Kế Lâu Dài - Minh Triết Trần Nhân Tông

8/9/201102:20(View: 7392)
Kế Lâu Dài - Minh Triết Trần Nhân Tông


KẾ LÂU DÀI - MINH TRIẾT TRẦN NHÂN TÔNG
Thích Thanh Thắng

Gần đến kỷ niệm 700 năm ngày mất của vua Trần Nhân Tông, chúng ta vẫn phải đặt những câu hỏi về tuổi tác, về trách nhiệm, về kế lâu dài, về sự tự do và tự trọng của các cá nhân trong xã hội…

Trần Nhân Tông (1258-1308) tên húy là Trần Khâm, con trưởng của Trần Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, sinh năm Mậu Ngọ Nguyên Phong năm thứ 8, tháng 11 ngày 11, được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng.

Hai cung (Thượng hoàng Thái Tông và vua Thánh Tông) đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử. Vua Nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần…

Nhận được sự giáo dục toàn vẹn để tiếp nối bậc quân vương, Trần Nhân Tông lên ngôi năm 21 tuổi, ở ngôi 14 năm (1279-1293). Nhằm nâng cấp, hoàn thiện nhân cách và trách nhiệm của người đi sau, ngài đã ý thức noi gương người trước nhường ngôi ở tuổi 35, về làm thái thượng hoàng 5 năm, thực sự trao lại toàn bộ quyền bính năm 41 tuổi (1298), sau đó xuất gia tu hạnh đầu đà và viên tịch ở am Ngọa Vân núi Yên Tử năm 1308, thọ 51 tuổi.

Nhưng chỉ với khoảng 10 năm tu hành, ngài đã đi chu du khắp nơi thôn xóm khuyến hóa dân chúng giữ gìn năm giới hạnh, mười điều lành, sáng lập dòng thiền Trúc Lâm…

Bảo Sát từng bạch hỏi ngài: “Tôn Đức tuổi đã cao mà xông pha sương tuyết như vậy, lỡ ra có chuyện gì thì mạng mạch Phật pháp sẽ như thế nào?” Ngài đáp: “Thời giờ của ta đã đến, ta muốn tạo cái kế lâu dài vậy” (Thánh đăng lục).

Những thông tin vắn tắt trên đã gợi cho chúng ta đôi điều đáng suy ngẫm.

Thời buổi đầu, nhà Trần đã rất ý thức về việc chọn người nối ngôi nên họ đã sớm lập ra chế độ “Thái thượng hoàng”. Nhường ngôi sớm để dẫn dắt các vị vua trẻ vào con đường cai trị, song họ vẫn duy trì quyền lực đủ sức chi phối trong một thời gian ngắn để những vị vua này có thể chín chắn, trưởng thành hơn trong đường lối, quyết sách.

Đến khi vua trẻ có thể làm cho họ hoàn toàn yên tâm thì họ sẽ nhường lại toàn bộ quyền lực để đi sâu vào khám phá đời sống tâm linh, thực nghiệm triết lý Phật giáo.

Độ chín về tuổi tác khi được chọn để tham dự vào bộ máy thế quyền mà nhà Trần áp dụng đã thực sự kích thích nhiệt huyết sáng tạo, từ đó đẩy trách nhiệm của những người trẻ tuổi lên rất cao. Chính trong những khuyến khích ấy, sự tự do và tự trọng đã giao hòa trong nhân cách, làm cho người trẻ có thể yên tâm đương đầu đảm nhiệm những công việc mang trọng trách ở tầm quốc gia.

Đến lúc thích hợp, các vị thái thượng hoàng có thể xả bỏ quyền lực như bỏ đôi giày rách để tham gia vào con đường thực nghiệm tâm linh, vì vậy họ thực sự đã trở thành những triết nhân xuất trần. Bởi khi những danh vọng thế gian đã không còn khả năng chi phối, là lúc họ có thể chuyên tâm vào nghiên cứu Phật học và khám phá đời sống nội tâm.

Nhờ chuyên tâm mà họ có được những khả năng siêu thoát, thực tu, thực chứng và thường để lại những mẫu hình nhân cách rất đặc trưng. Đó là hình ảnh của những thiền sư dấn thân nhập thế, hòa ánh sáng cùng cát bụi, có thể “mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”, “dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng”, xuất nhập tư tại, cư trần lạc đạo, “chẳng hỏi đại ẩn tiểu ẩn, không chia tại gia xuất gia” (Trần Thái Tông)…

Sự tự trọng của vai trò, trách nhiệm, sự tự do trong tâm thức đã nuôi dưỡng những khả năng “xuất- nhập” của họ rất lớn. Câu nói Trần Nhân Tông trả lời Bảo Sát cho ta thấy rất rõ tâm nguyện về “kế lâu dài” của ông cho cả hai con đường “xuất- nhập”, “đạo-tục”.

Tự tri được “thời giờ của ta đã đến” (ở tuổi 51) càng làm cho Trần Nhân Tông ý thức nhiều hơn về “kế lâu dài” ấy. Có nghĩa rằng khi làm bất cứ một việc gì không thể không tính toán kỹ lưỡng trước sau cho trọn vẹn vì thời gian không cho phép mình được sai lầm nữa.

Nếu không thể ngày đêm quán sát “thời giờ của ta đã đến” trong từng hơi thở thì làm sao có thể bỏ những điều khó bỏ, có thể buông ngai vàng như bỏ đôi giày rách, cũng như lựa chọn, chuẩn bị đầy đủ những điều kiện cần thiết để người kế vị có thể vững tin nhập chính…

Hóa ra việc lớn lại thường được ý thức rất nhiều từ những việc mà người đời cho là nhỏ như quán sát sự vô thường trong từng hơi thở ấy. Có thể nói, nhiều vị vua Phật tử hơn người ở chỗ đã biết xây dựng xã hội từ những việc nhỏ nên không tham quyền cố vị, không ảo tưởng với những điều lớn lao, mà luôn chăm chút đến những thế hệ kế cận, lợi ích của nhân dân.

Nhân cách thiền sư đã bổ túc, giao hòa nhân cách thái thượng hoàng và ngược lại, chính vì thế khi Trần Nhân Tông dù ở ngôi trị quốc hay ngôi dẫn đạo ông cũng khiêm cung tôn Tuệ Trung Thượng sĩ làm thầy. Điều này đã làm cho người dưới nể trọng, kính phục vì họ không cảm thấy việc làm của họ có một bàn tay sắt can thiệp, vì Trần Nhân Tông dẫn dắt mà không làm cho họ nhàm chán, chỉ ra cái sai mà không làm họ oán hận, xét xử mà không làm cho họ oan ức, biết lấy tâm mà truyền tâm...

Nếu để người dưới luôn cảm thấy bất an trước sức nặng đè xuống, họ sẽ mất tự do, tự trọng, sáng tạo, và họ sẽ mệt mỏi bằng mọi cách muốn thoát ra khỏi gánh nặng ấy. Nếu người quản trị mà để mọi người rơi vào cái thế “cùng tranh” ấy thì đó chính là mối nguy không lường trước được hậu quả vậy.

Trần Nhân Tông hiểu rõ việc “đứng sau người thì không có tranh chấp” nên đúng như Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vua Nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước”. “Từ cố năng dũng” (Từ là người dũng mãnh nhất trên đời).

Phải có lòng từ lớn mới có thể cố kết lòng dân, tập hợp sâu rộng các thành phần dân tộc, không kéo thiên hạ vào cái thế “loạn tranh”, mới không làm cho những nghi ngờ, bạo động xuất hiện. Người quản trị trong những tình huống lo cho cái “kế lâu dài” phải biết hạ mình cầu người, đặt mình ra sau, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ…

Tự trọng là nói lời giữ lời, “tín ngôn bất mỹ”. Nếu lời nói chỉ hoa văn trang sức, làm đẹp lòng nhau một cách giả tạo, cầu toàn vụ lợi, tiền hậu bất nhất thì không chứa nổi sự thật. Chính vì vậy, Trần Nhân Tông đã thực hiện tôn chỉ của thánh nhân “công thành thân thoái”. Đó là khả năng tin tưởng, “tự tri”, biết sở trường, sở đoản của mình mà dung hội được nhiều hạng người khác nhau trong việc phục vụ cho lợi ích chung.

Đó chính là “Phù dung bất yếm, thị dĩ bất yếm” (Vì ta không chê, nên ta không chán). Vì thế có thể tin tưởng nơi người, và vì thế mới có “kế lâu dài” vậy. Nếu người quản trị suốt ngày chê bai, không tin tưởng người khác thì ai có thể quy tụ, đồng lòng chung sức vì công cuộc chung?

Cho nên người xưa mới nói “cố thử bỉ thủ khử” (Nên bỏ đó mà giữ đây). “Bỏ đó” là bỏ đi những cái thành kiến, tự kiến, tự quý, “giữ đây” là giữ cái “tự tri” của chính mình, chứ không phải bỏ người, phụ người. Tranh đấu, gây hấn, chia rẽ là việc làm của người không biết giữ “kế lâu dài”, đem mình lên trên để cầu thắng, đưa mình đến trước để cầu tiến, đó cũng là cái “dũng”, nhưng đó là cái “dũng” của kẻ dùng cương cường mà đánh cương cường, cái “dũng” ấy kéo thiên hạ vào chỗ loạn tranh, cùng binh độc vũ vậy.

Thay người, phụ người, tiếm quyền, đoạt lợi thì có khác gì thay người thợ đẽo để mình đẽo, làm những việc vốn không phải của mình, ôm đồm hết việc của người, tránh sao cho khỏi những lúc đứt tay. “Thị vi đại đại tượng trác. Phù đại đại tượng trác giả. Hi hữu bất thương kỳ thủ hĩ” (Có khác nào thế tay thợ đẽo. Thế tay thợ đẽo, ít thấy chẳng bị đứt tay). Trần Nhân Tông nhường ngôi sớm chính là không muốn trở thành người “thế tay thợ đẽo”.

Lão Tử có nói: “Làm việc khó bắt đầu nơi chỗ dễ. Làm việc lớn bắt đầu nơi chỗ nhỏ” (Đồ nan ư kỳ dị, vi đại ư kỳ tế). Chính vì săn sóc, chăm lo cho những điều nhỏ mà làm được những điều lớn bất ngờ. Trần Nhân Tông tham chiếu tu hành, nghiên cứu sâu Phật học, nhưng ngài không chủ đích khuyến hóa đời bằng những lý lẽ cao siêu mà bằng những bài học bắt đầu từ năm giới hạnh và mười điều lành. Giọt nước chảy lâu cũng làm thủng cối đá. Lỗ mọt nhỏ cũng có thể làm chìm thuyền. Điều thiện cũng như điều ác cũng đều nên được ý thức từ những điều rất nhỏ.

Nếu cái nhỏ gì cũng xem thường, để cho qua loa thì sẽ có ngày trở thành những cái khó lớn. Biết khó mà không xem thường thì có thể đối mặt với mọi hoàn cảnh mà không rơi vào sự lúng túng, dao động. Biết nhỏ thì có thể lấy mềm buộc chặt, lấy ít ngăn chế nhiều. Đó là thế thuật trị nước của nhiều vị vua Phật tử Việt Nam.

“Thị dĩ thánh nhân, vi phúc bất vi mục” (Thánh nhân vì bụng mà không vì mắt). Những cảnh sắc phát triển bề nổi ưa dối đời lừa người, mắt thường thường nhìn vào hiện tượng mà đưa ra những phán đoán sai lầm, chính vì vậy người xưa xem những cái làm cho êm tai, đẹp mắt là những cái xa hoa, phù phiếm, là đầu mối của những bất hòa, loạn lạc.

Người ta dù có đi đâu xa vạn dặm thì cũng khởi đầu từ một bước chân, quên cái bước chân nhỏ ban đầu ấy thì khó có thể tiếp tục đi xa mãi được. “Kế lâu dài” là biết khó biết dễ, biết vì “bụng” mà không vì “mắt”. “Vi giả bại chi, chấp giả thất chi”, người quản trị đứng đầu một quốc gia, tổ chức mà lấy ý riêng của mình, thành kiến của mình mà đối đãi với thiên hạ, người dưới thì càng làm càng hư, càng giữ càng mất.

Quốc sư Phù Vân từng khuyên vua Trần Thái Tông: “Phàm đã là bậc nhân quân tất phải lấy ý của thiên hạ làm ý của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”.

Vì sao khi người ta làm việc gần đi đến chỗ thành công thì lại gặp thất bại? Vì lúc gặp nhiều trắc trở khó khăn thì cố gắng, thận trọng, đoàn kết, lắng nghe từng việc nhỏ, phân tích từng điều khó, nhưng lúc thành công được một phần thì tự mãn, chủ quan, lơ đễnh, không lắng nghe nhau nên đã khiến cho việc hỏng một cách bất ngờ. Nếu có thể “thận chung như thỉ” (thận trọng lúc cuối cùng cũng như lúc ban đầu) thì sao có thể gây ra sự rối ren và hỏng việc được.

Trần Nhân Tông ở ngôi 14 năm, xuất gia 10 năm, đạt được sự giác ngộ, tự tri nhưng luôn đau đáu đến “kế lâu dài”. Phải chăng xã hội ấy xuất hiện nhiều những nhân cách lớn vượt thời đại vì họ luôn ý thức “thời giờ của ta đã đến”, không ham sống sợ chết, tham quyền cố vị, biết nâng đỡ phát hiện người đi sau?

Gần đến kỷ niệm 700 năm ngày mất của vua Trần Nhân Tông, chúng ta vẫn phải đặt những câu hỏi về tuổi tác, về trách nhiệm, về kế lâu dài, về sự tự do và tự trọng của các cá nhân trong xã hội.

“Thương thay Bành Tổ sống tám trăm năm. Xót vậy Nhan Hồi tuổi hơn ba chục”. Sống nhiều hay sống ít mang đến những ý nghĩa gì? Trần Nhân Tông xả báo thân ở tuổi 51, tuổi của thế hệ trung niên trong xã hội hiện đại bây giờ, nhưng sự nghiệp mà ngài để lại thì vô cùng to lớn.

Chúng ta vui mừng vì tuổi thọ trung bình của người dân ngày nay càng tăng, nhưng có còn không những bậc “trường sinh cửu thị” (sống lâu mà không già), người già mà tâm không già, biết chung sức đặt “kế lâu dài” cho hậu thế?

Thích Thanh Thắng
(Văn Hóa Phật Giáo số 68)

Tham khảo:

- Đại Việt sử ký toàn thư
- Thánh đăng lục
- Đạo đức kinh
- Thơ văn Lý - Trần


11-30-2008 09:23:13

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
2/9/2026(View: 2450)
CÁO BẠCH HỘI ĐỒNG GIÁO PHẨM TRUNG ƯƠNG VIỆN TĂNG THỐNG GHPGVNTN Thành kính cáo bạch Trưởng lão Hòa thượng thượng NGUYÊN hạ ĐẠT, tự PHƯỚC AN Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN Nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa, Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã thuận thế vô thường viên tịch vào lúc 11 giờ 50, ngày 09 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 22 tháng Chạp năm Ất Tỵ). Trụ thế: 79 năm, 57 hạ lạp Tang lễ Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch được cung kính cử hành tại Phật Học Viện Hải Đức (Chùa Hải Đức), số 42 Hải Đức, phường Tây Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. • Lễ cung thỉnh báo thân Trưởng lão Hòa thượng nhập kim quan vào lúc: 07 giờ 00, ngày 10 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 23 tháng Chạp năm Ất Tỵ). • Lễ phụng tống kim quan trà tỳ tại Đài hỏa táng Phương Bắc Nha Trang được cử hành vào lúc: 15 giờ 00, ngày 11 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 24 tháng Chạp năm Ất Tỵ). Phụng hành di ngôn của Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch: – Tang lễ thực
2/11/2026(View: 603)
Trong lịch sử hình thành và phát triển của các cộng đồng tôn giáo ở hải ngoại, hiếm có sự kiện nào mang tính biểu tượng sâu sắc như việc một chính quyền thế tục Tây Phương đặt tên đường mang tên của một bậc tu hành. Sau sự kiện đặt tên đường “Thích Nhất Hạnh Way” ở New York vào tháng 4 năm 2025; giờ tiếp nối đến sự kiện thành phố Évry-Courcouronnes, ngoại ô Paris, nước Pháp, quyết định đặt tên một đoạn đường cạnh Đại Tự Khánh Anh là Rue du Très Vénérable Thích Minh Tâm – Đường Hòa Thượng Thích Minh Tâm. Đây không chỉ là một sự kiện mang tính hành chánh thông thường, mà còn việc xác lập một giá trị: Giá trị của đạo đức, của phụng sự và trí tuệ Phật giáo đã được xã hội Tây phương nhìn nhận như một phần di sản văn hóa chung của cả nhân loại.
1/10/2026(View: 1728)
Thời gian qua thật mau, vậy mà đã hai năm Thầy rời bỏ Ta Bà bỏ chúng con ra đi, để lại cho chúng con niềm tiếc thương vô hạn.. Hôm nay giữa xứ lạnh của mùa Giáng Sinh gần kề nơi xứ người, con ngồi đây đọc bài "Ôn Cố Tri Ân" trong báo Viên Giác mà bồi hồi, xúc cảm … Đã lâu lắm rồi Thầy ơi, con không còn được nghe thông điệp của các Ngài, những thông điệp của Đức Tăng Thống mà con nghĩ rất cần thiết cho hàng Phật tử chúng con, cũng như cho tất cả những ai có lòng yêu thương đất nước, đất nước Việt Nam đã chịu qúa nhiều đau khổ bởi chiến tranh, bởi thiên tai, và nhất là dưới chế độ phi nhân tính của cộng sản. Phải chăng Giác Linh Thầy đã về đây để hộ trì cho chúng con, nước mắt con lăn dài, hình ảnh sự biến Lương Sơn lại hiện về trong con qua bài tường thuật của Thầy tại đồn biên phòng Lương Sơn, ngày 8.10.2003, Thầy đã dùng lý luận để vạch rõ dã tâm của cộng sản, giả trá, chụp mũ, vu khống, bắt cóc, hình ảnh Hòa Thượng Quảng Độ bị chúng dìu lên xe, mặc cho Hòa Thượng chống đối, chú
12/16/2025(View: 2615)
Người viết đọc bản tin xong , mà trong đầu vẫn vấn vương với những lời viết như sau : những hành động dấn thân phụng sự cộng đồng bằng nhiều hình thức thiết thực: tổ chức cứu tế, ủy lạo những gia đình gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, trợ giúp người già yếu và đơn, ân cần an ủi, nâng đỡ tinh thần cho những người đang chịu mất mát và đau khổ là sự khẳng định vai trò tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội, đặc biệt trong những thời khắc khó khăn nhất của nhân loại.
12/14/2025(View: 2384)
Ngài là Pháp hữu cùng thế hệ với chư vị Tôn túc: Ôn Huyền Quang, Ôn Trí Nghiêm, Ôn Đổng Minh, và các bậc cao tăng đồng thời với Ngài Huyền Tôn bên Úc. Những hình ảnh mà Thầy nhắc đến chính là Tu Viện Kim Sơn tại Huế, nơi được xem là Đại học Phật giáo đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Bức ảnh ấy không chỉ là một tư liệu đơn lẻ, mà là dấu ấn của cả một thế hệ Cao Tăng Phật giáo Việt Nam. Có những tấm hình do chính Hòa Phụ bấm máy, cách nay đã hơn 60 năm.
12/10/2025(View: 1889)
Trọn niềm thương nhớ hướng quê hương Mùa Đông Ất Tỵ cảnh tang thương Bao nhiêu đổ nát, bao chua xót Quả thật thế gian, cõi vô thường! Vẫn biết duyên trần chẳng bền lâu Người nỡ ra đi chóng thế sao? Vốn hẹn Hiển Nam ngày tái ngộ Nhưng người Pháp Lữ, biết tìm đâu?!
12/6/2025(View: 1236)
Nghĩ gì về Thầy Tuệ Sỹ? Nếu có ai hỏi như thế, tôi sẽ nói rằng tôi chưa thể hiểu tới một phần rất nhỏ những gì Thầy viết, mặc dù tôi vẫn đọc Thầy đều đặn. Cũng như một người đứng dưới chân núi, biết được những gì để dám nói về núi. Tôi không dám so sánh Thầy Tuệ Sỹ với bất kỳ ai, vì tôi không đủ kiến thức và trình độ để đối chiếu bất kỳ kho kiến thức và hành trình tu học của bất kỳ ai.
12/6/2025(View: 1249)
Khi đại thụ ngã xuống, một khoảng trời trống vắng cô liêu bày ra nhưng trong tâm tưởng con người thì bóng dáng đại thụ vẫn sừng sững không thể xóa nhòa. Khi lau sậy gầy hao phơ phất trong nắng tà quái chiều hôm, bông lau trắng xóa cả trời chiều, tưởng chừng như vô thanh nhưng sóng âm đồng vọng ngập trong đất trời.
11/28/2025(View: 1662)
Kính bạch Giác Linh Thầy Từ Tây Đức xa xôi con theo chân Chư vị Tôn Đức, thân bằng thuộc cùng Phật tử về đây để dự lễ Trà Tỳ, tiễn đưa Thầy về Quê Hương Phật, trên nắp kim quan Thầy phủ đầy những cành hoa hồng đủ màu sắc của mà chư vị Tôn Đức Tăng Ni, quý Phật tử kính thương Thầy đã đặt trên đó với lòng tri ân và sự tiếc thương dâng cúng Thầy, con như ngửi được mùi thơm, như hương đức hạnh của Thầy, một vị Thầy đã suốt đời hiến dâng cho Dân Tộc và Đạo Pháp. Nhìn chiếc kim quan Thầy được nâng lên, đẩy vào đài hỏa táng, bao nhiêu cành hồng dạt xuống, con nghe như Thầy bảo "cảm ơn các con thương yêu, tạm biệt các con, các con về đi, chịu khó tu học, Thầy chúc các con thân tâm thường an lạc, Thầy sẽ trở lại.." tim con như quặn thắt, con mới biết ra rằng từ nay vĩnh viễn con không còn được nghe tiếng Thầy nữa…Thầy ơi!
11/14/2025(View: 1456)
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ — húy thượng Nguyên hạ Chứng, đời thứ 44 dòng Lâm Tế — đã thuận thế vô thường, viên tịch vào ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại Chùa Phật Ân, Việt Nam. Ngài là bậc Cao Tăng Thạc Đức, người đã cống hiến trọn đời cho Phật Giáo Việt Nam, Dân Tộc, và Giáo Dục. Từ Viện Đại Học Vạn Hạnh đến các Viện Cao Đẳng Phật Học như Hải Đức – Nha Trang và Quảng Hương Già Lam – Sài Gòn, Ngài đã dìu dắt và đào tạo bao thế hệ Tăng, Ni, Phật tử. Ngài là nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh Điển với những công trình vĩ đại như Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết, Kinh Thắng Man, A-hàm, Luận Câu-xá, Luận Thành Duy Thức, cùng Đại Tạng Kinh Việt Nam được phục hoạt vào năm 2021.