Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bình giảng kinh Mâu Ni

30/10/201015:02(Xem: 2107)
Bình giảng kinh Mâu Ni

BÌNH GIẢNGKINH MÂU NI
Thích Nhất Hạnh(Chân Giác Lưu phiên tả)

KinhMâu Ni là một Kinh trong Kinh Tập (Sutta-Nipāta), được dịch ra từ tiếng Pali.Chúng ta có một bản dịch bằng tiếng Anh của thầy Saddhatissa, hội trưởng củaHội Maha Bồ Đề bên Anh. Bản dịch ra văn trường hàng được một nhà xuất bản ởLuân Đôn ấn hành, đó là nhà xuất bản Curng on Press. Tôi cũng đã dịch kinh nàyra tiếng Việt, bản dịch này có tham cứu nhiều bản dịch khác căn cứ trên nguyênvăn tiếng Pali. Khi học Kinh chúng ta tìm cách dịch theo tinh thần của bảntiếng Việt. Trong Kinh Tập có một số Kinh nói về đề tài Mâu Ni rất hay. Sau khihọc Kinh Mâu Ni, chúng ta sẽ học một số Kinh khác trong Kinh Tập. Chúng ta cóthể so sánh nguyên bản bằng tiếng Pali với những bản dịch chúng ta có bằng chữHán.

Có một nhà họcgiả ở thế kỷ trước tên là Hoernle đã tìm ra được một ít tài liệu thuộc về KinhTập bằng tiếng Sanskrit. Ông đã tìm ra được tài liệu đó ở miền Đông Turkistan. Sau này chúng ta có thể so sánh chút ít tàiliệu còn sót lại từ bản tiếng Phạn với bản tiếng Pali. Chúng ta cũng có một ítKinh dịch ra chữ Hán và chữ Tây Tạng, chúng ta có thể so sánh, nghiên cứu. Đâylà một việc làm rất thích thú.

Trong Mùa Đôngnày, nếu có dịp chúng ta sẽ được học một số Kinh bằng chữ Hán tương đương vớicác kinh trong Kinh Tập. Các Kinh này đã được cư sĩ Chi Khiêm dịch, có thể làđược dịch từ bản tiếng Phạn của Sutta-Nipāta tại vì bây giờ chúng ta biết chắcchắn là đã có một bản bằng tiếng Phạn nữa chứ không phải chỉ có bản bằng tiếngPali.

Trong Đại ChánhTân Tu có một kinh gọi là Kinh Nghĩa Túc. Các Kinh trong Kinh Nghĩa Túc tươngđương với phẩm thứ tư của Kinh Tập Tức Nghĩa Phẩm (Arthaka-vagga). Khi so sánhhai bên chúng ta thấy có nhiều điểm tương đồng rất hay. Chúng ta cũng sẽ họcnhững Kinh thuộc đề tài mâu ni và so sánh bản chữ Hán với bản tiếng Pali.

Mâu ni khôngphải là tên của một người. Mâu ni có nghĩa là một vị xuất sĩ tĩnh lặng. Hồi cònnhỏ tuổi, tôi đã được học rằng chữ Thích Ca (Sakya) có nghĩa là năng nhân, làngười có khả năng thương yêu. Chữ mâu ni (muni) có nghĩa là tĩnh mặc, người yênlặng. Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là: một vị xuất sĩ tĩnh lặng tên Sakya. Chúng tađọc: Namo Sakya Muneya Buddhaya.

Nghiên cứu vềvăn học Ấn Độ, chúng ta thấy chữ muni lần đầu tiên xuất hiện trong kinh Vệ Đàhậu kỳ (trong thời kỳ sau của kinh Vệ Đà chúng ta đã thấy có chữ muni). Muni cónghĩa là một bậc tiên nhân, một bậc thánh nhân, một bậc hiền giả sống một mìnhtrong rừng. Trong kinh Vệ Đà chữ muni tương đương với chữ rishi. Một bậc thánhnhân lớn, một nhà hiền giả lớn được gọi là maha-rishi hay maha-muni. Đến thờiđại Áo Nghĩa Thư (Upanishad) thì chữ muni cũng có xuất hiện. Theo truyền thốngẤn Độ, đời sống con người có thể chia ra làm bốn giai đoạn:

1- giai đoạn ấuthơ: đi học, sống với cha mẹ.
2- giai đoạn thứ hai:lập gia đình, sinh con cái, làm ăn kiếm sống.
3- giai đoạn thứba: rút về tu tập.
4- giai đoạn thứtư: đi vào rừng sống như một du sĩ lang thang không cần nhà cửa.

Những ngườiphạm chí (brahmanas), sau khi sống cuộc đời thế gian thì rút lui vào rừng. Cónhững người tu tập rất giỏi và trở thành những đạo sĩ, những bậc hiền giả gọilà phạm chí hay mâu ni. Trong truyền thống Bà La Môn giáo cũng có chữ mâu ni đểchỉ những người thành công trong giai đoạn thứ tư của đời sống, từ bỏ cuộc sốnggia đình, sống một mình trong rừng để tìm đạo và đắc đạo.

Sang bên đạoBụt chữ mâu ni được sử dụng lại và nó có nghĩa là một người xuất gia thànhcông, một người biết sống một mình, một người đã dứt khoát không còn vướng bậnvào cuộc đời. Người đó có khuynh hướng sống trong rừng, không có một chỗ ở nhấtđịnh và có rất nhiều tự do.

Khi Đức thế Tônthành đạo, người ta xưng tán Ngài là một vị mâu ni, một bậc mâu ni đích thực.Chữ mâu ni ở đây có nghĩa là một người xuất sĩ tĩnh lặng. Khi dịch Kinh Mâu Nitôi đã dịch là “Kinh người xuất sĩ tĩnh lặng”. Tĩnh lặng là im lặng, không nóinhiều.

Trong thời ĐứcThế Tôn có nhiều học phái triết học, thường thì nguời ta nói có sáu học phái.Các học phái triết học đàm luận, thuyết giảng rất nhiều và tranh chấp với nhau cũngrất nhiều. Trong Kinh Mâu Ni sắp học, chúng ta được nhắc nhở, nếu là một vị mâuni đích thực thì nên buông bỏ những đàm luận, những lý thuyết và những hí luận.Một vị mâu ni không cần chủ trương một lý thuyết hay một ý thức hệ nào. Đối vớimộtvị mâu ni, giải thoát là quan trọng, không vướng bận, có hạnh phúc, có tựdo, vượt thoát được thời gian và không gian và đi vào một thế giới gọi là kiếpngoại. Kiếp ngoại là thế giới không có thời gian, có nghĩa là sống được trongbản môn. Đức Thích Ca khi thành đạo đã sống một đời sống như vậy, người ta gọiNgài là một bậc mâu ni lớn, Maha-muni hay Đại mâu ni.
Quí vị đã từng họcDuy Thức Tam Thập Tụng của ngài Thế Thân (Vasubandhu), trong đó có bài tụng thứ30:

Thử tức vô lậugiới 此即無漏界
Bất tư nghị, thiệnthường 不思議善常
An lạc, giải thoátthân 安樂解脫身
Đại mâu ni danhpháp 大牟尼名法

Trong bài nàychữ Đại mâu ni là chỉ Đức Thế Tôn. Đó là giáo pháp vang lừng của Đức Đại mâu nicủa chúng ta. Vô lậu giới là đạt tới chỗ không còn trở lại trong cuộc đời nữa.Bất tư nghị là không thể diễn tả, đàm luận hay khái niệm được. Bất khả tư nghịlà không thể nói năng, suy nghĩ hay đàm luận được. Thiện là kusala, an lạc làsukha, giải thoát thân là vimutti-kaya. Đó là giáo pháp của Đức Đại mâu ni. Đếnthế kỷ thứ năm người ta vẫn còn tiếp tục xưng tán Đức Thế Tôn là một vị mâu nilớn, một ông thầy tu không lý thuyết. Vì vậy chữ Dharma discussion không haybằng chữ Dharma sharing, chữ discussion có vẻ đàm luận quá.

Sutta-Nipāta thuộcvề bộ kinh cổ nhất trong các kinh và được giữ lại dưới hình thức thi kệ (verse)vì thi kệ có thể dễ dàng học thuộc và truyền tụng từ thế hệ này sang thế hệ khác,điều mà văn xuôi khó làm hơn. Vì vậy những Kinh cổ nhất là những Kinh truyềntụng được giữ lại dưới hình thức thi kệ. Sau này, những kinh viết bằng văntrường hàng là do người ta căn cứ vào những thi kệ để làm ra trở lại thành thểvăn xuôi. Trong Kinh, nhất là trong Kinh Đại Thừa, thỉnh thoảng chúng ta thấycó câu: “Nói tới đây thì Đức Thế Tôn vì muốn tóm tắt lại, nên nói bài kệ rằng,…”.Bài văn trường hàng được tóm tắt bằng bài kệ trùng tụng, nhưng sự thật thìngược lại, trước hết có bài kệ tụng và từ bài kệ tụng người ta làm lại thànhvăn xuôi.

Các nhà khảocứu đều công nhận văn thể của Sutta-Nipāta thuộc về văn thể cổ nhất, như vậychứng tỏ rằng Bụt dạy Kinh này vào những năm đầu sau khi giác ngộ. Lúc đó chưa cótu viện Kỳ Viên hay tu viện Trúc Lâm. Trong những năm đầu Đức Thế Tôn là một dusĩ lang thang. Ngài ở chỗ này vài hôm, ở chỗ kia vài tháng và các đệ tử củaNgài cũng vậy. Nhiều năm sau đó, vua Bimbisara cúng dường vườn tre cho Ngài làmtu viện đầu tiên và sau đó vài năm thì ông Cấp Cô Độc cúng dường tu viện KỳThọ.

Giai đoạn đầucủa Đức Phật là giai đoạn du sĩ tức là giai đoạn của những vị xuất sĩ du hành(wandering ascetics). Giai đoạn thứ hai là giai đoạn sống trong tu viện, tức lànhững vị xuất sĩ đồng trú trong tu viện. Đến giai đoạn thứ ba thì đạo Bụt trởthành một tôn giáo. Giai đoạn thứ tư là giai đoạn truyền kỳ. Đạo Bụt mà ngườita theo rất nhiều bây giờ là đạo Bụt truyền kỳ, mà huyền bí nhất là đạo Bụt TâyTạng. Đức Bụt của đạo Bụt Tây Tạng rất khác với Đức Bụt của những năm đầu langthang.

Khi viết cuốn“Đường xưa mây trắng” tôi có chủ ý rõ ràng: vượt thoát đạo Bụt thần bí và đitìm lại Đức Bụt như một con người. Chúng ta có thể vượt thoát khỏi Đức Bụt củahuyền thoại, và cũng vượt thoát luôn cả Đức Bụt của tín ngưỡng tôn giáođể đi tìm lại Đức Bụt của thời đại ban đầu khi Ngài mới thành đạo.

Khi đi vào thếgiới của Kinh Sutta-Nipāta chúng ta đã tìm thấy được khung cảnh đó và được thởmột không khí rất trong lành, mát mẻ. Chúng ta tiếp xúc được với Bụt như một conngười chứ không phải như một thần linh. Sutta-Nipāta là một cuốn Kinh rất quí,rất cổ xưa. Chúng ta đã trì tụng vài ba Kinh trong đó như: Kinh Thương Yêu, hayKinh Sự Thật Đích Thực. Những Kinh này hiện giờ đang có mặt trong cuốn NhậtTụng Thiền Môn bản văn quốc ngữ của Làng Mai, và thuộc về loại Kinh cổ nhất.Kinh Mâu Ni chúng ta học ở đây cũng thuộc về loại Kinh cổ nhất. TrongSutta-Nipāta có nhiều Kinh lấy đề tài Mâu Ni. Sau khi học Kinh Mâu Ni này chúngta sẽ học một số Kinh khác và chúng ta sẽ có cơ hội so sánh những Kinh của vănhệ Pali với những Kinh mình còn có được trong Hán Tạng.

Thầy Tăng Hộitừ Việt Namsang Đông Ngô trong thượng bán thế kỷ thứ ba và đã gặp được cư sĩ Chi Khiêm. Cưsĩ là người đã dịch được một phần của Sutta-Nipāta từ văn hệ Sanskrit hơặc Palira chữ Hán. Do đó chúng ta biết, thế nào thầy Tăng Hội cũng có mời cư sĩ ChiKhiêm về chùa Kiến Sơ. Chỉ tiếc là sử sách không ghi chép lại sự liên hệ và sựlàm việc chung của hai vị. Sử ghi lại, lúc thầy Tăng Hội qua Đông Ngô thì ở đóchưa có vị xuất gia nào, chỉ có một cư sĩ đang dịch Kinh tên Chi Khiêm. ChiKhiêm là thầy dạy học cho thái tử và thầy Tăng Hội cũng được vua Tôn Quyền ủnghộ lập ngôi chùa đầu tiên ở Đông Ngô. Vì thế hai người không thể không biếtnhau, hai người chắc chắn đã biết nhau và làm việc chung với nhau, có thể làtrong chùa Kiến Sơ. Có thể là thầy Tăng Hội đã mời cư sĩ Chi Khiêm tới chùaKiến Sơ để dịch kinh. Một trong những bằng cớ cho việc này là thầy Tăng Hội đãlấy một Kinh do cư sĩ Chi Khiêm dịch để đưa vào Lục Độ Tập Kinh của mình. TrongLục Độ Tập Kinh có rất nhiều Kinh, trong đó có một Kinh lấy từ bản dịch của ChiKhiêm, đó là Kinh Kính Diện Vương. Kinh này cũng có hai bản dịch cho chúng taso sánh, một bản bằng tiếng Pali và một bằng chữ Hán.

Một vị mâu niđích thực là một vị có đạo đức. Có thể có những người không thật sự là mâu ni,nhưng vẫn thích người ta gọi mình là mâu ni. Có những mâu ni thật và mâu nigiả, vì vậy Đức Thế Tôn bị người ta hỏi: “Gotama, Ngài nói cho chúng con biếtthế nào là một vị mâu ni đích thực đi?” Do đó Bụt đã nói Kinh này, Kinh Mâu Ni.Ta hãy đọc bài kệ đầu.

Bài kệ 1:

Còn ái dụcthì còn sợ hãi. Còn vướng vào đời sống thế tục thì ham muốn còn phát sinh. Xuấtgia để được sống thảnh thơi, buông bỏ được mọi ham muốn và sợ hãi, đó là cái thấy,cái làm của vị mâu ni, của người xuất sĩ.

Ở đây nói rấtrõ ràng, điều kiện đầu tiên của một vị mâu ni là không có liên hệ tình dục. Cóliên hệ tình dục thì không phải là một vị mâu ni tại vì tình dục đưa tới sự sợhãi. Sống cuộc đời của người cư sĩ thì không thể nào có những điều kiện nhưngười xuất gia. Còn sống trong đời thế tục thì những ham muốn về tình dục vẫn còncơ hội phát sinh. Khi tình dục phát sinh thì mình không có an lạc, hạnh phúc,lúc ấy chính mình sẽ phá tan an lạc hạnh phúc của chính mình và của người khác.Vì vậy điều kiện đầu tiên của một vị xuất sĩ, của một vị mâu ni là không liênhệ tình dục.

Trong năm giớicủa người tại gia, giới đầu là giới bất sát, giới không giết hại. Đến giới sadi và sa di ni vẫn còn lấy bất sát làm giới đầu. Nhưng khi trở thành một vị khấtsĩ thì giới đầu không phải là giới bất sát mà là giới bất dâm (không vướng vàotình dục). Đó là điều kiện đầu tiên của một người xuất sĩ. Đời sống phạm hạnhbắt đầu từ sự dứt khoát buông bỏ ái dục. Nếu người xuất gia giải thoát được,sống được đời sống phạm hạnh chính là nhờ điều kiện đầu tiên này, dứt khoátbuông bỏ ái dục. Trên thực tế, không chỉ người xuất gia phải thực tập mà ngườitại gia cũng phải thực tập nhiều lắm. Người xuất gia thực tập điều này dễ dànghơn người tại gia vì môi trường của người xuất gia vốn sẵn có sự thanh tịnh nêncó thể vứt bỏ ái dục dễ dàng còn người tại gia vướng vào hoàn cảnh vứt bỏ áidục rất khó vì những hoàn cảnh khêu gợi xung quanh tạo ra cho mình những dụctưởng. Nhất là bây giờ chúng ta sống trong một thế giới mà người ta luôn luôntìm cách khơi dậy sự ham muốn tình dục trong con người.

Trong “Sám phápđịa xúc” có đoạn chúng ta phát lộ với Đức Thế Tôn về vấn đề tình dục:

Kính bạch ĐứcThế Tôn, trong quá khứ con đã không biết cách xử lý năng lượng tình dụccủa con, cho nên con đã tạo ra nhiều lầm lỡ.
Đây không phải chỉlà sự thực tập của người xuất gia mà còn là sự thực tập của người tại gia bởivì quý vị có thể đã từng khổ đau và từng gánh chịu những đổ vỡ rất lớn do tìnhdục gây ra.

Con biết conngười cũng là một loại động vật thì năng lượng tình dục có mặt trong con là mộtđiều tự nhiên. Nhưng tại vì trong quá khứ con chưa biết sống, chưa biết thựctập nên con đã để hạt giống tình dục được tưới tẩm quá nhiều cho đến nỗi có lúccon đã lao đao và mất hết bình an vì sự phát hiện của năng lượng đó. Con đã đọcnhững sách báo, xem những phim ảnh có nhiều hình ảnh khêu gợi và kích thích dụctình.

Thực sự bâygiờ, hạt giống tình dục trong người trẻ tuổi cũng như người lớn được tưới tẩmrất nhiều mỗi ngày, không những bằng sách báo, truyền hình, mà còn bằnginternet, bằng quảng cáo. Khi hạt giống tình dục được tưới tẩm thì mình mất anlạc.

Chúng ta thấyrất rõ, trong sự thực tập này thì người xuất gia dễ dàng hơn nhiều so với ngườitại gia vì người xuất gia đã dứt bỏ hoàn cảnh bên ngoài để được che chở bởi mộtmôi trường mà trong ấy hạt giống tình dục không bị tưới tẩm nhiều như ở ngoàiđời.

Con biết trênthị trường hiện nay người ta làm giàu bằng cách bán dâm rất nhiều, không phảichỉ sử dụng thân xác mà còn bằng âm thanh, hình ảnh và dụng cụ. Hình ảnh khêugợi dục tình đâu đâu cũng có, trên sách báo, trên màn ảnh vô tuyến, nơi rạpchiếu bóng, trên các hình quảng cáo, trong những cuốn băng, những đĩa hình vàtrong mạng lưới internet. Tuổi trẻ bây giờ đang là nạn nhân của thị trường đó. Hạtgiống tình dục được tưới tẩm hàng ngày nhiều lần và thanh niên, thiếu nữ từmười ba tuổi trở đi sa vào lưới cám dỗ của dục tình, số lượng đó đã vượt quá mứcbáo động. Con biết đây là một thảm họa cho người trẻ tuổi, biết tình dục màchưa biết thương yêu.

Tuổi trẻ chưabiết thương yêu là gì, chỉ biết tình dục (sex) gọi là empty sex (tình dục màkhông có tình yêu). Rất là tội nghiệp cho tuổi trẻ! Khi bị empty sex kéo đi rồithì làm sao biết được thương yêu đích thực.

Những thiếuniên, thiếu nữ này, khi lớn lên sẽ không có cơ hội thấy được thế nào là tìnhyên đích thực. Sự thực tập thủ dâm đưa tới những kết quả tương tự, chỉ làm cạn khônguồn suối thân tâm mà không cho con người cơ hội biết thế nào là thương yêu.

Bạch Đức ThếTôn, con đã được dạy về sự thực thân tâm nhất như, và con biết rằng những gìxảy ra cho thân mình cũng là xảy ra cho tâm mình, cho nên con đã phát nguyệngiữ gìn thân tâm conn, không để cho những hạt giống tình dục được tưới tẩm vàkhông để bị lôi kéo vào thói quen của sự thủ dâm.

Con nguyện từnay trở đi không đọc sách báo và xem phim ảnh kích động dâm tính, không nghe vàkhông nói những câu chuyện về dâm dục, không sử dụng điện thoại và máy vi tínhđể tiếp xúc với những âm thanh và hình ảnh kích động dâm tính. Con cũng nguyệngóp sức để vận động thắp sáng ý thức về những tai hại của sự kích động dâmtính, nguyện làm được tất cả những gì con có thể làm để tạo ra môi trường sinhsống lành mạnh cho các giới trong xã hội, nhất là cho các thế hệ trẻ.

Bạch Đức ThếTôn, từ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, chúng con đã vì vô minh che lấp tâm trímà không thấy được rằng năng lượng ái dục nếu không được nhận diện và bảo hộ cóthể gây ra tàn hại trong thân tâm, trong gia đình và xã hội chúng con. Vì vôminh, vì không biết phép thực tập bảo hộ thân tâm, vì không tạo được môi trườngvăn hóa và xã hội lành mạnh, chúng con đã phạm giới tà dâm, đã hiếp đáp, đã lạmdụng tình dục trẻ em và ngay con cháu của chúng con trong vấn đề tình dục, đãgây đổ vỡ và khổ đau kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Chúng con ýthức rằng nếu chúng con không thực tập chánh niệm vững vàng trong lãnh vực tiếpthọ, tiếp xúc thì hạt giống tình dục trong chúng con sẽ bị tưới tẩm hàng ngàyvà mỗi khi hạt giống đó được tưới tẩm, khi năng lượng tà dục phát khởi thì thânvà tâm chúng con không còn được an ổn và chúng con sẽ bị năng lượng ấy thúc đẩyđi tìm sự thỏa mãn tà dục.

Tại sao SIDA(HIV) đang làm tiêu hao hàng triệu sinh mạng mỗi năm? Có hàng triệu người đồngtính và khác tính chết vì sự truyền nhiễm. Bất cứ ai trong chúng con nếu khôngthực tập chánh niệm cũng có thể rơi vào trong hiểm họa ấy ngay trong chốc lát.Lưỡi hái của thần chết SIDA làm rơi rụng hàng trăm ngàn sinh mạng con ngườitừng giờ từng phút, còn khốc hại hơn những trái bom nguyên tử. Thế giới củachúng con đang bị ngọn lửa của tà dục làm cho bốc cháy.

Xin Đức Thế Tônvà Đức Bồ Tát Quan Âm xót thương rải xuống trên hành tinh chúng con những giọtnước thanh lương. Chúng con biết chỉ có tình thương và ý thức trách nhiệm mới cứuđược thế giới chúng con ra khỏi địa ngục tạo ra bởi sự tưới tẩm hạt giống tìnhdục.

Chúng ta thấyrõ ràng sự khổ đau, tan nát của gia đình, xã hội và sự tiêu hủy sinh mạng củahàng triệu người là do hạt giống tình dục. Lời Kinh nói rất rõ: Ái dục tạo rasự sợ hãi. Còn vướng vào cuộc sống thế tục thì những hạt giống của ái dục cònphát sinh. Có những người quyết tâm muốn rời bỏ, muốn ra khỏi môi trường này.Họ muốn trở thành một vị xuất gia, một người xuất sĩ, một vị mâu ni để khỏi đaukhổ vì chuyện đó, họ đã chọn lựa.

Bài kệ 2

Hạt giống đãsinh nay đã được đoạn diệt, không còn gieo trồng, không để cho sinh khởi và lớnlên trở lại. Đó là hạnh người xuất sĩ. Trong đời sống hàng ngày đừng để cho hạtgiống đó được tưới tẩm, làm thế nào để tiêu diệt hạt giống đó. Một kẻ như thếđược gọi là một mâu ni. Làm như thế thì bậc hiền nhân lớn kia đã đã đạt tớiđược bình an thật sự.

Mình đã quyếttâm đoạn diệt hạt giống ái dục rồi thì không còn gieo trồng để nó sinh khởi vàlớn lên trở lại. Tất cả chúng ta đều có hạt giống đó. Là người xuất gia chúng tađã quyết tâm dứt bỏ nó. Chúng ta đã dứt khoát đoạn trừ rồi thì tại sao phải đểcho hạt giống đó được tưới tẩm trở lại? Chúng ta đọc lại:. Trong đời sốnghàng ngày đừng để cho hạt giống đó được tưới tẩm, làm thế nào để tiêu diệt hạtgiống đó. Một kẻ như thế được gọi là một mâu ni. Làm như thế thì bậc hiền nhânlớn kia đã đạt tới bình an thật sự. Trước hết mình đạt tới sự bình yên,sự an lành. Giữ giới là được che chở. Vì vậy khi tụng giới xuất sĩ chúng tabiết giới đầu của khất sĩ nam và khất sĩ nữ là không dâm dục. Hễ có sự dâm dụcthì không còn là một vị khất sĩ, một vị mâu ni nữa, dứt khoát là như vậy. Đó làgiới đầu tiên, chúng ta có phạm hạnh hay không là do giới đầu.

Bài kệ 3

Đã xem xétđất đai, đã quyết tâm vứt bỏ hạt giống xấu và không còn cung cấp chất ướt chohạt giống ấy mọc lên. Vị mâu ni khi buông bỏ được hí luận và đạt tới vô sinh thìkhông ai có thể tư lường được về người ấy nữa.

Đã xem xét đấtđai: đất đai là tâm của mình (having looked deeply into the ground). Đã quyếttâm vứt bỏ hạt giống xấu và không còn cung cấp chất uớt cho hạt giống ấy mọclên: Cung cấp chất ướt là tưới, nếu không có chất ướt thì làm sao hạt giống ấymọc lên? Phải để cho hạt giống đó khô, đừng đem nước mà tưới. Những dụng cụ nhưđiện thoại, laptop, nếu không khéo thì chính là chất ướt tưới cho hạt giống mọclên rất mau. Những uy nghi giúp chúng ta cương quyết không cung cấp chất ướtcho hạt giống nẩy mầm sinh trở lại. Trong chùa chúng ta thực tập uy nghi, giới luậtlà chắc ăn nhất. Chúng ta cùng thực tập chung, người nào cũng thực tập như vậy,nhất định không sử dụng những bình tưới đó tại vì hễ tưới là mất bình an, làkhông còn được bảo hộ. Vị mâu ni khi đã buông bỏ được hí luận và đạt tới vôsinh thì không ai còn có thể tư lường về người ấy nữa: Chữ hí luận làphilosophical speculations. Đây là một dấu hiệu cho ta biết đó là một vị mâuni: một người không còn tranh luận về chủ thuyết, về ý thức hệ, về triết học.Vị mâu ni phải im lặng, phải làm việc, phải nhổ hết tất cả sự ham muốn và vôminh. Đó là việc làm của một vị mâu ni chứ không phải là việc học hỏi và đàmluận về triết học.

Chữ học trongđạo Phật có nghĩa là hành (siksa). Những giới điều trong giới bản được gọi lànhững học pháp. Học pháp là một phép thực tập, như sáu học pháp của Thức Xoa MaNa là để thực tập chứ không phải để học hỏi, đàm luận. Đó là ý nghĩa của chữmâu ni: im lặng và thực tập, không tranh luận. Trong thời của Đức Thế Tôn sáuphái triết học tranh luận rất nhiều, có bốn phái theo duy vật chủ nghĩa và haiphái theo duy tâm chủ nghĩa. Họ tranh luận nhau để có được nhiều người theo.Đây là thái độ và lập trường của Đức Thế Tôn: Không vướng vào tranh luận, imlặng. Chữ mâu ni có nghĩa là im lặng. Buông bỏ được hí luận và đạt tới vô sinhrồi thì không ai có thể tư lường được về người ấy nữa: Tư lường về người ấytrong nguyên văn là chữ samkha. Samkhati là tính toán, sử dụng những con số, sửdụng sự suy nghĩ và lý luận, nhận diện, gọi tên. Khi một vị mâu ni buông bỏđược hết tất cả, đạt tới sự vô sinh thì chúng ta không thể liệt người đó vàođược một trong những phạm trù của trí óc. Chúng ta không thể nói được về ngườiđó vì người đó đã thoát ra khỏi sự suy nghĩ, đàm luận và những ý niệm. Chúng tanói một vị mâu ni là một nhà triết học không đúng mà nói là một nhà đạo họccũng không đúng. Chúng ta nói một vị mâu ni là thánh không đúng mà nói là phàmcũng không đúng. Không có một ý niệm nào, một lời nói nào có thể diễn tả đượcmột vị mâu ni. Một vị mâu ni không thể được nắm bắt bằng ý niệm hay bằng lýthuyết.

Trong tiếngPhạn có chữ anupalabhya, có nghĩa là bất khả đắc, không thể nắm bắt được. Chúngta không thể đặt người đó vào trong một phạm trù nào của tư tưởng. Chúng takhông thể gọi người đó là nhà triết học hay nhà tôn giáo. Không có danh từ nàocó thể dùng để gọi một vị mâu ni.

Chúng ta khôngthể tư lường được về một vị mâu ni, tại vì một vị mâu ni đã bỏ hết mọi hí luận,lặng lẽ, không theo một chủ thuyết nào. Đó gọi là bất khả tư nghị, không thểđặt người đó vào một phạm trù của tư tưởng. Chúng ta cũng không thể gọi ngườiđó là một nhà triết học, một nhà đạo học, một nhà khoa học hay một nhà tôn giáo.Chúng ta không thể gọi người đó bằng bất cứ một tên nào, không thể có khái niệmvề người đó. Người đó đã thoát ra ngoài tất cả mọi khái niệm, đó là một vị mâuni.

Bài kệ 4

Kẻ ấy đãthấy biết được mọi nẻo sinh thú mà không còn muốn đi về một nẻo nào trong cácnẻo ấy. Kẻ đã vứt bỏ được tham và si.Kẻ ấy không còn bận tâm lao nhọc theo đuổibất cứ một cái gì nữa cả vì kẻ ấy đã qua được bờ bên kia.

Chữ sinh thú 生 趣 có nghĩa là nẻo về, nẻo về loài này hay loàikhác gọi là tứ sinh cửu hữu. Thú 趣 là nẻo về như ngũ thúlục đạo tức là thiên, nhân, atula, địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Có loài haichân và loài bốn chân. Người đó biết tất cả các nẻo về nhưng không ham muốn đivề một nẻo nào trong những nẻo đó.

Đã vứt bỏ đượctham và ái, kẻ ấy không còn bận tâm lao nhọc theo đuổi một cái gì nữa cả: Tưtưởng này, tuệ giác này sau được gọi là vô đắc hay vô tác (aprātitva), khôngtheo đuổi gì nữa cả, không có mục đích (aimless), không còn muốn gì nữa hết. Kểấy không còn bận tâm lao nhọc theo đuổi bất cứ một cái gì nữa cả vì kẻ ấy đãqua được bờ bên kia: Bờ bên kia là paramita. Trong bài kệ thứ tư chúng ta thấyhạt giống của tư tưởng vô đắc, tư tưởng paramita (đáo bỉ ngạn).

Bài kệ 5

Kẻ ấy đãvượt thoát tất cả, đã liễu tri tất cả, đã có tuệ giác, không còn vướng bận vàobất cứ gì, đã buông bỏ mọi tham cầu, đạt tới thảnh thơi nhờ diệt trừ tham dục.Kẻ ấy được các bậc hiền nhân gọi là một mâu ni.
Bài kệ này địnhnghĩa thế nào là một mâu ni.

Bài kệ 6

Kẻ ấy có tuệlực, kẻ ấy được sinh ra từ giới và hành, chuộng tĩnh lặng, ưa thiền duyệt, ngàyđêm chánh niệm, không còn bị sai sử bởi tập khí, kẻ ấy được các bậc hiền giảgọi là một mâu ni.

Tuệ lực là sứcmạnh của trí tuệ, kẻ ấy có sức mạnh do trí tuệ đem tới. Tuệ giác là một sứcmạnh. Vị mâu ni là một người có sức mạnh do tuệ giác đem lại. Đạo Phật có nóitới ngũ lực: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Tín là niềm tin, tấn là sự chuyên cần,niệm là chánh niệm, định là sự tập trung và Tuệ là tuệ giác. Tuệ giác là mộtnguồn năng lượng, là một sức mạnh và một vị mâu ni có nguồn sức mạnh đó.

Kẻ ấy được sinhra từ giới và hành: Giới được làm bằng chánh niệm, luôn luôn thức tỉnh, tinhcần. Hành là sự thực tập. Một vị mâu ni là một người được sinh ra từ giới luậtvà sự thực tập. Chúng ta thực tập giới luật bằng sự thực tập chánh niệm. Sinhmạng tâm linh của mình có được là nhờ giới và hành.

Kẻ ấy sinh ratừ giới và hành, chuộng tĩnh lặng, ưa thiền duyệt: Đó là hai sở thích của ngườiấy. Người đó không thích ồn ào, ưa cái vui của thiền định. Ngày đêm chánh niệm,không còn bị sai sử bởi tập khí, kẻ ấy được các bậc hiền giả gọi là một bậc mâuni.

Bài kệ 7

Kẻ ấy bướcđi một mình, tinh cần, tỉnh thức, không còn bị khen chê động tới, như một consư tử không còn run sợ trước âm thanh của bất cứ một loài thú nào, như một làngió không bị vướng vào bất cứ một chiếc lưới nào, trong sáng như một dòngnước, tinh khiết như một đóa sen, đưa lối cho người mà không bị ai lôi kéo, kẻấy được các bậc hiền giả gọi là một bậc mâu ni.

Đi một mình làmột điều kiện của một vị mâu ni. Dù cho có đệ nhị thân người ấy cũng bước đimột mình, là người biết sống một mình. Không đàn đúm, không cần phải có đámđông mới có hạnh phúc, người ấy luôn luôn có chánh niệm và độc cư. Độc cư khôngcó nghĩa là sống một mình, độc cư có nghĩa là không đánh mất mình, luôn luôn antrú trong giây phút hiện tại. Điều này được diễn bày rõ ràng trong “Kinh ngườibiết sống một mình”. Sống một mình không hẳn là phải xa lánh con người mà làkhông đánh mất mình, không có tham dục, tham dục là một thân thứ hai. Hình ảnhngười bước đi một mình là hình ảnh của một vị mâu ni (solitary life).

Tinh cần, tỉnhthức, không còn bị khen chê động tới: Được khen không động tâm mà bị chê ngườiấy cũng không động tâm. Như một con sư tử không còn run sợ trước âm thanh của bấtcứ một loài thú nào: Khi con sư tử gầm lên thì tất cả mọi loài thú đều sợ.Nhưng khi tất cả loài thú kia la lên thì không một tiếng kêu nào làm cho sư tửsợ. Đây là một hình ảnh rất đẹp!

Như một làn giókhông bị vướng vào bất cứ một chiếc lưới nào: Chiếc lưới kia có thể bắt chim,bắt thú, nhưng người xuất sĩ như một làn gió, không một màn lưới nào có thể bắtlại được. Hình ảnh này cũng rất đẹp, rõ ràng đúng là cách diễn tả của một thisĩ.

Rung MaiTrongsáng như một dòng nước, tinh khiết như một đóa sen, đưa lối cho người mà khôngbị ai lôi kéo, kẻ ấy được các bậc hiền giả gọi là một bậc mâu ni: Đây cũng là nhữnghình ảnh rất đẹp! Hình ảnh một con sư tử không khiếp sợ trước bất cứ một loàithú nào, hình ảnh một làn gió không vướng vào bất cứ một chiếc lưới nào, hình ảnhmột dòng nước trong, một bông hoa sen, đó là những hình ảnh rất đẹp của một vịmâu ni đang bước đi một mình, ngồi một mình, không bị vướng bận.

Bài kệ 8

Vững như câytrụ trên bãi tắm, không bị ai xoay chuyển lung lạc, không còn đam mê, sáu cănthường tĩnh lặng, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một bậc mâu ni.

Sáu cănthường tĩnh lặng tại vì người đó có khả năng hộ trì sáu căn, luôn luôn có mặt,nhận diện được những gì mình thấy, mình nghe, mình xúc cảm mà không bị nhữngcái đó cuốn theo làm cho xôn xao. Người đó luôn luôn giữ được sự tĩnh lặng.

Bài kệ 9

Tâm vữngchãi, đoan chính như một con thoi, ghê sợ những hành động thấp hèn, biết phânbiệt rõ ràng đâu là tà, đâu là chính, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một vịmâu ni.

Bài kệ 10

Biết tiếtchế, không làm điều bất thiện, vị xuất sĩ, dù còn niên thiếu hay tuổi đã cao,biết sống tri túc, không bị ai thách thức và cám dỗ mà cũng không thách thức vàcám dỗ ai, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một vị mâu ni.

Bài kệ 11

Tiếp nhậnthức ăn cúng dường, dù trước dù sau, dù hậu dù bạc, với tâm niệm bình đẳng, annhiên, không khen chê, không kén chọn, kẻ ấy được các bậc thúc giả gọi là mộtvị mâu ni.

Trong nguyênvăn Kinh nói: Mình tới trước được cúng dường phần trên thì không khởi tâm vuithích, mình tới sau được phần giữa hay tới sau nữa được vét nồi thì mình cũngkhông giận, không buồn, tâm niệm hoàn toàn bình đẳng, không khen chê, không kénchọn. Đó gọi là một vị mâu ni.

Bài kệ 12

Sống phạmhạnh, tuy còn trẻ tuổi mà không bị vướng mắc vào ai, không tự cao, không phóngdật, một mình đi thảnh thơi, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một vị mâu ni.

Có thể có nhữngvị mâu ni 18 hay 20 tuổi, tuy còn trẻ mà không bị vướng mắc vào ai thì được gọilà một mâu ni. Hồi Đức Thế Tôn mới về thành Vương Xá lần đầu, những người tuổitrẻ đi xuất gia rất đông. Có người còn rất trẻ, khi nhìn hình ảnh của Đức ThếTôn, họ rất thích và cũng muốn làm như Ngài. Họ muốn trở thành một vị mâu nitrẻ tuổi. Xã hội Ấn Độ thời đó rất khao khát đời sống tâm linh đạo đức, đờisống tinh thần.

Bài kệ 13

Đã thấy đượcchân tướng của thế gian, đã đạt tới đệ nhất nghĩa đế, đã vượt dòng sinh tử, đạttới vô sinh, chấm dứt được mọi hệ lụy và phiền não, kẻ ấy được các bậc thức giảgọi là một vị mâu ni.

Đã thấy đượcchân tướng của thế gian: Thấy được sự thật ngoài đời, không còn ảo tưởng, thấyđược mặt mũi thật, chân tướng của cuộc đời.
Đã đạt tới đệ nhấtnghĩa đế: Kẻ ấy đã thấy được sự thật, không phải sự thật tương đối mà thấy đượcsự thật tuyệt đối là vô sinh bất diệt, vô khứ vô lai (paramārtha).

Bài kệ 14

Người cư sĩvướng vào vợ con, phải chăm sóc lo lắng, thiếu điều kiện bảo vệ sự sống cho mọiloài, khó sống tiết chế và thiểu dục; người xuất sĩ trái lại, nhờ cát ái từ thân,sống thảnh thơi, có cơ hội giúp đời và bảo vệ sinh mạng cho mọi loài, sống tiếtchế và thiểu dục một cách dễ dàng.

Cát ái là cắtđứt những dây ân ái. Đây là vấn đề hoàn cảnh, vấn đề tăng thân. Người cư sĩcũng có thể làm được nhưng khó hơn nhiều, người cư sĩ sống tiết chế và thiểudục rất khó tại vì mỗi ngày đều bị hoàn cảnh tưới tẩm hạt giống của ham muốn,hạt giống của dục. Các vị cư sĩ đa phần ăn mặn, không bảo hộ được sinh mạng củacác loài chúng sinh, không bảo hộ được trái đất nhiều bằng người xuất sĩ. Ngườixuất sĩ sống tiết chề và thiểu dục rất dễ dàng vì được ở trong một môi trường cósẵn sự thanh tịnh. Người xuất sĩ ăn chay trăm phần trăm, làm giảm thiểu đượckhổ đau của mọi loài và chuyển ngược quá trình hâm nóng địa cầu dễ hơn. Ngườicư sĩ bận rộn việc gia đình, phải lo kiếm sống, phải giết hại sinh mạng, khôngcó cơ hội sống tiết chế và tri túc. Đây là sự so sánh giữa hai nếp sống: mộtnếp sống tu tập rất dễ và một nếp sống tu tập rất khó. Ở Việt Nam người tathường nói: Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ và thứ ba tu chùa, tu ở chùadễ nhất. Cho nên đi xuất gia là khôn vì biết tìm con đường dễ mà đi.

Bài kệ 15

Con chimcông cổ xanh khi bay lên không gian không thể nào sánh được với con thiên nga.Người thế tục vướng bận trong cuộc đời không thể nào so sánh được với ngườixuất sĩ đang ngồi thiền định một mình trên núi.

Con chim côngcổ xanh, con chim công xoè đuôi ra rất đẹp, khi bay lên không gian thì khôngthể nào sánh với con thiên nga. Con thiên nga bay rất mau. Người thế tục vướngbận trong cuộc đời không thể nào so sánh với bậc xuất sĩ đang ngồi thiền địnhmột mình trên núi: Đây là một hình ảnh khác rất đẹp của Kinh Mâu Ni: Bạch vânthâm xứ tọa thiền tăng. Một thiền tăng đang ngồi một mình ở chỗ núi rừng có mâybao phủ. Trong Sutta-nipāta có một Kinh, trong đó có một cư sĩ hỏi: “Thế nào làđời sống lý tưởng của một người xuất gia và thế nào là đời sống lý tưởng của mộtngười tại gia?”. Chúng ta sẽ học Kinh này sau. Kinh Mâu Ni ở đây chỉ nói vềngười xuất gia nhưng Kinh trên có so sánh hai nếp sống, có rất nhiều điều Bụtgửi gắm và trông chờ ở người tại gia.

(Đây là bài pháp thoạiSư Ông giảng vào ngày 20.12.2009 trong mùa An Cư Kết Đông 2009 – 1010)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn