Chants" ("Thập Vạn Ca") ("mi la'i mgur 'bum"), do Tsang NyönHeruka xuất bản (gtsang smyon he ru karus pa'i rgyan can, 1452-1507), Gangtok, Sherab Gyaltshen, 1983.

14- "Le Trésor de précieusesqualités"("Kho tàng nhữngphẩm tính quý báu") ("Yon tanrin po che'i mdszod") của Jigmé Lingpa, do Kangyour Rinpoché, LongchenYéshé bình giảng, Éditions Padmakara, 2010, tr.42.

15- Tríchtừ tập "Accords sur l'abscence decomplications", trong "Chantsde la vision pure, une anthologie de la poésie mystique Tibétaine", doThubten Jinpa tuyển chọn, Cathérine Saint-Guily chuyển ngữ tiếng Pháp, 2004,tr. 47.

16- Do NyosbulKhen Rinpoché, Jamyang Dordjé (amyo shulmkhan po 'jam dbyangs rdo rje, 1932-1999) trực tiếp kể lại cho tác giảMatthieu Ricard.

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/03/2022(Xem: 1643)
Tôi không ngạc nhiên lắm khi biết dù tác phẩm Chết và Tái sinh ( Death & Rebirth ) đó TT Thích Nguyên Tạng soạn dịch ấn bản lần đầu tiên vào năm 2001 và được tái bản đến 9 lần rồi mà vẫn không đủ cung cấp, cho nên sắp tới Tu Viện Quảng Đức cho tái bản lần thứ 10 để cống hiến bạn đọc gần xa. May mắn thay trong thư viện tí hon của tôi có tác phẩm này được tái bản lần thứ bảy vào mùa Vu Lan báo Hiếu 2007 mà lời ngỏ của tác giả đã đánh động đến con tim của người đọc …qua câu chuyện Luật Sư Brendan Keilar sinh sống tại Melbourne / Australia đã bị bắn chết thật kinh hoàng khi tuổi mới 43 để trả giá cho hành động rất ngưỡng phục ( vì đã can thiệp cứu người).
02/12/2021(Xem: 7996)
Nam Mô A Di Đà Phật. Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức, Kính thưa quý đồng hương Phật tử thân mến, Kể từ ngày 12/04/2020, nước Úc của chúng ta cũng như các nước khác trên toàn thế giới đã bắt đầu bị đại dịch Covid hoành hành và lây lan một cách nhanh chóng. Hai năm qua toàn thế giới đã phải chịu ảnh hưởng về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thương trường. Ngay cả đời sống tinh thần của mọi người dân cũng bị ảnh hưởng không ít, nhất là đối với những gia đình đã phải nhìn thấy người thân ra đi trong sự cô đơn lạnh lẽo, không người đưa tiễn. Biết bao hoàn cảnh đau thương... Tính đến hôm nay nước Úc của chúng ta đã được ổn định phần nào, trên 80% người dân đã được tiêm ngừa theo quy định của chính phủ, cũng như việc không còn phải lockdown, người dân được đi lại tự do giữa các tiểu bang cũng như được hội họp, sinh hoạt hội đoàn và tôn giáo. Trong đại dịch, 2 năm qua nước Úc số người bị nhiễm Covid lên đến 113,411 người và số người không may mắn đã ra đi vĩnh viễn là 1,346 người.
01/08/2021(Xem: 5349)
Chuông mõ gia trì là 2 pháp khí rất quan trọng trong nghi thức hành trì và tu tập mỗi ngày đối với người đệ tử Phật. Tiếng chuông, tiếng mõ rất là quen thuộc gần gũi trong sự hành trì tu tập hằng ngày của người Phật tử, nhất là Phật tử theo truyền thống Bắc tông. Phật tử theo truyền thống Nam tông trước kia thì không có gõ mõ, thỉnh chuông khi tụng kinh, nhưng bây giờ đã có chuông rồi, còn bên Bắc tông thì chuông mõ đã có từ ngàn xưa.
26/06/2021(Xem: 5443)
LỜI GIỚI THIỆU “Chết đi về đâu” là tuyển tập các bài pháp thoại của thầy Nhật Từ tại Hoa Kỳ, Úc châu và Việt Nam. Dựa vào kinh điển Phật giáo thuộc các truyền thống khác nhau, thầy Nhật Từ đã phân tích những trở ngại về tâm lí trước cái chết thường làm cho cái chết diễn ra sớm hơn và đau đớn hơn. Nếu chết được hiểu là tiến trình tự nhiên mà mỗi hữu thể đều phải trải qua thì nỗi sợ hãi về cái chết sẽ trở thành nỗi ám ảnh, trước nhất là từ hữu thức sau đó là từ vô thức, làm cho cuộc sống con người trở nên tẻ nhạt và đáng sợ.
01/11/2020(Xem: 8996)
1/Đệ nhất đại nguyện: quốc vô ác đạo. Đại nguyện thứ nhất: Cõi Cực-lạc không có các đường ác. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy) 2/Đệ nhị đại nguyện: bất đọa ác đạo. Đại nguyện thứ hai: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc không đọa vào các đường ác. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy 3/ Đệ tam đại nguyện: thân chơn kim sắc. Đại nguyện thứ ba: Thân của chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có sắc vàng. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy 4/ Đệ tứ đại nguyện: hình sắc tương đồng. Đại nguyện thứ tư: Hình sắc của chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều bình đẳng, không đẹp xấu khác nhau. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy 5/Đệ ngũ đại nguyện: túc mạng trí thông. Đại nguyện thứ năm: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có túc mạng thông, biết rõ các kiếp quá khứ. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy)
09/09/2020(Xem: 4543)
Hỏi: Thưa Thầy, luân hồi thật sự được hiểu thế nào trong Phật Giáo, hay vấn đề này bị nhầm lẫn với thuyết tái sinh trong Bà La Môn Giáo và một số tín ngưỡng Tây Phương, vì từ Hán Việt “tái sinh” tiếng Pháp viết là "réincarnation” là sự lặp lại về đơn vị gốc, ví dụ: Người giàu nghèo sang hèn v.v… cứ thế trở lại nguyên gốc. Còn tiếng Phạn saṃsāra là luân hồi là lang thang, trôi nổi. Nếu dùng bật lửa đốt cháy cây nến, điều kiện tạo lửa từ bật lửa sẽ gồm đá đánh lửa, hộp nhựa đựng khí gas, ống thông nhau, ống dẫn ga, bánh xe tạo lực ma sát vào đá lửa, vô số phân tử hóa học trong khí gas, môi trường xung quanh v.v… Trong khi các duyên bắt lửa của ngọn nến chỉ có 2 yếu tố cơ bản gồm thân đèn làm bằng sáp và tim làm bằng vải… Vậy ngọn lửa từ bật lửa có quan hệ gì với ngọn lửa của cây nến? Như thế luân hồi không phải là sự tái sinh nguyên bản mà là tâm lang thang trôi lăn chìm nổi vì tham sân si, không biết tàm quý để rồi chúng sanh cứ mãi bị cái vòng xoay đó làm cho đau khổ?
08/06/2020(Xem: 5116)
Thần đồng 9 tuổi tốt nghiệp đại học, chuẩn bị học tiến sĩ
26/03/2020(Xem: 4261)
Con người được sanh ra từ đâu là một nghi vấn vô cùng nan giải cho tất cả mọi giới và mãi cho đến thế kỷ 21 này vấn đề con người vẫn còn phức tạp chưa được ai minh chứng cụ thể. Có nhiều học thuyết đã lý giải vấn đề con người nhưng rất tiếc họ chưa có kinh nghiệm thông suốt chiều sâu cho nên vẫn còn nằm trong hý luận của lý luận mà chưa khả dĩ đem lại được một chút thỏa mãn nào của nghi vấn; còn đối với các Tôn Giáo phần đông quan niệm quá cổ điển thiển cận mê tín mà ở đây chúng ta không cần phải bàn đến.
06/03/2020(Xem: 4489)
Nhà khoa học cao tuổi nhất Úc, Giáo sư David Goodall, đã qua đời bình yên ở Thụy Sĩ theo đúng nguyện vọng của ông. Vị Giáo sư 104 tuổi là người Úc đầu tiên thực hiện việc chết tự nguyện bằng cách chích thuốc. Ông đã có một cuộc sống viên mãn, và cách ông chọn cái chết cho mình đã một lần nữa đưa câu chuyện đầy tranh cãi - chết tự nguyện - trở lại các mặt báo trên toàn thế giới.
04/03/2020(Xem: 31009)
Lễ Dâng Y Kathina & Cúng Dường Phẩm Vật chư Tăng tại Bồ Đề Đạo Tràng India, Nhân Lễ tưởng niệm ngày đức Phật (thái tử Siddartha Gautam) xuất gia, được sự trợ duyên của chư Phật tử và quí thiện hữu hảo tâm, chúng tôi đã thực hiện một buổi Dâng Y Kathina và cúng dường phẩm vật đến chư Tăng thuộc 3 truyền thống Mật tông Kim cương thừa (金剛乘, vajrayāna), truyền thống chư Tăng Nguyên Thủy các nước Theravada và chư Tăng Ni truyền thống Đại Thừa (Mahayana) tại Bồ Đề Đạo Tràng.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,502,328