Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Ý Nghĩa Lễ Đức Phật Thành Đạo

05/01/201118:21(Xem: 1604)
Ý Nghĩa Lễ Đức Phật Thành Đạo
Phat Thanh Dao

Ý NGHĨA LỄ ĐỨC PHẬT THÀNH ĐẠO

TT Thích Trí Quảng

 

Mỗi năm đến ngày mùng 8 tháng Chạp, giới Phật giáo Bắc tông cử hành lễ kỷ niệm Ngày Thành đạo của đức Phật Thích Ca nhưng theo truyền thống Phật giáo Nam tông, ngày đức Phật Đản sanh, Xuất gia, Thành đạo và Niết bàn đều là ngày trăng tròn tháng Tư âm lịch. Riêng đối với tôi, ngày tháng Thành đạo là ngày nào không quan trọng mà vấn đề chính chúng ta cần tìm hiểu về ý nghĩa của sự Thành đạo. Kỷ niệm đức Phật Thành đạo theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm để cùng tiến bước trên con đường chánh pháp, xây dựng cuộc sống an lạc tốt đạo đẹp đời.

Trong phần chính yếu của kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập pháp giới diễn tả Thiện Tài đồng tử đi cầu đạo, bằng niềm tin trong trắng, đầy đủ phước đức, Thiện Tài trải qua 110 thành gặp 50 thiện tri thức hay đủ các gương mặt tốt xấu của thế gian. Tuy có thật nhiều kinh nghiệm, Thiện Tài gạt bỏ lại phía sau tất cả những gì của cuộc đời để cuối cùng vẫn giữ được nét trong trắng của tâm thanh tịnh ban đầu nên Ngài mới gặp được đồng tử Đức Sanh và đồng nữ Hữu Đức. Học đạo với Đức Sanh và Hữu Đức rồi, Thiện Tài đến ra mắt Di Lặc Bồ Tát, tiêu biểu cho ý nghĩa hành giả có đầy đủ đức hạnh, trên bước đường tu gặp việc đáng buồn không buồn, đáng giận không giận, trải qua bao nhiêu khó khăn phiền lụy, lòng không chút bợn nhơ. Hành giả có đức hạnh hành đạo đến cuối cuộc đời, tóc vẫn xanh mă1t vẫn sáng mà kinh diễn tả bằng hình ảnh trẻ thơ là đồng tử Thiện Tài suốt đời cầu đạo bằng tâm hồn ngây thơ trong sáng. Từ tâm thanh tịnh không thay đổi, khế hợp với Đức Sanh và Hữu Đức, Thiện Tài mới thâm nhập Phật đạo gặp được Di Lặc Bồ Tát là người giữ tạng báu Như Lai, kinh Hoa Nghiêm gọi là Tỳ Lô Giá Na lâu các. Điều này gợi cho chúng ta suy nghĩ tu thế nào cho thành tựu đức hạnh vì chỉ có đức hạnh mới là nhịp cầu đưa chúng ta đến với Di Lặc Bồ Tát, người tiêu biểu cho đức hạnh đệ nhất, được Phật Thích Ca thọ ký làm người thừa kế Ngài ở Ta Bà trong đời vị lai.

Thiện Tài với tư cách hài nhi trong trắng gặp Di Lặc Bồ Tát dạy cho pháp giải thoát như huyễn theo đó mọi vật, mọi việc trần gian nói chung là các pháp đều huyễn hóa, đều do tâm chúng ta biến hiện ra mà thôi. Thâm nhập pháp như huyễn, trở về bản tâm thạnh tịnh, Thiện Tài thấy Tỳ Lô Giá Na lâu các xuất hiện. Tỳ Lô Giá Na lâu các gồm cả bốn phần nhân, hạnh, quả, đức của Phật Thích Ca mà kinh Pháp Hoa gọi Pháp thân thường trú. Tòa lâu các của đức Thích Ca Mâu Ni để lại, chúng ta phải hiểu là tòa vô hình tồn tại vô lượng kiếp không mất. Tòa lâu các hay Bảo sở là kho báu của Phật làm bằng gì, làm thế nào mà đức Phật tạo được? Trong kinh Pháp Hoa có nói đức Phật từ vô số kiếp trước hành Bồ Tát đạo, cảm thành thọ mạng, thành tựu Pháp thân nghĩa là Ngài đã tạo kho báu vô hình. Thực vậy, cuộc đời đức Phật trang nghiêm toàn bằng chất liệu đạo đức tri thức nên thọ mạng của Ngài vĩnh hằng bất tử. Đức Phật tu Bồ Tát pháp không phải một ngày một buổi cũng như Thiện Tài đồng tử phải vượt 110 thành tham học với 50 thiện tri thức hay trải qua 50 chặng đường cũng đồng nghĩa vượt thoát 500 do tuần đường hiểm sanh tử trong kinh Pháp Hoa mà tâm Bồ đề vẫn kiên cố, đức hạnh vẫn tròn đầy mới gặp Di Lặc Bồ Tát mở cửa cho vào Tỳ Lô Giá Na lâu các. Còn những người thấp chí bạc tài, sợ hành Bồ Tát đạo dài lâu, nửa đường muốn thối lui thì muôn đời vẫn ở trong sanh tử luân hồi. Riêng tôi, ý thức sâu sắc lời Phật dạy rằng chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay lăn lộn đủ trong các loài không biết mệt mỏi nhàm chán giống y như người đam mê cờ bạc đánh hết ván này lại tiếp tục ván khác, thật phí công vô ích. Quán kỹ điều này tôi rất ngán sợ, tự nghĩ chỉ nếm mùi ba ván cờ sanh tử trong cuộc đời là quá đủ rồi.

Từ vô lượng kiếp đức Phật hành đạo tích lũy công đức, mỗi lần tái sanh, Ngài lại đưa thêm vào kho tư lương phước đức trí tuệ nên dẫn đến kết quả trong hiện đời Ngài có thể lực khỏe mạnh, trí lực siêu việt và điều kiện sống thật cao tột mà bao người thế gian ước mơ. Riêng chúng ta tự xét mỗi đời tái sanh tạo thêm công đức hay nghiệp chướng? Trên bước đường tu, kinh Hoa Nghiêm dạy chúng ta phải cải tạo ngay trong tâm mình. Khi còn nhìn tha nhân bằng đôi mắt không thiện cảm, tự biết mình còn chất chứa nhiều nghiệp ác cần phải xóa bỏ, sám hối cho đến khi nhìn người với tâm hồn thanh thản và cao hơn nữa khởi được tâm đại bi đối với người chống phá mình. Đức Phật dạy hành giả thực tu theo dõi cải thiện tâm là chính vì tất cả diễn biến bên ngoài tốt xấu đều tùy thuộc nơi tâm chúng ta sanh khởi. Chính đức Phật hành đạo dưới dạng tâm, từ vô lượng kiếp đến nay Ngài hành Bồ Tát hạnh, quán sát nghiệp chướng trần lao quá khứ thế nào để hóa giải, chuyển thành công đức. Ai phát tâm tu Bồ Tát đạo được đức Phật nuôi lớn tâm này nên mỗi ngày tâm họ gần Phật hơn, việc của họ cũng giống Phật hơn. Mỗi lần đức Phật tái sanh, tiếp tục hành Bồ Tát đạo cộng thêm sự hành đạo của quyến thuộc, có bao nhiêu người tốt theo Ngài thì việc tốt của Phật trở thành bội số nhân, cứ như vậy mà hành động thánh thiện của đức Phật ảnh hưởng cho người làm tốt theo cho đến kiếp, hiện tại Ngài thành bậc Vô Thượng Đẳng Giác, trong tất cả loài, không loài nào mà Ngài không hiện hữu, không xả bỏ sinh mạng. Dưới kiến giải của Phật huệ, Ngài nhận ra được thân ta trong hiện tại là kết hợp thân của lục thú tứ sanh trong quá khứ và ngược lại trong thân của chúng sanh cũng có thân ta. Nói khác, từ phần vật chất xa đến vật chất hiện tại có liên hệ hỗ tương mật thiết đến độ Phật quán thấy tất cả hợp nhất, trong một chứa tất cả. Xa hơn nữa về tinh thần, Ngài cũng thấy tác động qua lại giữa các loài, điều này dễ hiểu như thực tế người thân buồn, ta cũng buồn theo, họ vui ta cũng vui theo. Từ liên hệ vô hình đó, đức Phật hành Bồ Tát đạo đồng cảm với chúng sanh để giải buồn cho họ, tùy hỷ với chúng sanh để mang thêm nguồn vui, tạo thành hạnh ban vui cứu khổ. Với quá trình tu hành từ vô lượng kiếp, đức Phật tổng hợp được liên hệ sắc thân hữu cơ và liên hệ tình cảm vô hình giữa Ngài và chúng sanh tạo thành Pháp thân hay Tỳ Lô Giá Na thân nghĩa là thân tổng thể bao hàm muôn loài. Trước kia, Thiện Tài chỉ thấy thân Phật giới hạn trong một đời nhưng nay trải qua quá trình vượt 113 thành học đạo với 53 thiện tri thức, Ngài thấy được thân tổng thể Tỳ Lô Giá Na thì Di Lặc Bồ Tát khuyên Thiện Tài nên cầu học một lần nữa với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Khi Thiện Tài vừa khởi ý niệm cầu đạo thì Văn Thù Sư Lợi cách xa 110 do tuần đưa tay đến xoa đầu thọ ký Thiện Tài. Từ khởi đầu tham phương cầu học, Thiện Tài được Văn Thù khai ngộ và thâm nhập được Tỳ Lô Giá Na lâu các rồi trở ra, Thiện Tài lại gặp Văn Thù gia bị lần thứ hai, nói khác Thầy ở giai đoạn một dạy chúng ta bằng ngôn ngữ tiến đến gặp Thầy ở trong pháp giới dưới dạng tâm. Ở dạng tâm hay nhìn bằng trí tuệ, tất cả thông thành một cõi, không còn chướng ngại, không còn chia chẽ từng quốc độ riêng biệt. Điều ấy có thể tạm hiểu như ngày nay chúng ta dùng viễn vọng kính dễ dàng quan sát mọi vật ở các vì sao, cũng vậy nếu chúng ta nâng độ sáng của cặp mắt tâm linh, chúng ta sẽ thấy pháp giới của Phật. Vì vậy Thiện Tài chỉ cần khởi tâm, Văn Thù Sư Lợi liền hiện hữu bên cạnh, bấy giờ Văn Thù và Thiện Tài cùng ở chung trên pháp tánh. Trong bể pháp tánh hay Tỳ Lô Giá Na biến chiếu mà quan sát mới nhận chân được rằng tất cả cảnh tốt xấu phải trái đều do tâm tạo, tâm có khả năng biến khắp pháp giới, khởi niệm ác liền có ác, khởi niệm thiện có thiện, chân lý này được đức Phật dạy trong kinh Hoa Nghiêm qua bài kệ:

Nhược nhơn dục liễu tri

Tâm thế nhứt thiết Phật

Ưng quán pháp giới tánh

Nhứt thiết duy tâm tạo.

Tóm lại, đức Phật Thành đạo hay trên con đường trở về an trú nơi bản tâm thanh tịnh, Ngài nhận ra được quy luật "Nhứt thiết do tâm tạo" và trong suốt pháp hội Hoa Nghiêm, đức Phật đưa cho chúng ta mô hình tu dưới dạng tâm của Ngài trong quá trình hành Bồ Tát đạo từ vô lượng kiếp, Ngài chăm sóc nuôi dưỡng tâm thanh tịnh. Thiện Tài đồng tử cũng đi cầu đạo theo lộ trình đó, tham học với 53 thiện tri thức tiêu biểu cho hành trình dấn thân giáp mặt với tất cả thành phần trong xã hội đến khi tâm thuần thiện, đầy đủ tâm đại bi mới được Di Lặc Bồ Tát mở cửa Tỳ Lô Giá Na lâu các đưa tạng bí yếu của Như Lai. Tôi mong rằng Tăng Ni Phật tử cũng đi theo mô hình này, nhận được phần nào pháp yếu của đức Phật trao cho đến tâm khai mở, thanh tịnh ngõ hầu đến gần Tỳ Lô Giá Na lâu các của Di Lặc Bồ Tát hay đến gần Pháp thân của chính mình, đó là phẩm vật quý giá nhất chúng ta dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong mùa Thành Đạo PL 2537.

TT Thích Trí Quảng
Source: Nguyệt San Giác Ngộ

Tuyển Tập Kính Mừng Đức Thích Ca Thành Đạo
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/202006:27(Xem: 594)
Muốn thành một vị Phật, một người tu hành phải trải qua ba nguyên tắc đào luyện tu tập; nếu không hoàn thành ba nguyên tắc này thì người đó dù ở địa vị nào ở cấp bực nào đem xét nghiệm thì sẽ nhận biết họ không bao giờ được thành Phật.
28/02/202012:08(Xem: 868)
Cõi trời Đâu Suất Bồ Tát giáng trần Khi quán Sa Bà nhân duyên hội đủ Hoàng hậu Ma Da nằm mộng đêm đó Thấy Voi Sáu ngà nhập ở bên hông
02/01/202006:48(Xem: 1099)
Một sáng tinh sương ..... Đức Thế Tôn thành đạo . Phiền não đoạn tận, chiến thắng ma quân , Ánh sáng Giác Ngộ lan tỏa đến tha nhân Gieo rắc niềm tin ...khổ đau được chuyển hoá !
24/12/201921:31(Xem: 1508)
Ngày thành đạo của đức Thế Tôn cách đây 26 thế kỷ, đã mở ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới. Một kỷ nguyên của chánh kiến, thấy rõ thế gian là vô thường và những gì cấu tạo nên nó chỉ là do quan hệ duyên khởi và trống rỗng tự ngã. Những nỗi khổ đau của con người ở trong thế gian không do một ai có thẩm quyền áp đặt, mà chính là do lòng tham dục, tính hận thù và sự kiêu căng nơi tâm họ tạo nên. Tâm cũng vô thường như bất cứ những sự vô thường nào ở trong thế gian, nên những khổ đau của con người không phải là tuyệt lộ. Nó có thể thay đổi khi nhân và duyên của nó được thay đổi. Nhân và duyên làm thay đổi khổ đau của thế giới con người là Bát Thánh Đạo. Thực hành Bát Thánh Đạo, do đức Phật công bố tại vườn Nai, sau khi Ngài thành đạo, trong thời thuyết giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như, tại vườn Nai thì những khổ đau của thế giới con người sẽ bị diệt tận.
24/12/201916:36(Xem: 1551)
Xưa và nay, trong lịch sử của nhân loại, tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân. Nhờ trải qua các quá trình kham nhẫn, tu, học, và giúp đỡ cho tự thân và tha nhân như vậy, thì họ mới có thể trở thành những nhà khoa học, toán học, văn học, triết học, đạo học, v. v… Bồ-tát Tất-đạt-đa Gautama,[1] một vị đạo Sư tâm linh hoàn hảo, có đầy đủ đức hạnh, từ bi, và trí tuệ, trải qua 6 năm tu khổ hạnh rừng già với năm anh em Ông A-nhã Kiều-trần-như. Sau một thời gian tầm sư học đạo, Bồ-tát, một con người xuất chúng bằng xương bằng thịt, đã tìm ra chân lý bằng cách thiền định tại Bồ-đề-đạo-tràng suốt 49 ngày đêm, và chứng ngộ viên mãn dưới cội cây Bồ-đề. Lúc đó, Bồ-tát trở thành Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni, một đức Phật lịch sử, có mặt trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, được chư thiên và loài người tôn kính, có khả năng đem
24/10/201920:30(Xem: 1644)
Bài viết này để trả lời một câu hỏi: Làm thế nào để ngộ? Ngộ đây là ngộ tông chỉ Thiền, tức ngộ tông chỉ Phật. Người viết không dám trả lời minh bạch, vi bản thân tu và học đều chưa sâu, nơi đây chỉ trình bày qua nhiều kinh luận để giúp độc giả tham khảo.
23/10/201918:44(Xem: 1935)
Cách đây hai mươi mấy măm về trước, khi chưa bước vào ngôi nhà Phật Pháp.... ( chưa quy y Tam Bảo ) không hiểu sao hai vị Phật tôi thường cầu nguyện và được sự linh ứng nhất là Đức Quán thế Âm Bồ Tát và Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, và đặc biệt trong 12 đại nguyện của Phật Dược Sư tôi chỉ thích đọc đi đọc lại nguyện thứ ba, thứ sáu, thứ bảy và thứ tám vì có lẽ lúc ấy tôi chỉ biết lo cho tấm thân làm người nữ và những bịnh tật đau nhức dai dẳng đeo đuổi mãi không thôi.
13/10/201913:51(Xem: 2162)
Người tu Phật ai ai cũng có đức tin, nhưng nếu không rõ được rành mạch những lịch sử hoặc những hành vi của các vị Bồ tát phải hành thế nào để thành được một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và do nhờ pháp Ba-la-mật (PÀRAMITA) nào đưa các ngài qua tới bờ giác ngạn là Niết Bàn, thì đức tin ấy có khi cũng mơ hồ và có khi cũng lầm lạc. Vì vậy nên tôi không nệ tài hèn học kém, ráng sao lục tóm tắt theo Tam Tạng Pàli (TIPITAKA) bộ kinh Chánh giác tông (BUDDHAVAMSA) và quyển Chư Bồ tát vị lai (ANÀGATAVAMSA) để đem lại một vài tia sáng cho các nhà tu Phật. Ai là người có chí muốn thành một bậc Chánh Biến Tri, hãy noi theo gương lành của các Ngài và thực hành theo mới mong chứng quả được. Trong quyển kinh này có nhiều đoạn hơi khó hiểu hoặc không thể tin được vì oai lực và pháp Ba-la-mật của một vi Phật Tổ khác Thường xuất chúng và thời đại cũng khác nhau vượt qua khỏi trình độ suy nghĩ hoặc hiểu biết của phàm nhơn. Nên độc giả xem quyển kinh này nên dùng đức tin mà hiểu biết rằng: "Muốn thà
29/09/201909:45(Xem: 7241)
Video: Hành Trình Khám Phá về Sự Thật Xá Lợi của Đức Phật (Rất hay, rất cảm động khi xem, quý vị nên tranh thủ vào xem liền, chân thành cảm ơn nhà văn, nhà khảo cô người Anh Charles Allen đã thực hiện cuốn phim tài liệu công phu và độc nhất vô nhị để tôn vinh và tìm ra sự thật về xá lợi của Đức Thế Tôn sau 26 thế kỷ, from Thích Nguyên Tạng, chủ biên trang nhà Quảng Đức)
16/08/201911:44(Xem: 1882)
Đức Phật là đấng đạo sư, là bậc thầy của nhân loại, nhưng ngài cũng là nhà luận lý phân tích, nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại. Kinh tạng Pāli cho chúng ta thấy rõ về các phương phápgiảng dạy của đức Phật một cách chi tiết. Tùy theo từng đối tượng nghe pháp mà Ngài có phương thức truyền đạt khác nhau. Chúng sanh có vô lượng trần lao, phiền não, thì Phật pháp có vô lượng pháp môn tu. Nếu sử dụng đúng phương pháp thì hiệu quả giảng dạy sẽ đạt được kết quả tốt. Tri thứcPhật học là nguồn tri thức minh triết, là giáo lý để thực hành, lối sống, do đó phương pháp giảng dạy là vấn đề vô cùng cần thiết để giới thiệu nguồn tri thức minh triết ấy.