Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thảo Luận Về Khoa Học Thần Kinh

21/01/201306:39(Xem: 2232)
Thảo Luận Về Khoa Học Thần Kinh

Thảo Luận Về Khoa Học Thần Kinh 
Hội đàm Tâm thức và Đời sống ngày thứ ba
Phúc Cường trích dịch

Sự nhận thức quan trọng này gợi ý cho chúng ta rằng nếu có thể dạy cho trẻ em thực hành kỷ luật khi còn nhỏ, thì sẽ đem lại lợi ích cho bản thân các em khi trưởng thành và cho xã hội.

Drepung Lachi, Mundgod, Karnataka, Ấn Độ, ngày 19 tháng một năm 2013 - Trong khi các diễn giả đến từ Viện Tâm thức và Đời sống đang gặp gỡ với Đức Đạt Lai Lạt Ma trong ngôi bảo điện Lachi Drepung cùng với khoảng 900 chư tăng ni, học sinh trung học và khách quốc tế, thì khoảng 5000 chư tăng và thính chúng theo dõi ở phía dưới tại hội trường Drepung Loseling. Các bài thuyết trình chủ yếu bằng tiếng Anh và được dịch trực tiếp sang tiếng Tây Tạng cho những người nghe trên radio FM. Có rất nhiều màn hình chiếu cho những người không thể tham dự trực tiếp. Trên website trực tuyến một lượng thính chúng theo dõi ổn định khoảng hơn 1100 người.

Chủ đề tổng thể ngày thứ ba là Khoa học Thần kinh và buổi sáng thảo luận về Thay đổi Bộ não. Sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện diện, ban phước cho các Lạtma, các diễn giả và an tọa, Tiến sĩ Tâm lý và Tâm thần học Richie Davidson, người đã tham gia vào các hội đàm Tâm thức & Đời sống trong hơn hai mươi năm qua, đã bắt đầu bài thuyết trình:

"Có hai sự điều chỉnh về cảm xúc và sự chú tâm liên quan tới thực hành chính niệm. Tôi sẽ tập trung bàn về các mạch thần kinh có liên quan và ảnh hưởng của việc rèn luyện tinh thần ".

2013-01-19-Mundgod-N06

Đức Đạt Lai Lạt Ma và Richie Davidson trong ngày thứ ba Hội đàm Tâm thức và Đời sống lần thứ 26 tại Tự viện Drepung ở Mundgod, Ấn Độ, vào ngày 19 Tháng Một năm 2013. Photo / Tenzin Choejor / OHHDL

Ông trích dẫn quan điểm sâu sắc của William James về sự chú tâm. James giả định rằng khi chúng ta nhìn thấy một con hổ, thông tin sẽ đi lên vỏ não, đi xuống nội tạng, nhịp tim tăng nhanh, và nỗi sợ hãi sẽ phát sinh tiếp sau đó khi tín hiệu quay trở về não. Bộ não nhận ra rằng cơ thể bị kích động. Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt câu hỏi về một loạt các sự kiện này bởi ngài được biết rằng cùng với nỗi sợ hãi máu sẽ dồn xuống chân làm cho chúng ta bỏ chạy và cùng với sự sân giận máu sẽ dồn vào tay làm cho chúng ta kình chống lại. Tiến sĩ Richie Davidson giải thích rằng các thử nghiệm được thực hiện sau khi đã loại bỏ yếu tố bản năng, điều đó cho thấy rằng James đã đúng một phần. Sau ông, James Papez là người đầu tiên nhận biết các mạch trong não có liên quan đến cảm xúc.

Quan điểm cổ điển cho rằng chức năng cảm xúc được xử lý bên ngoài vỏ não. Các nghiên cứu về những người lính bị thương trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai cho thấy những ai bị hư thùy trán thì cảm xúc sẽ suy giảm. Điều này chứng tỏ rằng vỏ não, đặc biệt là vỏ não phía trước đóng một vai trò quan trọng đối với cảm xúc. Theo quan điểm hiện đại ngày nay thì khả năng điều chỉnh cảm xúc nằm trong vỏ não phía trước.

Tiến sĩ Richie nhắc về một thử nghiệm cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi ăn kẹo với điều kiện là chúng ăn ngay lập tức, nhưng nếu yêu cầu chúng có thể chờ năm phút thì sẽ được cho ba chiếc kẹo. Những trẻ có khả năng kiềm chế sẽ có xu hướng thành công khi trưởng thành.

"Sự nhận thức quan trọng này gợi ý cho chúng ta rằng nếu có thể dạy cho trẻ em thực hành kỷ luật khi còn nhỏ, thì sẽ đem lại lợi ích cho bản thân các em khi trưởng thành và cho xã hội."

Đức Đạt lai Lạt ma đặt câu hỏi rằng vậy thử nghiệm có thành công nếu, thay vì mang một phần thưởng, thì các em được cảnh báo rằng sẽ bị trừng phạt nếu không chờ đợi.

Tiến sĩ Richie cho rằng hệ thần kinh không mang tính chất tốt hay xấu, nó trung tính, nhưng khi tiếp xúc với những ảnh hưởng tích cực thì dẫn đến những thay đổi tích cực. Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt vấn đề mặc dù vậy nhưng hệ thần kinh có thể được giải thích trong phạm vi ảnh hưởng tiêu cực, nó có thể diễn ra tương tự.

“Có những tế bào thần kinh chỉ kích động trong các tình huống tích cực hay thậm chí với những con người tích cực, trong khi có những tế bào lại bị kích động trong các tình huống tiêu cực."

Ba loại chú tâm đã được đề cập tới: cảnh báo, định hướng và kiểm soát, chúng đã được nghiên cứu với một số trẻ em đang thực hành thiền định vipassana trong khoảng thời gian 3 tháng. Kết quả ghi nhận có những tiến bộ dẫn tới tâm thức tĩnh tại và mức độ chú tâm cao hơn.

Tiến sĩTania Singer, chuyên gia lĩnh vực Tâm lý và Thần kinh học, đã thuật lại công việc quản lý một chương trình rèn luyện nuôi dưỡng lòng từ bi. Cô nói rằng họ muốn xác định rõ từ bi là gì thông qua những thử nghiệm linh hoạt bởi các tiến trình khác nhau có kinh mạch tương ứng khác nhau trong bộ não.

"Nếu ngài đặt câu hỏi, làm sao để tôi biết được bạn cảm thấy như thế nào? Có nhiều con đường khác nhau: con đường cảm xúc dựa vào sự cảm thông và lòng từ bi, con đường lý trí thì thông qua tri ​​thức dựa trên sự suy luận."

Tình cảm bao gồm lòng nhân ái, sự biết ơn, sự quan tâm và nồng nhiệt, trong khi những phản ứng thuộc về lý trí, mà bà lập luận phù hợp hơn với quan kiến điểm Phật, bao gồm trí nhớ và sự hiểu biết, hay sự nhận thức rõ về những gì mình đang làm. Cô cũng đề cập đến việc xem xét kỹ cơ sở gen di truyền của các chủ thể và đặc điểm môi trường bên ngoài. Các bộ phận khác nhau của não có thể được xác định một cách rõ ràng thông qua những phản ứng khác nhau. Cô lập luận:

"Chúng ta có rất nhiều bằng chứng cho thấy việc quan sát các cảm xúc của người khác sẽ kích thích các vùng cảm xúc tương ứng trong chúng ta. Chúng tôi đã thử nghiệm Mathieu Ricard qua một máy nội soi và yêu cầu ông thể hiện các trạng thái tinh thần khác nhau, như các trạng thái của tâm từ bi, lòng từ không phân biệt, tâm từ, tâm bi. Tôi có thể nhìn thấy các dấu hiệu từ sự nội soi não khi ông đang nuôi dưỡng sự đồng cảm với những khổ đau của người khác, và chúng tôi đã nhận một tín hiệu khác khi ông thể hiện lòng bi mẫn."

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét:

"Nói chung, nếu bạn nhìn vào lòng bi mẫn, tình yêu thương, sẽ có một khát khao hay mong muốn các đức tính này mang lại hiệu quả nhiều hơn, vì vậy các đức tính đó cần phải được soi đường bởi trí tuệ, sự hiểu biết và các động cơ tích cực".

Vào khóa hội đàm buổi chiều, Tiến sĩ Richie Davidson đặt câu hỏi về trí thông minh lên đức Đạt Lai Lạt ma.

2013-01-19-Mundgod-N04

Đức Đạt Lai Lạt Ma chia sẻ với Tania Singer trong bài thuyết trình của bà tại Hội đàm Tâm thức và Đời sống lần thứ 26 tại tự viện Drepung ở Mundgod, Ấn Độ, ngày 19 tháng một năm 2013. Photo / Tenzin Choejor / OHHDL

"Theo nhận thức của khoa học thần kinh hiện tại, quan điểm chính thống về trí thông minh là phải được đo bằng một bài kiểm tra IQ, trong đó bao gồm 6 bộ kiểm tra bằng lời nói và 6 bộ phi ngôn ngữ. Quan điểm của ngài về trí thông minh, có khả năng xử trí được trong các tình huống khác nhau, mang một ý nghĩa phong phú hơn nhiều. Về mặt di truyền, khu vực phía trước não có ảnh hưởng lớn đến sự tương quan trung tính của trí thông minh."

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đặt câu hỏi quan điểm về trí thông minh qua rèn luyện. Tiến sĩ Richie trả lời có thể đào tạo một người trong phạm vi bộ nhớ, ghi nhớ những con số và trong phạm vi tương tự như vậy. Ông nói rằng vấn đề này liên quan tới trí nhớ hơn là trí thông minh, nhưng Giáo sư Christof chỉ ra rằng một trí nhớ nhanh nhạy cũng là một chỉ số được chấp nhận của trí thông minh. Tania cũng thêm rằng có những thuật ngữ khác nhau được sử dụng: trí thông minh liên quan đến khả năng ghi nhớ và trí thông minh liên quan đến khả năng phát sinh các ý tưởng và áp dụng chúng. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét rằng có những người hiểu nhanh, nhưng lại không giỏi tranh biện, những người khác có khả năng hiểu sâu về sự vật, có những người có trí thông minh mau lẹ hay sắc bén v.v…

Tiến sĩ Richie giải thích rằng nhiều rắc rối của con người đều liên quan đến 'sự dính mắc tình cảm'. Trong các thí nghiệm liên quan đến thiền định về lòng bi mẫn cho kết quả, những người bình thường không có kinh nghiệm thiền định trước đó đã vượt ra khỏi sự dính mắc tốt hơn. Ông kết luận rằng một số người phương Tây đã lo lắng nhiều hơn khi bắt đầu. Mặt khác những thành viên tham gia thực hành chính niệm giảm stress cho thấy không chỉ giảm tress, mà hạch hạnh, phần của bộ não liên quan đến kiểm soát thời gian và cường độ của cảm xúc tiêu cực, cũng nhỏ hơn.

Ông nhớ lại một dịp vào năm 1992 khi ông cùng với đồng nghiệp trong khoa học thần kinh chia sẻ với một nhóm chư tăng. Họ quyết định thuyết minh công việc đo các hoạt động của bộ não khi thực hành tâm từ bi như thế nào. Giáo sư Francisco Varela được đính các dây với các điện cực để làm thí nghiệm. Khi chư tăng quay lại, họ nhìn thấy ông ta và đã phá lên cười. Tiếng cười không phải do thấy Francisco trông rất khôi hài mà cười về ý tưởng có thể đo lường lòng từ bi bằng đính dây điện thí nghiệm lên đầu.

2013-01-19-Mundgod-N05
Geshe Dadul Namgyal đang thuyết trình tại hội đàm Tâm thức và Đời sống XXVI tại tự viện Drepung ở Mundgod, Ấn Độ, trên January19, 2013. Photo / Tenzin Choejor / OHHDL

Tiến sĩ Tania Singer đã thuyết trình về việc chúng ta sử dụng các quá trình nhận thức như thế nào khi nói đến tâm từ bi và hành vi. Tất cả các quá trình nhận thức có một sự tương ứng trong não liên quan đến không chỉ các tế bào thần kinh, mà cả các gen sản xuất ra các tế bào và kinh mạch. Cô đưa ra ba loại hệ thống động lực của con người, động lực thúc đẩy hành vi: một hệ thống tìm kiếm hoặc ngăn ngừa; hệ thống đe dọa và một hệ thống chăm sóc hay tình cảm. Cô đã thảo luận việc giải phóng các hoóc môn như oxytocin đã làm giảm kích hoạt hạch hạnh (amygdala) và nói rằng vấn đề là vậy việc tập trung vào lòng từ bi có thể có tác dụng tương tự hay không? Phát hiện của cô đến nay cho thấy việc rèn luyện tâm từ bi thực sự mang lại những thay đổi có thể quan sát được trong mạng lưới bộ não và làm tăng hạnh phúc.

Geshe Dadul Namgyal đã kết thúc một ngày với những thuyết trình rất phong phú bằng quan điểm của Phật giáo về thần kinh học và hệ thần kinh. Ngài đã định nghĩa đó là khả năng của bộ não, của các tế bào thần kinh, kinh mạch, v.v… tạo thành các cấu trúc và thậm chỉ các chức năng mới. Ngài đã điểm lại các quan điểm và đưa ra nhận xét rằng hạnh phúc không phải là một thứ cố định như: có hoặc không, mà là một kỹ năng, thứ mà chúng ta có thể học hỏi được. Nhìn hệ thần kinh từ quan điểm Phật giáo, ngài đề cập đến hợp thể thân-tâm và cho rằng chính nghiệp đã kết nối tâm và thân. Ngài đưa ra một trích dẫn trong kinh văn liệt kê 8 tính chất của cơ thể với kết luận đáng kinh ngạc rằng bộ não là bản chất của tâm.

Thay vì tập trung đến bộ não, Geshe Dadul bàn về tâm với bản chất hiểu biết và rực rỡ chiếu sáng phi vật chất. Tất cả các sự kiện ý thức đều là cảm giác hoặc tinh thần.Tất cả các sự kiện tại một thời gian nhất định đều bao gồm tâm và các thức, sự tỉnh thức ở mức căn bản và ở mức thô. Ngài minh họa điều này với sơ đồ nhiều màu sắc sinh động mô tả tâm căn bản, không bị vướng mắc bởi hợp thể năm uẩn biến hành và các duyên phát khởi những xúc tình yêu thương hay thù hận, đức hạnh hay ác hạnh. Ngài đã trình bày rõ tính phức tạp của các tiến trình vận hành trong tâm với phần kết luận được toàn thể thính chúng nhiệt thành tán thán.

Phúc Cường trích dịch
Nguồn: Datlailama.com/news

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/202109:18(Xem: 85143)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
03/10/202020:05(Xem: 4990)
Đây là một bài nghị luận về Lý Duyên Khởi được Ajahn Brahm viết lần đầu tiên hơn hai thập niên trước. Vào lúc đó, ngài quan tâm nhiều hơn đến những chi tiết phức tạp trong việc giảng dạy kinh điển. Vì lý do đó bài nghị luận này có tính cách hoàn toàn chuyên môn, so với những gì ngài giảng dạy hiện nay. Một trong những học giả Phật học nổi tiếng nhất hiện nay về kinh điển Phật giáo đương đại là Ngài Bhikkhu Bodhi, đã nói với tôi rằng “Đây là bài tham luận hay nhất mà tôi được đọc về đề tài này”.
23/07/202117:47(Xem: 324)
Giữa tương quan sinh diệt và biển đổi của muôn trùng đối lưu sự sống, những giá trị tinh anh của chân lý bất diệt từ sự tỉnh thức tuyệt đối vẫn cứ thế, trơ gan cùng tuế nguyệt và vững chãi trước bao nổi trôi của thế sự. Bản thể tồn tại của chân lý tuyệt đối vẫn thế, sừng sững bất động dẫu cho người đời có tiếp nhận một cách nồng nhiệt, trung thành hay bị rũ bỏ, vùi dập một cách ngu muội và thô thiển bởi các luận điểm sai lệch chối bỏ sự tồn tại của tâm thức con người. Sự vĩnh cửu ấy phát xuất từ trí tuệ vô lậu và tồn tại chính bởi mục đích tối hậu là mang lại hạnh phúc chân thật cho nhân loại, giúp con người vượt thoát xiềng xích trói buộc của khổ đau. Tuỳ từng giai đoạn của nhân loại, có những giai đoạn, những tinh hoa ấy được tiếp cận một cách mộc mạc, dung dị và thuần khiết nhất; có thời kỳ những nét đẹp ấy được nâng lên ở những khía cạnh khác nhau; nhưng tựu trung cũng chỉ nhằm giải quyết những khó khăn hiện hữu trong đời sống con người và xã hội.
07/05/202118:35(Xem: 989)
Phật Điển Thông Dụng - Lối Vào Tuệ Giác Phật, BAN BIÊN TẬP BẢN TIẾNG ANH Tổng biên tập: Hòa thượng BRAHMAPUNDIT Biên tập viên: PETER HARVEY BAN PHIÊN DỊCH BẢN TIẾNG VIỆT Chủ biên và hiệu đính: THÍCH NHẬT TỪ Dịch giả tiếng Việt: Thích Viên Minh (chương 11, 12) Thích Đồng Đắc (chương 1, 2) Thích Thanh Lương (chương 8) Thích Ngộ Trí Đức (chương 7) Thích Nữ Diệu Nga (chương 3, 4) Thích Nữ Diệu Như (chương 9) Đặng Thị Hường (giới thiệu tổng quan, chương 6, 10) Lại Viết Thắng (phụ lục) Võ Thị Thúy Vy (chương 5) MỤC LỤC Bảng viết tắt Bối cảnh quyển sách và những người đóng góp Lời giới thiệu của HT Tổng biên tập Lời nói đầu của Chủ biên bản dịch tiếng Việt GIỚI THIỆU TỔNG QUAN Giới thiệu dẫn nhập Giới thiệu về cuộc đời đức Phật lịch sử Giới thiệu về Tăng đoàn: Cộng đồng tâm linh Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Thượng tọa bộ Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Đại thừa Giới thiệu về các đoạn kinhcủa Phật giáo Kim cương thừa PHẦN I: CUỘC ĐỜI ĐỨC
09/03/202107:55(Xem: 912)
Anton đã nói với tôi rằng một người bạn nổi tiếng của ông một lần nọ đã lưu ý rằng hầu hết những nhà vật lý lượng tử liên hệ đến lãnh vực này thì ở trong phong thái tâm thần phân liệt. Khi họ ở trong phòng thí nghiệm và chơi đùa với mọi thứ, thì họ là những người thực tế. Họ nói về những quang tử (photon) và điện tử đi đây và đi đó. Tuy nhiên, lúc chuyển sang việc thảo luận triết lý, và hỏi họ về nền tảng của cơ học lượng tử, thì hầu hết sẽ nói rằng không có gì thật sự tồn tại mà không có cơ cấu nhận – định nó.
29/11/202014:03(Xem: 2217)
“Ma” tiếng Phạn gọi là Mara, Tàu dịch là “Sát,” bởi nó hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. “Ma” cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối thất đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác, rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến Niết-bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong luân hồi sanh tử, gọi là Ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong "Niệm Phật Thập Yếu", Ma tuy nhiều, nhưng cốt yếu chỉ có ba loại: Phiền não ma, Ngoại ma và Thiên ma
04/11/202019:34(Xem: 1481)
Những chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn: Các chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn được chứng ngộ khi nghe được những học thuyết về các Uẩn, Giới, Xứ, nhưng lại không đặc biệt lưu tâm đến lý nhân quả. Họ giải thoát được sự trói buộc của các phiền não nhưng vẫn chưa đoạn diệt được tập khí của mình. Họ đạt được sự thể chứng Niết-Bàn, và an trú trong trạng thái ấy, họ tuyên bố rằng họ đã chấm dứt sự hiện hữu, đạt được đời sống Phạm hạnh, tất cả những gì cần phải làm đã được làm, họ sẽ không còn tái sinh nữa. Những vị nầy đã đạt được Tuệ kiến về sự Phi hiện hữu của “Ngã thể” trong một con người, nhưng vẫn chưa thấy được sự Phi hiện hữu trong các sự vật. Những nhà lãnh đạo triết học nào tin vào một "Đấng Sáng Tạo" hay tin vào “Linh hồn” cũng có thể được xếp vào đẳng cấp nầy.
01/06/202010:25(Xem: 8432)
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà (loạt bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng trong mùa dịch cúm Covid-19)
23/03/202009:20(Xem: 2740)
Có một con sư tử mẹ đang đi kiếm ăn. Nó sắp làm mẹ. Buổi sáng đó nó chạy đuổi theo một chú nai. Chú nai con chạy thật nhanh dù sức yếu. Sư tử mẹ dầu mạnh, nhưng đang mang thai, nên khá chậm chạp. Sư tử mẹ chạy sau chú nai con rất lâu, khoảng 15 phút, mà vẫn chưa bắt kịp. Sau đó chúng tới một rãnh sâu. Chú nai lẹ làng nhảy qua rãnh, sang bờ bên kia. Sư tử mẹ rất bực tức vì không bắt kịp con mồi, và vì nó đang cần thức ăn cho cả nó và đứa con trong bụng. Vì thế, nó cố hết sức để nhảy qua cái rãnh sâu. Nhưng tai họa đã xảy ra, sư tử mẹ đã sẩy đứa con khi cố nhảy qua rãnh. Dầu qua được bờ bên kia, nhưng sư tử mẹ biết rằng mình đã đánh mất đứa con mà nó đã chờ đợi từ bao lâu, đã yêu thương hết lòng, chỉ vì một phút vô tâm của mình. Nó đã quên rằng nó đang mang một bào thai trong bụng, và nó cần phải hết sức cẩn trọng. Chỉ một phút lơ đễnh, nó đã không giữ được đứa con của mình.
01/03/202016:44(Xem: 3601)
Kinh Viên Giác là kinh đại thừa đốn giáo được Phật cho đó là “Con mắt của 12 bộ kinh”. “Con mắt” ở đây theo thiển ý có nghĩa là Viên Giác soi sáng nghĩa lý, là điểm tựa, là ngọn hải đăng cho các bộ kinh để đi đúng “chánh pháp nhãn tạng”, không lạc vào đường tà và tu thành Phật. Khi nghe kinh này, đại chúng kể cả chư Phật và chư Bồ Tát đều phải vào chánh định/tam muội, không bình thường như những pháp hội khác.