Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Pháp Tự Tứ của Tăng

24/07/201101:42(Xem: 2110)
Pháp Tự Tứ của Tăng

PHÁP TỰ TỨ CỦA TĂNG
Thích Thái Hòa

I -Ý nghĩa và duyên khởi

phapancu2Tự tứ tiếng Pàli Pavàranà; Phạn là pravàranà, Hán phiên âm là bát-hòa-la, bát lợi ba thích noa và dịch là tự tứ, thỉnh thỉnh, tùy ý, tùy ý sự, mãn túc, hỷ duyệt,…

Pravàranà,Phật đà thập và Trúc đạo sinh dịch là Tự tứ ( Ngũ phần luật 19, Đại chính 22,tr 130c). Tự là tự mình, tứ là buông ra. Nghĩa là vị tỷ kheo sau khi hạ an cư đủ ba tháng, tự mình buông ra lời nói thỉnh cầu một vị tỷ kheo khác đầy đủ năm đức,chỉ điểm những lỗi lầm cho mình qua ba mặt thấy, nghe và nghi, giúp cho mình biết và tự mình cầu xin sám hối để được thanh tịnh.

Ý nghĩa tự tứ là vậy, nên ở Trung A Hàm, Tăng già đề bà dịch là thỉnh thỉnh(Trung A Hàm 29, Thỉnh Thỉnh kinh, Đại Chính 1, tr 610); ở Căn bản nhất thiết hữu bộ tỳ nại da, Nghĩa Tịnh dịch là Tùy ý sự (Đại Chính 23, tr 1044). Nghĩa là pháp tự tứ là tỷ kheo sau khi hạ đủ, tùy ý thỉnh tỷ kheo khác đủ năm đức chỉ bày cho ba sự gồm: Thấy việc sai lầm chỉ bày cho mình; nghe việc sai lầm chỉ bày cho mình và nghi ngờ việc sai lầm chỉ bày cho mình, để tự mình thấy có tội thì như pháp sám hối, khiến thân tâm trở lại thanh tịnh. Do sau khi mãn hạ, sám hối đúng pháp đối với ba sự: kiến, văn và nghi, nên gọil à mãn túc và tự mình sinh tâm vui mừng, sau khi đã sám hối ba sự đúng pháp và được thanh tịnh, để nhận thêm tuổi hạ, nên gọi là hỷ duyệt. Và ở Luật Tứ Phần 37, Phậtđà da xá và Trúc phật niệm dịch là cầu thính. (Đại chính 22, tr 836b).

PhápTự tứ, một năm chỉ xẩy ra cho tỷ kheo Tăng một lần, sau khi hạ đủ. Nghĩa là tácpháp kết giới an cư vào ngày mười sáu tháng tư, thì thời điểm tự tứ thích hợp đốivới Tăng là ngày rằm tháng bảy. Và nếu tác pháp kết giới hậu an cư, tức là vàongày mười bảy tháng tư, thì thời điểm thích hợp cho Tăng tác pháp tự tứ là ngàymười sáu tháng bảy,…

Tuyvậy, nhật kỳ tự tứ, Tăng có thể thay đổi để thích ứng những nhu cầu tu học thựctế, nhưng Tăng phải tác pháp yết ma. (Tứ Phần Luật 38, Đại chính 22, tr 840b).

Nóitóm lại, thời gian thích hợp để Tăng tác pháp tự tứ là thời gian sau khi hạ đủ.Và tự tứ của Tăng tỷ kheo một năm chỉ xảy ra một lần sau khi hạ đủ mà thôi.

Mụcđích của Tăng tự tứ là ngoài việc biểu hiện cụ thể bản thể hòa hợp và thanh tịnhcủa Tăng, còn xác định cụ thể sự tăng trưởng lớn mạnh về Giới- định- tuệ của mộtvị tỷ kheo, sau khi hạ mãn và chấm dứt kỳ hạn an cư, và các tỷ kheo lại tiếp lênđường hoằng pháp.

Theokinh Thỉnh Thỉnh, bấy giờ tại Tu viện Trúc lâm, vườn Già lan đà, ở Thành Vương-xá, cùng với chúng đại tỷ kheo năm trăm vị đều có mặt cùng ngồi thọ hạ. Bấy giờngày trăng thứ 15, từ tâm giải thoát, Đức Thế Tôn nói về hình thức Thỉnh thỉnh.

Ngàidạy các tỷ kheo rằng: Quý vị là đệ tử chân thực của ta, từ nơi miệng mà phápsanh ra, được chuyển hóa bởi pháp, quý vị hãy dạy cho nhau, tuần tự dạy nhau thỉnh cầu chỉ điểm.

Bấygiờ Tôn giả Xá lợi phất theo đúng phép tắc cầu thỉnh, đã đến trước Đức Thế Tônchấp tay cung kính xin thỉnh Ngài chỉ giáo về các hành vi của thân, ngữ và ý. ĐứcThế Tôn nói, Ngài không có phiền trách gì đến các hành vi thân, ngữ và ý của Tôngiả. Ngài khen Tôn giả là bậc thông tuệ, đại tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ,quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt tuệ và thành tựu thực tuệ,…

Tôn giả Xá Lợi Phất, bạch Thế Tôn rằng, đối vớicác hành vi thân, ngữ, ý của năm trăm tỷ kheo, Ngài có phiền trách gì không? ThếTôn dạy, đối với các hành vi của năm trăm tỷ kheo nầy, Ngài cũng không có gìphiền trách cả. Vì sao? Vì các vị nầy đã đạt đến chỗ không còn mắc kẹt, các lậuhoặc đã đoạn tận, phạm hạnh đã thiết lập, điều đáng làm đã làm, đã xả bỏ sự táisinh đời sau,…

Vìvậy, tôi không có gì phiền trách, các hành vi thuộc về thân, ngữ và ý của nămtrăm vị tỷ kheo nầy.

Nhưvậy, duyên khởi của pháp tự tứ, sau khi mãn hạ đã được ghi lại ở kinh Thỉnh Thỉnhnầy. (Trung A hàm 29, Đại chính 1, tr610a).

Lạitheo Luật Tứ Phần 37, duyên khởi pháp tự tứ là pháp cầu thính. Bấy giờ nhóm sáutỷ kheo nói với nhau như vậy: “Đức Phật dạy: Các Tỷ kheo phải cùng dạy bảonhau, cùng nhau trao đổi, giác ngộ cho nhau”. Họ liền cử tội tỷ kheo thanh tịnh.Các Tỷ kheo đến bạch đức Thế Tôn, Ngài dạy: “Không được vô cớ cử tội người vô tội.Nếu muốn cử tội tỷ kheo hữu sự, trước hết phải nói cho vị ấy biết, để vị ấy cầuthính, sau đó mới được cử”. (Đại chính 37, tr 836a).

Cầuthính là cầu nghe vị tỷ kheo khác cử tội. Người được thỉnh cầu nghe cử tội, ngườiấy phải có đủ năm pháp gồm: - Tri thời, nghĩa là biết đúng lúc cử tội và không đúnglúc cử tội. - Như thực, nghĩa là phải biết đúng pháp mà cử tội, chứ không phải khôngbiết mà cử tội. - Hữu lợi ích, nghĩa là biết cử tội đem lại lợi ích cho ngườithỉnh cầu, chứ không phải không có lợi ích. - Nhu nhuyến, nghĩa là dùng lời nóidịu dàng để cử tội chứ không thô lỗ, sân hận - Từ tâm, nghĩa là cử tội với từ tâmmà không sân hận (Đại chính 22, tr 836b).

ĐứcPhật dạy, một tỷ kheo phải đầy đủ năm pháp ấy, mới được phép nhận sự cầu thínhcủa các tỷ kheo khác. Và tỷ kheo đã nhận sự cầu thính cử tội, thì không được tựý bỏ đi nơi khác.

Cũngtheo luật Tứ Phần 37, nhóm tỷ kheo sáu người đã hứa khả cầu thính cho tỷ kheokhác, rồi tự ý bỏ đi. Các tỷ kheo thanh tịnh đem việc nầy trình lên Đức Phật,Ngài dạy: “Không được hứa với người rồi tự ý bỏ đi; không được nhận lời hứa củangười, rồi tự ý bỏ đi. Từ nay cho phép an cư rồi tự tứ. Cho phép tự tứ khỏi phảicầu thính. Tại sao? Vì tự tứ chính là thính” (Đại chính 22, tr 836b).

Nhưng,duyên khởi Tự tứ, theo Luật ngũ phần: Do các tỷ kheo nói với nhau rằng, chỉ cóA la hán mới xứng đáng chỉ bảo cầu thính. Nhân đây, đức Phật dạy pháp Tự tứ (Ngũ Phần Luật, Đại chính 22, tr 131b).

II -Tăng Số Và Tác Pháp

Túcsố Tăng để tiến hành tác pháp yết ma tự tứ tối thiểu là năm vị tỷ kheo. Vìtrong đó, một vị được Tăng bạch nhị yết ma cử làm tự tứ nhân. Và sau khi Tăng đãcử tự tứ nhân xong, thì từ vị Thượng tọa xuống đến vị tân tỷ kheo đều lần lượctừng vị đối diện với vị tự tứ nhân nói lời yêu cầu chỉ điểm về tam sự gồm kiếntội, văn tội và nghi tội, để cho đương sự nếu thấy có tội, thì đúng như pháp màsám hối. Và nếu Tăng chỉ có bốn vị, thì không thể tiến hành tác pháp yết ma cử tựtứ nhân chỉ điểm tam sự, mà chỉ thực hành pháp đối thủ tự tứ. Nghĩa là một vị tỷkheo đối diện với một tỷ kheo khác hoặc quỳ, hoặc đứng để nói lời tự tứ. Và nếumột tỷ kheo thì chỉ có tâm niệm tự tứ.

Trongpháp tự tứ có những trường hợp được dự dục, nếu tỷ kheo có những duyên sự nhưpháp. Và tỷ kheo gởi dự dục với một tỷ kheo và nhờ vị ấy bạch lại với Tăng thìchỉ nói hòa hợp mà không cần phải nói thanh tịnh. Vì sao? Vì tự tứ là đương sự tựnguyện, tự giác yêu cầu trực tiếp tự tứ nhân chỉ điểm cho ba sự để sám hối cho đượcthanh tịnh. Nên, dự dục đối với tự tứ chỉ nói hòa hợp mà không nói thanh tịnh làvậy. Một tỷ kheo có thể nhận gởi dục tự tứ từ nhiều người. (Tứ Phần Luật 38, Đạichính 22, tr 838b).

III -Tăng Pháp Tự Tứ

Tăngpháp tự tứ có hai giai đoạn tiến hành:

*-Giai đoạn tiến hành tiền phương tiện:

Saukhi khi nghe Pháp hiệu tập Tăng, các tỷ kheo như pháp tuần tự vào giới trường, saukhi mỗi vị đã an trú tĩnh tọa đúng vị trí. Thượng tọa bỉnh pháp pháp hỏi:

- Tăng đã họp chưa?

Duy na đáp:

- Tăng đã họp.

Thượng tọa hỏi:

- Hòa hiệp không?

Duy na đáp:

- Hòa hiệp.

Thượng tọa hỏi:

- Người chưa thọ cụtúc đã ra chưa?

Duy na đáp:

- Đã ra.

Thượng tọa hỏi:

- Các tỷ kheo khôngđến có thuyết dục tự tứ không?

Nếu có, duy na đáp: Dạ có. Có tỷ kheo,… có “gởi dục tựtứ”, xin bạch như vậy. Nếu không có, duy na đáp: Dạ không.

Thượng tọa hỏi:

- Có ai sai tỷ-kheo-niđến thỉnh giáo giới tự tứ không?

Nếu không, duy na đáp không. Nếu có, duy na đáp có. Vàgọi tỷ-kheo-ni thọ sai vào giới trường, vị ấy đảnh lễ đại Tăng, quỳ xuống và bạch:

“Bạch Đại đức Tăng! Đệ tử chúng con, tỷ-kheo-ni Tăng,trú xứ,… hạ an cư đã xong. Ni Tăng sai chúng con tỷ-kheo-ni đến đại Tăng, vì tỷ-kheo-niTăng cầu nói ba sự tự tứ, là các tội được thấy, được nghe và được nghi. Ngưỡng mongĐại đức Tăng rũ lòng thương tưởng chỉ giáo. Nếu chúng con thấy có tội sẽ như phápsám hối. (nói ba lần).

Bấy giờ trong Tăng, tỷ kheo nào thấy có điều gì cần chỉgiáo ba việc kiến, văn và nghi đối với Ni chúng thì nói, nếu không thì tất cả đềuim lặng. Và sau đó Thượng tọa có lời giáo giới đối với Ni chúng rằng:

“Trong đại Tăng, từ trên xuống dưới thảy đều im lặngnhư vậy, thật do Ni chúng bên trong chuyên cần ba nghiệp, bên ngoài vô sự, chonên không có điều gì trái phạm. Tuy nhiên như vậy, các vị hãy nói lại với Ni chúng,đại Tăng có giáo sắc rằng: Ni chúng như pháp mà tự tứ, cẩn thận chớ buônglung”.

Tỷ-kheo-ni thọ sai đáp:

“Y giáo phụng hành”. Rồi đảnh lễ Tăng và lui ra.

Thượng tọa hỏi:

- Tăng nay hòa hợp đểlàm gì?

Duy na đáp:

- Yết ma tự tứ.

*- Giai đoạn Tăngtác pháp tiến hành chính thức tự tứ:

Giai đoạn nầy có ba phần như sau:

1 - Tăng Yết MaSai Tự Tứ Nhân:

Tựtứ nhân hay còn gọi là Ngũ đức sư. Ấy là người Tăng tác pháp Bạch nhị yết ma cửlàm người tự tứ. Một lần Tăng yết ma chỉ đựợc phép cử từ một đến ba vị. Không đượcphép cử bốn, vì bốn vị trở lên thành túc số của Tăng. Tăng không thể cử Tăng. Tăngcử Tăng là phi pháp.

TheoLuật Tứ Phần, vị được Tăng cử làm người tự tứ phải hội đủ năm đức tính:

a -Bất ái: Nghĩa là khi nhận làm việc Tăng sai chỉ tộitỷ kheo khác, sau khi hạ mãn qua ba việc kiến, văn và nghi, vị nầy không có tâmthiên ái.

b -Bất sân: Nghĩa là khi nhận làm việc Tăng sai chỉ tộicho vị tỷ kheo khác, sau khi hạ mãn, qua ba việc kiến, văn và nghi, vị nầy khôngđược có tâm sân hận, thù ghét.

c -Bất bố: Nghĩa là khi nhận làm việc Tăng sai chỉ tộicho vị tỷ kheo khác, sau khi hạ mãn, qua ba việc kiến, văn và nghi, vị nầy khôngđược có tâm sợ hãi.

d -Bất si: Nghĩa là khi nhận làm việc Tăng sai chỉ tộivị tỷ kheo khác, sau khi mãn hạ, qua ba việc kiến, văn và nghi, vị nầy không đượccó tâm mù quáng.

e -Tri tự tứ vị tự tứ: Nghĩa là khi nhận làmviệc Tăng sai chỉ tội vị tỷ kheo khác,sau khi mãn hạ, phải biết rõ các tỷ kheo cùng trong trú xứ, vị nào đã được chỉtội theo pháp tự tứ và vị nào chưa được chỉ tội theo pháp tự tứ. (Đại chính 22,tr 836b).

Đối với đức tính thứ 5 nầy, theo Ngũ phầnluật 19, là “Tri thời, tri phi thời”). Biết tự tứ đúng thời và biết tự tứ khôngđúng thời (Đại chính 22, tr131a).

Sau hỏi tiền phương xong, Thượng tọa bỉnh pháptiếp tục hỏi:

- Trong chúng có vị nhân giả nào kham năng làm ngườinhận tự tứ nhân không?

Vị tỷ kheo hội đủ năm đức tính cần thiết để làm ngườinhận tự tứ tự đáp:

- “Tôi tỷ kheo,…kham năng”.

- Thượng tọa bỉnhpháp Bạch nhị yết ma Tăng sai tự tứ nhân:

Văn Yết ma như sau:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đốivới Tăng, Tăng chấp thuận sai tỷ kheo có tên,…làm người thọ tự tứ. Đây là lời tácbạch!”.

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tăng sai tỷ kheo có tên,…làm người thọ tự tứ. Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng sai tỷ kheo có tên,…làm ngườithọ tự tứ thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói”.

“Tăng đã chấp thuận sai tỷ kheo có tên,… làm người thọtự tứ nhân rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc nầy tôi ghi nhận như vậy”.(Đại chính 22, tr836bc).

2- Đơn Bạch TựTứ:

Các tỷ kheo thọ sai, từ chỗ ngồi đứng dậy bước ra đảnhlễ Tăng. Một trong ba vị được thọ sai bạch Tăng chính thức tác pháp tự tứ.

Văn bạch:

Đại đức Tăng,xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay hòa hợp tự tứ.Đây là lời tác bạch”.(Đại chính 22, tr 837a).

3- Chính ThứcTự Tứ:

Thượng tọa bỉnh pháp nói tự tứ trước. Tiếp theo các vịtự tứ nhân nói tự tứ với nhau. Sau đó lần lược các tỷ kheo từ một đến ba vị nóitự tứ. Nếu tự tứ nhân đến, mà đứng, thì người nói tự tứ

có thể đứng hoặc quỳ; nếu vị tự tứ nhân quỳ, thì ngườinói tự tứ phải quỳ.

Văn nói tự tứ như sau:

Đại đức nhấttâm niệm. Hôm nay chúng Tăng tự tứ. Tôi tỷ kheo,… cũng tự tứ. Nếu có tội đượcthấy , được nghe và được nghi, nguyện Đại đức thương tưởng chỉ giáo cho tôi.Nếu tôi thấy có tội, sẽ như pháp sám hối”. (nói ba lần). (Đại chính 22, tr837a).

Người nhận tự tứ đáp: Thiện. Người tự tứ đáp: Nhĩ.

Sau khi các tỷ kheo tuần tự tự tứ xong. Vị tự tứ nhânbước ra giữa Tăng bạch: “Tăng nhất tâm tựtứ đã xong”.

Sau khi vị tự tứ nhân bạch Tăng xong. Phần còn lại làhồi hướng.

VI - CácPháp Tự Tứ Khác:

1- Tự tứ vắntắt:

Nếu vì nạn duyên không đủ thời gian để Tăng tiến hành đúngTăng pháp tự tứ, thì phải tự tứ vắn tắt. Nhưng muốn tự tứ vắn tắt thì phải yếtma.

Văn bạch: “Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gianthích hợp đối với Tăng, Tăng nay mỗi mỗi đồng loạt nói tự tứ ba lần. Đây là lớitác bạch”.( Đại chính 22, tr839a).

Do gặp một trong tám nạn duyên, thì mới tiến hành tự tứvắn tắt. Tám nạn duyên gồm: - Nạn vua. - Nạn giặc. - Nạn lửa. - Nạn nước. - Nạnbệnh. - Nạn người. - Nạn phi nhân. - Nạn độc trùng. (Đại chính 22, tr 838c).

Hoặc do bị chướng sự, nên tiến hành tự tứ vắn tắt. Cácchướng sự gồm: - Chúng đông mà giới trường lại hẹp. – Trong Tăng có quá nhiều tỷkheo bệnh, không thể ngồi hoặc quỳ lâu. - Trời mưa lớn. - Gặp đại thí hội mà đêmđi qua đã lâu. - Chướng ngại do đấu tranh. - Hoặc bàn luận A tỳ đàm, đoán sự tỳni, thuyết pháp,… mà đêm đi qua đã lâu, chúng Tăng chưa đứng dậy, nên tự tứ vắntắt. Đại chính 22, tr 838c).

Nếu không có nạn duyên và chướng sự mà tự tứ vắn tắt làphạm tác. Phạm tác là phạm vào những học xứ quy định làm mà không làm, hoặc làmsai.

2- Tự tứ đốithủ:

Nếu Tăng không đủ túc số năm người, không thể tiến hànhtheo Tăng pháp tự tự, thì thực hành theo tự tứ đối thủ. Nghĩa là nếu bốn người,thì một người quỳ xuống bạch với ba người; nếu ba người, thì một người quỳ xuốngbạch với hai người và nếu hai người, thì hai người quỳ đối diện với nhau mà tácbạch để tự tứ.

Văn nói tự tứ đối thủ:

Ngày nay chúngTăng tự tứ. Tôi tỷ kheo ,… cũng tự tứ thanhtịnh”.(Đại chính 22, tr 837c).

3- Tự tứ tâmniệm:

Nếu một mình tỷ kheo, thì y hậu tề chỉnh, tâm niệm vàogiới trường hay quỳ trước bàn Phật, nghĩ đến ngày tự tứ Tăng, miệng nói: “Hôm nay ngày chúng Tăng tự tứ, tôi tỷ kheo,…thanh tịnh”.(nói ba lâần ).(Đại chính 22, tr 837c- 838a1).

V -Triển HạnNhật Kỳ Tự Tứ:

Tăng triển hạn nhật kỳ tự tứ có hai trường hợp:

1- Do tu tập:

Do thời gian an cư, các tỷ kheo Tăng tu tập về giới, định,tuệ một cách tinh cần, nên có nhiều an lạc. Vì vậy muốn kéo dài thêm thời gianan cư để thuận lợi cho sự đoạn trừ các lậu hoặc và chứng đắc các Thánh quả Niếtbàn. Trường hợp nầy, Tăng có thể tác pháp yết ma triển hạn nhật kỳ tự tứ tối đalà một tháng.

Tăng trong trú xứ tập hợp tại giới trường, Thượng tọabỉnh pháp bạch Tăng:

“Đại đứcTăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng ngày hôm naykhông tự tứ. Đợi đủ bốn tháng an cư xong sẽ tự tứ. Đây là lời tác bạch”.(Đại chính 22, tr 840b).

2- Do Tăng chưa được thanh tịnh và hòa hợp:

Do các tỷ kheo ở trong cùng một trú xứ có tránh sự màchưa như pháp dập tắc, hoặc do có các tỷ kheo từ trú xứ khác đến, Tăng tại trúxứ an cư chưa sắp xếp yên ổn, nên triển hạn nhật kỳ tự tứ. Văn bạch Tăng:

“Đại đứcTăng, xin lắng nghe! Ngày hôm nay Tăng không tự tứ. Đợi đến ngày 15 (hoặc 16)tháng đến sẽ tự tứ. Đây là lời tác bạch”.( Đại chính 22, tr 840c).

Nếu đã hết kỳ triển hạn mà sự tranh chấp giữa các tỷkheo chưa được dập tắt như pháp, Tăng có thể triển hạn thêm 15 ngày nữa. Hết thờikỳ triển hạn mà Tăng trong trú xứ chưa hòa hợp, hay các tỷ kheo khách cũng chưarời khỏi trú xứ, thì phải y luật cưỡng bức các tỷ kheo tránh sự phải hòa hợp đểtự tứ, nếu không được, các tỷ theo thanh tịnh đồng ra khỏi cương giới của trú xứkết tiểu giới để tự tứ. Tự tứ xong, giải tiểu giới.

VI - Các Trường Hợp Ngăn Tự Tứ:

1- Phạm Tăng tàn:

Trong trú xứ có tỷ kheo phạm Tăng tàn, tùy theo mức độphạm tội mà Tăng yết ma cho vị ấy hành pháp đúng theo mức độ phạm tội rồi, mớitự tứ.

2- Phạm Ba dật đề:

Trong trú xứ có tỷ kheo phạm học giới, có người bảo rằng,đó là phạm Ba dật đề, hoặc có người bảo rằng, đó là phạm Ba la đề đề xá ni, Tăngcử một tỷ kheo thanh tịnh, đến dẫn vị tỷ kheo phạm Ba dật đề ấy, hoặc Ba la đề đềxá ni ấy, ra khỏi vị trí giới trường mà mắt thấy Tăng tác pháp, nhưng tai khôngnghe được lời tác pháp của Tăng, khuyên bảo vị tỷ kheo phạm Ba dật đề ấy sám hối.Sau đó vị tỷ kheo thanh tịnh dẫn vị tỷ kheo phạm giới ấy đến trước Tăng thưa rằng:“ Tỷ kheo phạm tội, tôi đã bảo sám hối rồi”. Phải phương tiện tác pháp như vậyrồi mới tự tứ.

3- Phạm Thâu lan giá:

Trong một trú xứ, có tỷ kheo phạm Thâu lan giá, có ngườibảo rằng đó là phạm Thâu lan giá, hoặc có người bảo rằng, đó là phạm Ba la di,khiến có thể dẫn đến sự tranh cãi, không hòa hợp. Nếu sợ bản thể của Tăng bị vỡ,thì việc tự tứ của Tăng phải dời qua một thời gian thích hợp khác.

4- Ngăn Tự tứ vô căn cứ:

Ngăn cản tỷ kheo không có căn cứ, không đưa ra đượcnguyên nhân, việc ngăn cản như vậy không thành. Tỷ kheo không thanh tịnh không đượcngăn cản tỷ kheo thanh tịnh tự tứ.

5- Ngăn tự tứ có căn cứ:

Ngăn cản tỷ kheo tự tứ có căn cứ, có tác nhân, gọi làngăn tự tứ có căn cứ.

6- Ngăn tự tứ khi đang nói:

Ngăn tự tứ khi đang nói một lần hoặc hai lần, gọi làngăn tự tứ khi đang nói. Khi chưa nói hoặc đã nói xong, không thể gọi là ngăn tựtứ.

7- Ngăn tự tứ bởi người không thanh tịnh:

Người không thanh tịnh về thân, về ngữ, về ý, không cótrí, không biết rõ ràng, không biết hỏi, không biết trả lời, đối với những ngườinhư vậy không thể ngăn tự tứ, nên Tăng vẫn tiến hành tự tứ.

8- Ngăn tự tứ bởi thân nghiệp thanh tịnh:

Người thân nghiệp thanh tịnh, nhưng ngữ nghiệp khôngthanh tịnh, ý nghiệp không thanh tịnh, không có trí, không có nhận biết rõ ràng,không biết hỏi, không biết trả lời, đối với người như vậy, không thể ngăn tự tứ,nên Tăng vẫn tiến hành tự tứ.

9- Ngăn tự tứ với thân nghiệp và khẩu nghiệp thanh tịnh:

Đối với người thân nghiệp, khẩu nghiệp thanh tịnh, nhưngý nghiệp không thanh tịnh, không có trí, không nhận biết rõ ràng, không biết hỏi,không biết trả lời, đối với người như vậy, không thể ngăn tự tứ, nên Tăng vẫntiến hành tự tứ.

10- Ngăn tự tứ với ba nghiệp thanh tịnh, có trí, có phânminh, có biết hỏi và biết đáp:

Nếu vị tỷ kheo nầy ngăn vị tỷ kheo khác không cho tự tứ,các tỷ kheo khác, nên hỏi vị tỷ kheo ngăn ấy rằng: Vì sao Thầy ngăn tỷ kheo nầytự tứ? Vì do phạm giới, phá kiến, hay phá oai nghi?

Vì ấy trả lời, vì phạm giới. Các tỷ kheo, nên hỏi làphạm giới nào? Nếu nói phá kiến, thì hỏi phá kiến nào? Nếu nói phá oai nghi, thìhỏi phá oai nghi nào? Nếu vị ấy trả lời là do có một trong ba mà ngăn. Nếu hỏicặn kẽ một trong ba ấy, không trả lời được cụ thể, Nên, đối với giới, họ nói phạmBa la di, thì Tăng chỉ xử lý ngang mức tội Tăng tàn, rồi Tăng mới tự tứ. Nếu họnói tội Tăng tàn, thì Tăng chỉ xử lý ngang mức tội Ba dật đề, rồi sau đó tự tứ,…Nghĩa là vị ấy chỉ đưa ra tội danh mà không đưa ra đầy đủ các yếu tố phạm tội,thì Tăng sẽ xử trị dưới mức tội của người ấy đã đưa ra để ngăn người phạm tộitrước khi tự tứ. Và nếu người ngăn tự tứcó trí trả lời rõ ràng, chứng cứ cụ thể về tội Ba la di của người phạm giới đểngăn tự tứ, thì Tăng phải làm phép diệt tẫn người phạm tội ấy, trước khi tự tứ.

11- Ngăn tự tứ từ ba sự:

Ngăn tự tứ từ ba sự gồm: Kiến, văn và nghi. Nếu do từ basự nầy mà ngăn tự tứ? Các tỷ kheo hỏi tỷ kheo ngăn tự tứ rằng: Trong ba sự, Thầydo sự nào mà ngăn tự tứ? Nếu vị ấy trả lờitừ một trong ba sự một cách cụ thể hay không cụ thể, thì phải tùy theo những chứngcứ trong sự trả lời của vị ấy, sau đó đúng như pháp mà xử trị, rồi tự tứ. (Thamkhảo Tứ Phần Luật 38, Đại chính 22, tr 839a -840b).

VII -Tự TứLiên Hệ Giữa Cựu và Khách:

Theo Luật Tứ Phần 38, tự tứ liên hệ giữa cựu trú tỷkheo và khách tỷ kheo như sau:

1- Trú xứ có khách tỷ kheo đến với số lượng nhiều:

Ngày tự tứ, trú xứ nào có khách tỷ kheo đến, các kháchtỷ kheo biết những cựu trú tỷ kheo chưa vào giới trường, nhưng họ nói rằng,:“Chúng ta có năm người hay hơn năm người, có thể tác pháp yết ma tự tứ”. Và họliền tác pháp yết ma tự tứ. Trong khi họ tác pháp yết ma tự tứ, các cựu trú tỷkheo đến giới trường với số ít, nếu là hàng Thượng tọa, thì theo thứ tự của hàngThượng tọa mà tự tứ. Nếu là hàng Hạ tọa, thì theo thứ tự của hàng Hạ tọa mà tựtứ.

Nếu những cựu trú tỷ kheo đến giới trường với số lượngít, các khách tỷ kheo đã tự tứ xong, cả chúng chưa đứng dậy, hay hầu hết chưa đứngdậy, hoặc đều đã đứng dậy, thì các cựu trú tỷ kheo phải nói: “Thanh tịnh tự tứ”.Nếu không nói như vậy, là sai luật sẽ bị xử trị như pháp.

2- Trú xứ có tỷ kheo khách đến với số lượng bằng:

Nội dung như điều 1, nhưng số lượng cựu trú tỷ kheo đếngiới trường bằng số lượng của khách tỷ kheo, thì các khách tỷ kheo, nên tác phápcùng tự tứ lại, nếu không là sai luật, sẽ bị xử trị như pháp.

3- Trú xứ có tỷ kheo khách đến với số lượng ít:

Nội dung như điều 1 và 2, nhưng số lượng cựu trú tỷkheo đến giới trường nhiều, số lượng tỷ kheo khách ít, dù tỷ kheo khách tự tứ rồi,cũng nên cùng với các tỷ kheo cựu trú tự tứ lại, nếu không là sai luật, sẽ bị xửtrị như pháp.

4- Trú xứ có cựu trú tỷ kheo nhiều, khách tỷ kheo ít:

Ngày tự tứ, trú xứ nào, có các cựu trú tỷ kheo nhiều,họ đến giới trường và họ biết rằng, các tỷ kheo khách chưa đến, nhưng họ nói:“Chúng ta có năm người hay hơn năm người có thể tác pháp yết ma tự tứ”. Trongkhi họ tác pháp yết ma tự tứ, các tỷ kheo khách đến với số lượng ít, nếu là hàngThượng tọa, thì theo thứ tự của hàng Thượng tọa mà tự tứ; nếu là hàng Hạ tọa,thì cứ thứ tự theo hàng Hạ tọa mà tự tứ.

Nếu khi tỷ kheo khách đến tự tứ rồi, nhưng cả chúng chưađứng dậy, hoặc số đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, thì các tỷ kheo kháchđến với số lượng ít phải nói: “Thanh tịnh tự tứ”. Nếu không nói như vậy là sailuật, nên sẽ bị xử trị như pháp.

5- Trú xứ có số cựu tỷ kheo bằng số lượng tỷ kheo khách:

Nội dung như điều 4, nhưng số lượng cựu tỷ kheo và tỷkheo khách bằng nhau, thì các tỷ kheo cựu với các tỷ kheo khách

nên cùng với các tỷ kheo khách tác pháp tự tứ lại, dù đãđứng dậy hay chưa đứng dậy. Nếu các tỷ kheo cựu không tác pháp tự tứ lại là sailuật sẽ như pháp xử trị.

6- Trú xứ số cựu tỷ kheo ít, số lượng tỷ kheo khách nhiều:

Nội dung như điều 4 và 5, nhưng số lượng cựu tỷ kheo ít,số lượng tỷ kheo khách nhiều, số cựu tỷ kheo dù tác pháp tự tứ rồi, cũng nên cùngvới tỷ kheo khách tác pháp tự tứ lại. Nếu không là sai luật, sẽ như pháp xử trị.

7- Trú xứ cựu tỷ kheo có treo dấu hiệu:

Nếu ngày tự tứ, tỷ kheo khách đến nơi một trú xứ nào đó,thấy các tỷ kheo cựu trú có treo những dấu hiệu đã tự tứ, mà không tìm hỏi, liềntác pháp yết ma tự tứ. Tác pháp yết ma tự tứ như vậy là bất thành mà lại bị tội.

Nếu thấy rồi, liền tìm. Tìm được các tỷ kheo cựu trú rồi,cùng nhau hòa hợp tác pháp yết ma tự tứ. Tác pháp yết ma như vậy là thành tựu,...

8- Tỷ kheo ni, thức xoa ma na, Sa di ni đều không được phépngăn tác pháp yết ma tự tứ của tỷ kheo. Các tỷ kheo không được trước tỷ kheoni, Thức xoa ma na, Sa di ni, tác pháp yết ma tự tứ hoặc ngăn tự tứ.

9- Các cư sĩ không được ngăn tác pháp tự tứ của các tỷkheo và các tỷ kheo không được tác pháp yết ma tự tứ và ngăn tự tứ trước mặt cáccư sĩ.

Bấy giờ vua Ba tư nặc sai quân lính đến hộ vệ chúng Tăng.Các tỷ kheo nói với binh lính rằng: “Quý vị nên đi ra ngoài một chút, chúng tôimuốn tác pháp yết ma tự tứ”.

Quân lính nói: “ Nhà vua sai chúng tôi đến đây để hộ vệchúng Tăng, nên chúng tôi không dám rời đi chỗ khác”.

Các tỷ kheo liền thưa đức Phật việc ấy, Ngài dạy: “CácThầy nên yêu cầu họ tránh một lần nữa. Nếu họ tránh thì tốt, nếu họ không tránh,thì các tỷ kheo nên đến chỗ mà họ không thấy không nghe để tác pháp yết ma tự tứ,chứ không được ở trước người chưa thọ đại giới mà tác pháp yết ma tự tứ”. (Thamkhảo Tứ Phần Luật 38, Đại chính 22, tr 841a – 843b).

VIII- Tránh Những Sai Lầm Khi Thực Hành Pháp Tự Tứ

Theo Luật Tứ Phần 37, 38, những sai lầm trong khi tự tứcần phải tránh như sau:

1- Tránh đồng loạt tự tứ gây nên ồn ào. Tự tứ từng ngườimột.

2- Tự tứ theo Tăng Pháp, tỷ kheo phải tự tứ từ tự tứ nhân,không được tùy ý tự tứ.

3- Không được ngồi tại chỗ để tự tứ, phải rời chỗ ngồi vàquỳ để tự tứ.

4- Thượng tọa rời chỗ ngồi và quỳ để tự tứ, tăng tỷ kheocũng phải rời chỗ ngồi và quỳ để tự tứ.

5- Không được có ý nghĩ lén nói tự tứ, sợ tỷ kheo khác, vìmình tác yết ma hoặc ngăn mình tự tứ. Phải nói tự tứ một cách rõ ràng, đầy đủ,khiến cho người khác nghe được.

6- Không được có ý nghĩ, ta nên tự tứ nhanh; nếu không, tỷkheo khác vì ta tác yết ma ngăn tự tứ. Đức Phật cho phép an cư rồi thong thả tựtứ.

7- Không được nói tự tứ một lần, phải nói tự tứ ba lần.

8- Không được lật ngược y, quấn y nơi cổ, trùm trên đầuhoặc phủ cả hai vai để tụ tứ; không được mang dép hoặc ngồi trên giường hoặc trênđất để tự tứ. Phải trạc y bên phải, quỳ chắp tay nói lời tự tứ. Tỷ kheo bệnh,thì tùy duyên thích hợp để tự tứ.

9- Tự tứ không được ngồi ở ngoài thuyết giới đường. Tự tứnhân phải bạch Tăng, trước khi nói tự tứ.

10- Không được tự tứ phi pháp biệt chúng. Không được tựtứ phi pháp hòa hợp chúng. Không được tự tứ như pháp biệt chúng. Phải tự tứ nhưpháp hòa hợp chúng.

11- Trong trú xứ có vị tiền an cư, có vị hậu an cư thìnhật kỳ tự tứ phải thuận theo số đông để tự tứ.

12- Tự tứ vàongày mười bốn hoặc rằm, sau giờ Đại thực hay tiểu thực.

13- Vì hoàn cảnh, nếu nơi không có giới trường, Thượngtọa phải tập Tăng, bạch nhị yết ma kết tiểu giới với không gian vừa đủ cho cáctỷ kheo tự tứ ngồi kín vòng, để tác pháp tự tứ và sau khi tự tứ xong, phải bạchnhị yết ma giải tiểu giới trước khi đi.

14- Tăng năm vị, trong đó có một người thọ dục, thì khôngđược tác pháp bạch nhị yết ma cử tự tứ nhân. Vì không đủ túc số Tăng như pháp.

15- Tăng chỉ có bốn vị hiện diện, không được nhận dụccủa người thứ năm, tức là người vắng mặt. Nếu chỉ có ba người, không được nhậngởi dục của người thứ tư. Phần còn lại cũng nên hiểu như vậy.

16- Tâm niệm tự tứ không có dự dục.

17- Khi tự tứ không biết tội, không biết người, nhưngsau khi tự tứ xong lại biết tội, biết người. Tuy vậy, nhưng không được đem nhữngviệc đã qua để cử tội lại.

Khi tự tứ không biết tội, nhưng biết người. Tự tứ rồibiết tội, biết người, nhưng không được đem việc cũ của người mà cử tội lại.

Khi tự tứ biết tội, nhưng không biết người. Nhưng, nếutự tứ rồi không được đem việc cũ của người mà cử tội lại. (Tham khảo Tứ Phần Luật37, 38, Đại chính 22, từ tr 836c – 840).

IX - Sau TựTứ:

Sau tự tứ, cáctỷ kheo có thể rời khỏi trú xứ an cư để đi hoằng đạo, nhưng trước khi các tỷkheo rời khỏi trú xứ, Tăng phải tác pháp yết ma giải đại giới an cư và kết lại đạigiới của trú xứ. Vì khi an cư Tỷ kheo Tăng các nơi về tập trung đông tại trú xứ,do đó phải yết ma mở rộng đại giới, nay xuất hạ các tỷ kheo tùy duyên hoằng hóa,nên phải kết lại đại giới của trú xứ cho thích hợp.

Tăng có thể tác pháp thọ ca thi na y, để tiện việc chocác tỷ kheo cất giữ vải trong vòng ba mươi ngày đủ để may y mới, không bị phạmvào các học xứ quy định liên hệ đến việc chứa vải và rời y để nghỉ qua đêm.

Và sau khi an cư xong, thì Tăng phân chia bình đẳng cáclợi dưỡng đến các tỷ kheo, do tín đồ cúng dường suốt ba tháng, sau khi đã sử dụngcho việc an cư của Tăng còn dư lại.

X - ChánhPháp Tồn Tại

Chánh pháp tồn tại đúng ý nghĩa và có lợi ích thiết thựccho thế gian hay không là vai trò của Tăng đoàn. Tăng đoàn thực hành đúng Phápvà Luật của Phật đã chế định trong sự cùng nhau cộng trú hòa hợp và thanh tịnh,cùng nhau giải tán trong sự hòa hợp và thanh tịnh. Hòa hợp và thanh tịnh là bảnthể của Tăng đoàn và là pháp lý tồn tại của tổ chức giáo đoàn đệ tử của Đức ThếTôn trên thế gian này.

Sự tồn tại vàphát triển của Tăng đoàn dựa trên bản thể hòa hợp và thanh tịnh, đó là sự tồn tạichuyển tải đúng nội dung của chánh pháp. Chánh pháp tồn tại và được chuyển vậntừ ý nghĩa này mà lan rộng từ một trú xứ đến nhiều trú xứ, từ một quốc gia đếntoàn thể thế giới.

Tuy rằng, các tỷ kheo sinh hoạt nhiều trú xứ và nhiềuquốc gia khác nhau, có những dị biệt về phong tục tập quán, nhưng họ thống nhấtvới nhau về một bậc Thầy giác ngộ, đó là Đức Thế Tôn. Họ thống nhất với nhau vềPháp là Pháp Bát Chánh đạo. Họ thống nhất với nhau về bản thể tỷ kheo thành tựutừ pháp bạch Tứ yết ma. Họ thống nhất với nhau về Tăng là bốn tỷ kheo trở lên cùngsinh hoạt với nhau trong bản thể hòa hợp và thanh tịnh. Họ sống hòa hợp vàthanh tịnh với nhau trong các Tăng sự thuyết giới, an cư, tự tứ và các pháp sựkhác.

Thống nhất của Tăng đoàn như vậy, không phải đơn thuầnlà thống nhất về mặt tổ chức và hành chánh mà thống nhất ngay nơi nguồn gốc vàbản thể. Bất cứ pháp gì có cùng một nguồn gốc và bản thể, tự nó là thống nhất.

Ở trú xứ nào, không có các tỷ kheo cùng nhau hòa hợp,thanh tịnh, không cùng nhau thuyết giới, an cư và tự tứ đúng pháp, thì trú xứ ấyxem như không có Tăng bảo trú trì và ở xứ sở đó Chánh pháp chưa được chuyển vận,mặt trời Chánh pháp chưa được sáng lên, ruộng đồng Chánh pháp chưa được cày xới,quần chúng trú xứ ấy lấy ruộng ở đâu mà gieo trồng hạt giống phước đức?

Do đó, Pháp an cư của Tăng từ Đức Thế Tôn chế định; Pháptự tứ của Tăng cũng từ Đức Thế Tôn chế định. Pháp ấy phù hợp với an tịnh của Niếtbàn. Và Tăng chỉ đúng nghĩa là Tăng, khi mọi sinh hoạt của Tăng đều được biểuhiện từ nơi Phật và Pháp. Pháp an cư của Tăng là một trong những biểu hiện cụthể ấy. Và do sự biểu hiện ấy mà Chánh pháp trường tồn, làm cho thế gian bớt tămtối và là phước điền cho thế giới chư thiên và loài người gieo trồng phước đứcvậy.

ThíchThái Hòa
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn