Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Hòa Thượng Thích Đạt Hảo

28/07/201107:23(Xem: 1553)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo


HT Thich Dat Hao
HÒA THƯỢNG THÍCH ĐẠT HẢO
 


I. THÂN THẾ


Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành:

-Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi.
-Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật.
-Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo.
-Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông.
-Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang.
Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm
-Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương.
-Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.

 II. THỜI KỲ HỌC ĐẠO
Hòa thượng đã nhiều đời gieo trồng đạo giải thoát, nên được sanh trong một gia đình trung nông, phúc hậu, giàu lòng từ bi vị tha, tôn kính Tam Bảo, chí xuất trần cũng thuận duyên. Năm Tân Dậu (2) (1921), Hòa thượng được phụ thân hướng dẩn tới chùa Pháp Minh, ấp Giồng Dứa, xã Đức Hòa Thượng, cầu xin tổ Liễu Lạc (1879-1937), truyền trao quy y giới, được ban cho pháp danh Tánh Tướng. Từ đó, hằng ngày đi chùa bái sám, tụng kinh. Thời  gian sau, nhân duyên hội đủ, bèn đảnh lễ Tổ cầu xuất gia, được ban pháp hiệu Đạt Hảo, thuộc thế hệ thứ 20 dòng phái Ngọ Đình, đời thứ 22 chi phái Cao Minh Tự, đời thứ 50 tông Thiên Thai Giáo Quán.

“Lòng từ bi, chí hướng xuất trần,
Chán Ta Bà, vượt bến mê tân,
Đường giải thoát lâng lâng nhẹ bước
Tầm đạo lý về chơn tự tánh”

Năm Quý Dậu (1933), Sư đã 13 tuổi, bổn sư cho thọ giới Sa Di, tại đại giới đàn chùa Pháp Hoa, xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, Tỉnh Vĩnh Long. Khi đã lãnh thọ giới pháp xong, Sư càng thêm tinh tấn học tập kinh điển, luật Trường Hàng; miệt mài tập viết Hán Tự, do có hoa tay nên chữ Sư viết rất đẹp, mọi người đều ngợi khen. 
Ngày 19 tháng 2 năm Ất Hợi (1935), Sư đăng đàn thọ giới cụ túc, tại chùa Tôn Thạnh, Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (3), do tổ Liễu Thiền (1885-1956) làm Đàn đầu hòa thượng.
 Sau khi thọ lãnh đầy đủ giới pháp, được phép của bổn sư, Sư bắt đầu du phương tham học. Trải qua khắp chốn tòng lâm, hể nghe đạo tràng nào có bậc cao tăng thiền đức xiển dương khai hóa, Sư đều tìm đến cầu học như: tổ Từ Phong (  ), chùa Giác Hải, Phú Lâm, quận Sáu, Sài Gòn. Tổ chùa Thiền Lâm, Gò Kén, tỉnh Tây Ninh. Rồi lại theo ba người chị là Ni trưởng Thích Nữ Đạt Đạo, Ni trưởng Thích Nữ Đạt Thông và Ni trưởng Thích Nữ Đạt Quang lên núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh, lập động Tam Cô cạnh chùa Hang, chuyên cần tu Thiền Quán. Sau khi Ni trưởng Đạt Quang viên tịch, Ni trưởng Đạt Đạo và Đạt Thông trở về quê nhà chùa Pháp Bảo. Riêng Sư tới núi Thiên Thai, tỉnh Bà Rịa tham học với tổ Huệ Đăng (4) (1873-1953).
“Bước không mỏi, trên đường học đạo;
Chân chẳng mòn, khắp dạo trần gian.
Thiền môn mở rộng thênh thang,
Đôi dép cũ, chiếc y vàng vững chí”.

III.  THỜI KỲ HÓA ĐẠO
Năm Giáp Tuất (1934), Sư vâng lời dạy bổn sư, về xã Lương Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An xây dựng và trụ trì chùa Pháp Vân.
Năm Canh Thìn (1940), Sư trở về quê hương, cải gia vi tự lập thành chùa Pháp Bảo hiện nay.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Sư hiệp cùng Ni trưởng Đạt Đạo khởi công xây dựng chùa Pháp Quang tại số 71, liên tỉnh lộ 5, phường Năm, quận Tám, Sài Gòn. Ngày 2 tháng 5 năm Ất Mùi (1955), chiến tranh giữa chánh phủ Ngô Đình Diệm và quân Bình Xuyên, chùa bị binh lửa tàn phá nặng nề. 
Năm Đinh Dậu (1957), Sư cùng các pháp lữ: Hòa thượng Đạt Hương, Hòa thượng Đạt Đồng, Hòa thượng Đạt Pháp tham dự khóa đào tạo trụ trì Như Lai Sứ Giả do Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tổ chức tại chùa Pháp Hội, quận Mười, thành phố Sài Gòn.
Năm Quý Mẹo (1963), chánh quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, Sư hướng dẫn tăng ni, Phật tử quận Tám và giáo phái Thiên Thai tích cực tham gia đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, công bằng xã hội. Sư hợp cùng Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, tiếp tục đấu tranh đối với chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu, đòi dân chủ dân sinh và hòa bình độc lập cho dân tộc.
Năm Giáp Thìn (1964), Sư khởi công tái thiết lại chùa Pháp Quang. Đến năm Bính Ngọ (1966), làm lễ lạc thành vô cùng trọng thể, dưới sự chúng minh của Hòa thượng Thích Hành Trụ (5) (1903-1984) và Hòa thượng Thích Thiện Hoa (6)(1918-1973).
 Năm Đinh Mùi (1967), theo sự thỉnh cầu của Phật tử địa phương, Sư  đảm nhận công tác trùng tu chùa Châu Hưng tại xã Tam Phú, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Sau đó, Sư giao lại cho Hòa thượng Thích Đạt Đồng trụ trì, kế đến là đệ tử Thích Tắc Lãnh cư trụ cho đến ngày nay. Ngoài ra, từ năm 1966 đến 1996, Sư còn trùng tu, xây dựng thêm nhiều chùa khác như: chùa Quảng Tế tại Long Xuyên, chùa Pháp Hưng ở huyện Long Thành, chùa Pháp Thạnh ở huyện Đức Hòa, chùa Linh Phước ở quận Tám...
Năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Viện trưởng viện Hóa Đạo trao quyết định cử Sư giữ chức Chánh đại diện Phật Giáo quận Tám, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Năm Canh Tuất (1970), Sư tái thiết chùa Pháp Giới, tại phường Hai Mươi, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Năm Nhâm Tý (1972), Sư đề cử đệ tử Thích Huệ Văn giữ chức trụ trì; đồng thời khai mở Phật học viện Pháp Giới, thâu nhận 70 tăng sinh, trong tông phái Thiên Thai Giáo Quán. Sư giữ chức Giám viện, Thượng tọa Thích Tắc Trụ làm Phó Giám viện, Đại đức Thích Huệ Văn làm Thơ ký kiêm Chúng trưởng. Chương trình học tập do Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Thiên Thai Giáo Quán Tông giảng dạy.
Năm Tân Hợi (1971), Đại Hội Khoáng Đại Kỳ I tại chùa Pháp Hội, bầu ra Ban Trị Sự Giáo Hội Thiên Thai Giáo Quán Tông, Sư được suy cử chức Trị sự phó thường trực, Hòa thượng Thích Tắc Nghi làm Trị sự trưởng, trụ sở trung ương tại chùa Pháp Hội, quận Mười, Sài Gòn.
Từ năm 1973-1975, trong phong trào xây dựng Phật Giáo Đô Thành Miền Quảng Đức Sài Gòn, Ban Đại Diện Phật Giáo 11 quận nội thành hợp tại chùa Pháp Quang, thành lập Giáo Hội Liên Quận Đô Thành, suy cử Sư giữ chức Chủ tịch, Thượng tọa Thích Tắc Thành (7) làm Phó chủ tịch, Thượng tọa Thích Hiển Pháp (8) làm Tổng thơ ký, Thượng tọa Thích Thiện Tánh và các vị Chánh đại diện các quận làm Ủy viên.Mục đích của giáo hội này là:
-Đề nghị Hội Đồng Lưỡng Viện (9) gạn lọc loại bỏ vài nhân vật trong viện Hóa Đạo biến chất, cấu kết với Đế Quốc đi ngược với đường hướng Phật Giáo và dân tộc.
-Đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, hòa bình, độc lập cho dân tộc.
-Bảo vệ hiệp định Paris.
Năm Quý Sửu (1973), Đại Hội Khoáng Đại Thiên Thai Giáo Quán Tông lần thứ II, tại chùa Pháp Hội, Sư được toàn thể Đại Hội suy cử giữ chức Trị sự trưởng Hội Đồng Trị Sự Trung Ương cho đến ngày 4-11-1981, thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm Ất Mẹo (1975), khai mở Đại Giới Đàn tại chùa Pháp Giới, Sư được cung thỉnh làm Đàn Đầu Hòa Thượng, ban Kiến Đàn gồm có: chư vị Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Hào, Thích Đạt Hương (10), Thích Tắc Phước, truyền trao ngũ giới, sa di giới và tỳ kheo giới cho 180 giới tử. Thời kỳ khó khăn sau đất nước mới được độc lập, đây là một giới đàn lớn và thành công về mọi mặt. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền nam hoàn toàn giải phóng, bắc và nam thống nhất đất nước, Ban Liên Lạc Phật Giáo Yêu Nước thành phố Hồ Chí Minh thành lập, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt làm Chủ tịch, Hòa thượng Thích Hiển Pháp làm Tổng thơ ký, Sư được suy cứ chức Ủy viên chủ tịch đoàn kiêm Trưởng ban Phật Giáo Yêu Nước quận Tám. Sau này, Phật giáo 2 quận Bảy và Tám xác nhập thành quận Tám, Sư làm Trưởng ban Phật Giáo Yêu Nước quận Tám, Hòa thượng Thích Hồng Năng là Phó ban, Thượng tọa Thích Huệ Văn làm Thơ ký.
Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 11 năm 1981, tại Hà Nội, Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam, Sư được suy cử vào Ủy viên Hội Đồng Chứng Minh Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm Nhâm Tuất (1982), Chánh đại diện Phật Giáo Quận Tám, Thích Huệ Văn cung thỉnh Sư làm Chứng Minh Ban Đại Diện.
Năm Đinh Mẹo (1987), đại hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Sư được Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự nhiệm kỳ II và III (1987-1997) đề cử làm Ủy viên ban Tăng Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.  
Từ Năm 1984 đến 1994, Ban Đại Diện Phật Giáo quận Tám liên tục mở khóa An Cư Kiết Hạ, tại văn phòng  Ban Đại Diện chùa Pháp Quang, Sư được cử thỉnh làm Hóa Chủ kiêm Thiền Chủ.
 Từ năm 1964 đến năm 1996, Sư được tăng ni quy ngưỡng là bậc tòng lâm mô phạm, cung thỉnh làm Giới sư các đại giới đàn: chùa Pháp Liên huyện Bình Chánh (1964); chùa Pháp Quang quận Tám (1966), chùa Huệ Nghiêm huyện Bình Chánh (1969), chùa Linh Sơn quận Một (1970), chùa Quảng Đức tỉnh An Giang (1974), chùa Giác Sanh quận Mười Một (1978), chùa Ấn Quang quận Mười (1988), Đại Tòng Lâm tỉnh Bà Rịa (1992) và làm Đàn đầu hòa thượng các đại giới đàn: chùa Pháp Giới quận Tân Bình (1975), chùa Vĩnh Tràng tỉnh Tiền Giang (1995).Năm Bính Tuất (1996), Sư làm Chứng minh đại giới đàn chùa Thiên Khánh, do ban Trị Sư Tỉnh Hội Phật Giáo Long An tổ chức.
Không chỉ dừng lại ở những hoạt động Phật sư, Sư còn tham gia các hoạt động xã hội, công tác từ thiện, cứu trợ thiên tai bão lụt, giúp đỡ người nghèo, trẻ em mồ côi khuyết tật, vận động đóng góp xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa v.v... Sư cũng là một công dân yêu nước, đã góp phần xứng đáng vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được nhà nước trao tặng thưởng Huân Chương Kháng Chiến hạng nhất, Huân Chương Kháng Chiến chống Mỹ hạng nhì. Ngoài ra, trong giai đoạn xây dựng đất nước sau chiến tranh, Sư được Ủy Ban Nhân Dân, Mặt Trận Tổ Quốc thành phố Hồ Chí Minh và quận Tám tặng nhiều bằng khen và giấy khen.

IV. THỜI KỲ VIÊN TỊCH
Năm Giáp Tuất (1994), Sư đã được 77 tuổi, niên cao sức yếu, nhưng tâm nguyện hộ trì Phật pháp không hề thay đổi, nên gắng sức làm lễ khởi công xây dựng mới chùa Pháp Bảo, tại quê hương huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Năm Bính Tý (1996), hoàn thành Đại Hùng Bảo Điện. Có chút bịnh nhẹ, dường như biết trước ngày giờ viên tịch, Sư liền trở về chùa Pháp Quang, hợp các đệ tử tăng ni lại di huấn: “Huynh đệ các con nên đoàn kết chung lo Phật sự, làm tròn nhiệm vụ Giáo Hội giao phó, hóa độ chúng sanh, nối thạnh Phật chủng. Thầy đã cử xong ban trụ trì tổ đình Pháp Bảo gồm có 11 vị, nên cố gắng xây cất hoàn thành hậu Tổ.” Di chúc xong, Sư chuyên tâm niệm Phật ngày đêm không dừng nghỉ. Vào lúc 14 giờ ngày mùng 9 tháng 8 năm Bính Tý, nhầm ngày 21 tháng 9 năm 1996, Hòa thượng an tường viên tịch, thế thọ 80 tuổi, tăng lạp 60 mùa.
“Nhịp tim ngừng đập kể từ đây,
Pháp Bảo, Pháp Quang vắng bóng Thầy.
Dáng đứng trưa hè im chênh chếch,
Nghiên sầu, bút lạnh trả ngàn mây.
Tam ngươn, truyền giáo còn đâu nữa,
Tứ quý, ban cho sữa pháp đầy.
Ngũ uẩn trả về cho tứ đại,
Thầy đăng Thượng Phẩm cỏi Phương Tây”.
Hội Đồng Chứng Minh, Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Ban Trị Sự Thành Hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh, Ban Đại Diện Phật Giáo quận Tám, hệ phái Thiên Thai Giáo Quán Tông và tứ chúng đệ tử cử hành tang lễ trang nghiêm long trọng tại chùa Pháp Quang, từ ngày 9 đến 15 tháng 8 năm Bính Tý (21-27/9/1996). Ban Chấp Hành Đảng Cộng Sản, Hội Đồng Nhà Nước, Ban Tông Giáo Chánh Phủ, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam thuộc đoàn thể trung ương; Đảng Ủy, Ủy Ban Nhân Dân, Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc, Ban ngành đoàn thể thuộc thành phố Hồ Chí Minh; Các Ban Trị Sự tỉnh thành Phật Giáo, chư tôn đức tăng ni các tự viện, đoàn thể tín đồ Phật tử đều về dự lễ tang. Đặc biệt có tôn giáo bạn: Linh mục Phan Khắc Từ, các nhà thờ trong địa bàn quận Tám, quận Đức Hòa; đại diện Cao Đài Giáo, Hồi Giáo cũng đến kính viếng, phân ưu. Bảy ngày sau, cung tiễn kim quan đến đài hỏa táng tại chùa Pháp Bảo, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Linh cốt được nhập bảo tháp tại phía bên phải trước chùa Pháp Quang, bốn mùa hưong đăng thờ cúng.
Đệ tử gồm có các vị tiêu biểu như:
Thượng tọa Thích Tắc Lãnh, chùa Châu Hưng, Thủ Đức.
Đại đức Thích Tắc Bổn, chùa Pháp Bảo, Đức Hòa...
Sau  đó, Ni sư Thích Nữ Tắc Thinh tiếp tục xây cất Hậu tổ. Ngày 29 tháng 2 năm Đinh Sửu (1997), làm lễ khánh thành, làm tròn di chúc của Hòa thượng.



* TT Thích Tắc Phi (biên soạn)


Chú thích:
(1) Nay thuộc tỉnh Long An.
(2) Hòa thượng được 6 tuổi.
(3) Nay thuộc tỉnh Long An.
(4) Tổ Huệ Đăng thuộc đời thứ 41dòng thiền Lâm Tế, chi phái Liễu Quán, thế danh Lê Văn Hòa, pháp danh Thiên Thức, húy Thanh Kế, hiệu Huệ Đăng, quê ở xã An Dõng, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, miền trung Việt Nam.
(5) Sư thuộc đời thứ 42, chi phái Chúc Thánh, tông Lâm Tế, thế danh Lê An, pháp danh Thị An, hiệu Phước Bình, quê ở làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, 12 tuổi xuất gia, 22 tuổi thọ giới cụ túc. Sư vào Nam tu học. Giới đức tinh nghiêm, giảng dạy tại các trường Phật hoc, Sư được suy cử chức Giám Luật Viện Tăng Thống, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Hội Đồng Chứng Minh Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Sư tịch ngày 29 tháng 10 năm Giáp Tý (1984), thế thọ 84 tuổi, tăng lạp 59 mùa.
(6) Viện trưởng viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
(7) Chánh đại diện Phật Giáo quận Bảy, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
(8) Chánh đại diện Phật Giáo quận Hai, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
(9) Viện Tăng Thống và viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
(10) Tông trưởng tông Thiên Thai Giáo Quán.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/05/202004:19(Xem: 1851)
Tiểu sử Đức Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN – Đại Lão Hòa Thượng THÍCH TỊNH KHIẾT , Đệ nhất Tăng Thống - HT Thích Tịnh Khiết, Hòa Thượng thế danh là NGUYỄN VĂN KỈNH. Ngài sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (nhằm ngày 17.12.1891)(1) tại làng Dưỡng Mong Thượng, tổng Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Nay là thôn Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của ngài là cụ Nguyễn Văn Toán, thân mẫu là cụ bà Tôn Nữ Thị Lý. Ngài là con thứ hai(2). Bào huynh là Hòa Thượng Trừng Hương – Tịnh Hạnh (chúng tôi chưa tìm thấy thế danh của ngài). Hòa Thượng Tịnh Hạnh sinh năm Kỷ Sửu, 1889; xuất gia năm Ất Tỵ, 1905; thọ Cụ-túc giới năm Canh Tuất, 1910; trụ trì chùa Tường Vân, Huế; viên tịch năm Quý Dậu, 1933.
06/05/202003:48(Xem: 6114)
Công đức hoằng khai nhiếp hóa của Ngài cao hơn núi cao Tấm lòng từ bi độ lượng của Ngài sâu hơn biển sâu Chữ nghĩa của trần gian làm sao phô diễn
04/05/202006:21(Xem: 2344)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
02/05/202005:16(Xem: 14216)
Trang nhà Quảng Đức vừa nhận được tin buồn: Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch vào lúc 21 giờ 20 phút ngày Thứ Bảy 22/02/2020 nhằm ngày 29/01 Âm lịch năm Canh Tý, Phật lịch 2563 tại Chùa Từ Hiếu, Phường 1, Quận 8, Sài Gòn. Trụ thế: 93 năm. Chương trình tang lễ sẽ được công bố trong thời gian sớm nhất có thể. Chúng con thành kính nguyện cầu Đức Đại Lão Hòa Thượng Cao Đăng Phật Quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta Ba để tiếp tục công cuộc hoằng Pháp lợi sanh. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
29/03/202007:48(Xem: 2212)
Hòa thượng Thích Đồng Chơn thế danh là Bùi Văn Bảy, sanh năm Đinh Hợi (1947), nguyên quán thôn Trung Tín, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định - nay là thị trấn Tuy Phước, huyện Tuy Phước. Thân phụ của Ngài là Bùi Tân, Pháp danh Đồng Niên, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Hội, Pháp danh Đồng Hiệp
05/05/202006:23(Xem: 9969)
Như Áng Mây Bay là một phần thành quả của sự huân tập ý đạo, là một phần của cuộc hành trình đầy mạo hiểm mà ta gọi là kiếp người.
20/06/202004:03(Xem: 2897)
Trưởng lão Hòa thượng thượng NGUYÊN hạ TỊNH tự LƯU THANH Đạo Hiệu NGÂN BÌNH. ( 1941-2020 ). Thuận thế vô thường thu thần viên tịch vào lúc 11h30 ngày 19 tháng 06 năm 2020 (nhằm ngày 28 tháng tư nhuận năm Canh tý). Trụ thế : 80 năm Hạ lạp : 55 năm Tang lễ được cử hành theo chương trình như sau: - Lễ cung thỉnh nhục thân nhập kim quan: vào lúc 17h00 ngày 20 tháng 06 năm 2020 (nhằm ngày 29 tháng 04 nhuận năm Canh tý). - Kim quan tôn trí tại Tổ Đình Trúc Lâm, Tp. Huế. - Lễ phụng tống kim quan nhập bảo tháp tại Tổ Đình Trúc Lâm cử hành vào lúc 6h00 ngày 24 tháng 06 năm 2020 (nhằm ngày 04 tháng 05 năm Canh tý).
28/06/202018:15(Xem: 594)
Bức tượng được sơn son thếp vàng, tạc hình ảnh một nhà vua mặc triều phục đang quỳ gập người, hai bàn tay cung kính mở rộng để trên mặt đất, còn bên trên lưng là một pho tượng Phật cao lớn ngồi trên tòa sen nằm đè lên.
11/01/201913:22(Xem: 3081)
Co lẽ mùa trăng Thành Đạo 2562 – 2018 sẽ khó quên đối với nhạc sĩ Hằng Vang và gia đình, khi giữa bao cơn lốc thực dụng xâm chiếm nhiều ngõ ngách cuộc sống và lấn sang cả khu vực luôn được bảo trọng của tâm hồn trong từng con người: Trái tim ! Nếu nói về một sự tưởng thưởng hay tri ân thì nhạc sĩ Hằng Vang có thể còn đi bên trên những khuôn sáo, danh vọng đó. Hơn thế nữa sẽ không ai có thể nhân danh để ghi nhận sự tận tâm , cống hiến gần cả cuộc đời cho âm nhạc Phật giáo mà không hề đòi hỏi một đồng lương, một phần thưởng nào trong suốt 86 năm dài tận tụy của người nhạc sĩ lão thành hiện đang còn sống duy nhất bên chúng ta.
01/04/201704:22(Xem: 7834)
Trọn một ngày làm nhà tu hành – ăn như sư, ngủ cạnh sư, thiền và đọc kinh cùng sư, lao động cùng sư. Có những lúc đã cảm thấy phát điên về sự chậm rãi trong hoạt động, sự khắc khổ trong cuộc sống. Nhưng cũng ngộ ra nhiều điều! Và 24 giờ đó quả là kinh nghiệm đặc biệt trong đời làm báo. Vào những tháng đông đầu năm 1998, khi đang làm việc cho đài phát thanh NHK của Nhật Bản, tôi đề xuất chủ đề tôn giáo với mục đích giới thiệu đầy đủ hơn về các đạo tồn tại ở Nhật cho thính giả Việt Nam, bên cạnh Thần đạo đã được nói đến quá nhiều. Nhưng việc đi thực tế trong lĩnh vực này không đơn giản. May được một đồng nghiệp người Nhật tích cực tìm kiếm và phát hiện một ngôi chùa có thu nhận người nước ngoài. Mọi công việc thu xếp qua điện thoại và… email do người bạn Nhật đảm trách, và đúng ngày hẹn tôi khoác balô lên đường.