Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương IX

28/06/201319:27(Xem: 517)
Chương IX

Viễn chinh Nam Kỳ

Nguyên tác: Histoire deL’EXPÉDITION DE COCHINCHINE en 1861

Người dịch: Hoang Phong

---o0o---

CHƯƠNG IX

Ðề cương:

Diện mạo của người An nam._Ðặc tính tinh thần._Sự chuyên chế phụ hệ.

Người An nam là một sắc dân thuộc giống người mà các nhà nhân chủng học xếp vào giống Mông cổ. Họ có vẻ nhỏ con. Hai chân cứng cáp, hông nhỏ, thân dài và gầy, vai khá rộng, ngực nở nang, các bắp thịt cổ cũng vậy, đầu có kích thước tương xứng với cả thân hình, hai bàn tay nhỏ nhưng ngón dài có nhiều mấu. Nước da tùy thuộc theo trình độ giáo dục, địa vị xã hội và công ăn việc làm; màu da thay đổi từ màu sáp ong đến màu gỗ gụ. Trán tròn, hai bên thái dương lõm vào và xương gò má nhô cao; cặp mắt đen, chỉ hơi xếch một chút, toát ra một vẻ dịu dàng, buồn thảm và rụt rè. Mũi thì quá rộng về phía trên: đó là nét đặc biệt chung của gương mặt Á châu. Người đàn ông An nam khoảng ba mươi tuổi mới có râu; ngay khi có râu cũng chỉ lưa thưa ở môi và càm. Ðàn ông để tóc dài, giống như tóc của người Tàu trước thời kỳ bị giặc Mông cổ xâm chiếm; cách nay sáu mươi năm một số dân miền núi Fo-kien vẫn còn để tóc dài chống lại lịnh phải cạo đầu do người Mông cổ thống trị ban ra. Người đàn ông An nam coi trọng việc để tóc, họ búi tóc để hở hai vành tai. Người giàu đội khăn nhiễu Tàu che búi tóc, khăn nhiễu xếp thật khéo và rất nghệ thuật; người nghèo ra đường không đội khăn; đôi khi ta thấy họ xổ tóc, vừa lắc đầu vừa giũ tóc, cổ ngữa thẳng ra giống hệt cử chỉ của người phụ nữ. Người đàn ông An nam có dáng đi thật lạ và khoan thai: nhất là đầu có một dáng dấp đặc biệt, chắc là do búi tóc gây ra. Ta có thể nghĩ rằng vì cách để tóc mà người Tàu, người An nam so với người Âu châu đầu và cổ có giáng dấp khác nhau. Nhưng phong tục làm ngạc nhiên người Âu châu hơn hết tại phần đất Á châu này là nhuộm răng đen, thật không đẹp chút nào cả: trông xa giống như rụng hết răng. Người An nam, giống như tất cả các dân tộc Mã lai lúc nào cũng nhai trong miệng nhiều thứ hợp lại gồm lá trầu, cau, thảo quả, vôi, có khi thêm cả thuốc lá nữa. Hương liệu này có mùi vị rất dễ chịu nhưng rất cay và chát. Nếu ta cho rằng người An nam răng đen là vì ăn trầu là sai: răng của họ nhuộm đen bằng một loại thuốc nhuộm làm bằng các vị thuốc Tàu. Nhiều người đàn bà Âu châu ở Macao cũng lén ăn trầu nhưng răng họ vẫn trắng.

Y phục của một dân tộc thường bị chi phối bởi bản chất cơ thể của họ. Y phục của người đàn ông An nam là áo dài cài nút ở bên hông, quần cắt theo lối Tàu đoan trang hơn quần của ta, chân mang dép da đỏ. Ấy là y phục của người An nam có vị thế, giàu có hoặc là thương gia; còn hầu hết dân dã, nông dân và những người sinh sống trên ghe thuyền, thì chỉ dùng một miếng vải rộng buộc bằng dây lưng gọi là can-chian[1]. Trẻ con thì hoàn toàn trần truồng.

Tuy nhiên cũng có vài đứa mặc một miếng vải hình trái tim che bộ phận sinh dục. Trẻ con cạo trọc chỉ chừa vài chỏm tóc ở vài chỗ trên đầu. Y phục của phụ nữ cũng không khác của đàn ông bao nhiêu: cũng áo dài lụa và quần. Mặc quần bốn màu rực rỡ là cách ăn mặc thật thanh lịch của phụ nữ, vải màu ráp theo chiều dọc. Dáng đi của người phụ nữ có vẻ quả quyết lạ lùng[2]Ai thấy họ đi trên đường phố Saĩgon sẽ để ý ngay, trên vai có một con két lông xanh, hai cánh tay đong đưa có lẽ là để đánh nhịp theo bước chân? Áo lụa ôm sát với thân người phô trương tất cả vẻ thiên nhiên của thân hình họ [3]Có nhiều người phụ nữ An nam rất đẹp: mặt tròn trỉnh, hai mắt như nhung và xếch rộng, da nhợt và mờ, dáng dấp mong manh và thanh nhã như trẻ thơ, nói chung cũng không khác biệt gì với quan niệm về sắc đẹp phụ nữ ở Âu châu.

Người đàn bà An nam ham mê nữ trang còn hơn cả những người đàn bà Âu châu. Họ đeo nữ trang từ trên tóc, trên cổ, ở cánh tay và cổ chân; tùy theo giàu nghèo nữ trang làm bằng vàng, cẩm thạch, bạc hay thủy tinh. Nữ trang thật tinh xảo không rườm rà, thô kệch và khó coi như ở Ấn độ và Á rập. Người ta để ý thấy có ba loại vòng đeo tay mà người phụ nữ mang tùy theo từng giai đoạn của cuộc đời mình: khi mới có chồng, sau khi có con đầu lòng, và sau hết là lúc tuổi già. Vòng đeo tay có hình tượng trưng bốn[4]hoặc tám con vật huyền thoại. Người đàn bà An nam cũng đeo giây chuyền ở cổ bằng bạc, dài và phẳng, còn đeo vòng ở cổ chân nữa. Nhẩn thì có ba loại: dẹp, có nhiều mặt nhỏ hoặc là các kiểu hoa.Hoa trên trang sức có kẻ gân hết sức là tinh vi [5]. Thợ nữ trang cực kỳ khéo léo: họ tự nấu vàng, cán vàng. Người Âu châu nào thấy họ làm cũng phải chịu thua.

Nếu quả đúng là tánh khí của một dân tộc biểu lộ từ nơi ăn chốn ở, thì phải nó rằng người An nam để ý chăm sóc và dồn hết mọi sáng kiến để trang hoàng nơi ở của họ sau khi chết. Mồ mả xây hết sức rắc rối, nhưng thường thấy hơn hết là xây theo hình tròn, sơn màu hồng hay tím nhạt thật sáng, tất cả tạo ra một vẻ dịu dàng và đẹp mắt. Nhưng nhà họ ở thì tối tăm, kín đáo và buồn thảm. Nhà xây theo lối ba gian hai chái và chỉ có tầng trệt. Mái nhà nghiêng xuống thật thấp, chỉ cách mặt đất vài chân, do đó bên trong tối om ngay cả giữa ban ngày, nhưng cũng vì thế mà trong nhà mát rượi rất dễ chịu, mặc dù bên ngoài trời nóng bức. Nhà người nghèo thì lợp lá dừa lùn xếp chồng lên nhau như nhà lợp rơm của ta; sườn nhà thì làm bằng tre và người An nam chỉ cần hai đến ba ngày là làm xong một căn nhà, nhờ cha mẹ hay bạn bè giúp tay. Nhà cửa của người giàu thì lợp bằng ngói đỏ, kèo nhà làm bằng gỗ cẩm lai, rất dễ đánh cho bóng láng. Trước ngưỡng cửa nhà của người An nam hoặc trên mũi ghe của họ cũng vậy, có nhiều chậu cây kiểng đặt gom lại với nhau, gồm có cây mạ, một loại cây thân mập và một loại cây nhỏ giống như cây sim hay cây lựu mà cành thì uốn nắn thành chữ Tàu.

Nếu thật sự muốn tổng hợp chân dung người An nam từ những điều quan sát của một nhà nhân chủng học thì ta chi có thể tạo ra một tấm tranh phác họa thô sơ mà thôi, không tình cảm cũng không có sự sống. Mô tả chi tiết đường nét của một sắc dân không khó gì cả, chỉ cần chú ý một chút là đủ; nhưng muốn tạo ra vẻ mặt của một người suy tư, thương yêu và đau khổ thì dù muốn dù không ta phải thêm vào bức chân dung cái vị trí xa xôi của quê hương họ, cái nóng bức của miền nhiệt đới, cho đến cái khung cảnh chung quanh cuộc sống của họ. Nói vắn tắt là phải gần gủi với họ. Ta phải nhìn xuyên qua cái vẻ bên ngoài bất di bất dịch của Á châu, xuyên qua cái khuôn đúc duy nhất tạo ra vóc dáng y hệt nhau, ta mới thấy được cá tính bên trong của từng con người. Nhưng ngày nay khó mà nhìn thấy đặc tính tổng hợp của người An nam. Chính những quang cảnh vui chơi của họ đã bị chiến tranh tàn phá hết. Ta nghe kể lại rằng trước đây gần Saĩgon có nhiều chợ búa, nhà hát, vòng ngựa quay cho trẻ em. Một trong những quang cảnh biểu diễn tài tình nhất là cảnh chơi cờ tướng, sân cờ là một vùng đất rộng mênh mông, trò chơi giống như hai đoàn kỵ binh đánh nhau. Hai bên đấu với nhau cạnh tường thành Saĩgon. Hai vị hoàng đế cởi ngựa và mặc áo thêu rồng ở ngực, quan và quân lính mặc áo màu sạc sỡ. Cách chơi vạch rõ trên mặt đất như một bàn cờ khổng lồ.

Nhưng bây giờ thì người An nam chỉ biết ngồi bên những chiếc bàn gỗ thô sơ kê sát ngưỡng cửa trong làng của họ, miệng đỏ lòm vì nhai trầu; họ ngồi trong một tư thế suy tư làm ta liên tưởng đến các giống thú nhơi lại; hình như họ đang buồn tiếc so sánh những cảnh đang diễn ra trước mặt họ với những cảnh vui chơi tràn đầy kỷ niệm trước đây mà ta không hề biết. Chính trên mặt sông người An nam có thể đã tìm lại được bản chất tự nhiên của họ. Những người chèo ghe ngược xuôi trên mặt nước, dừng lại trò chuyện với nhau về việc mua bán mới đây của người Pháp; họ chỉ mặc một tấm vải màu xanh dương hay màu nâu nhạt, thân để trần màu xậm như gạch, tóc thì đen lánh, tất cả tạo ra một sự kết hợp màu sắc hết sức dung hòa và nhả nhặn; Tuy họ không có vóc dáng của một giống dân lực lưỡng nhưng ta phải nói rằng người An nam chịu đựng việc cởi trần rất giỏi. Mặc dù ăn mặc giản dị như thế, họ đưa thân ra nắng mà chẳng e dè gì hết, không bao giờ da bị phỏng nắng tàn bạo như người Âu châu; quả thật đất đai của họ đã sinh ra họ, họ sinh sống vào đúng vị trí của họ trên địa cầu này.

Người An nam rất ôn hòa, dễ bảo mặc dù bên trong vẫn có sức kháng cự; dễ gập mình nhưng cũng đầy khả năng để vương thẳng lên; suy tư, rụt rè nhưng khá vui vẻ.

Họ ham vui chơi, khi làm được tiền là xài ngay; đây là đặc tính khác hẳn với người Tàu. Họ không thích cũng không có một khả năng gì về thương mại: đất cát phì nhiêu lạ lùng của xứ An nam thu hút người ngoại quốc, họ đổ xô đến đây và nắm hết việc thương mại trong xứ. Người Anh và người Hòa lan từ lâu tìm cách buôn bán với Nam kỳ nhưng không thành công.

Hàng thương mại chính là gạo: nếu cứ bỏ mặc cho người An nam thì họ chỉ trồng lúa vừa đủ để sống không dư thêm một hạt. Họ là nông dân và làm nghề chèo chống chuyên chở bằng thuyền bè: hai nghề có vẻ trái ngược nhau, nhưng thật ra rất phù hợp và bổ túc cho nhau, vì mùa màng có định kỳ rõ rệt, đến đúng mùa mới gieo mạ và cấy lúa. Ðời sống như thế hết sức phù hợp với sở thích và khả năng của người An nam. Họ thích đi dạo chơi, không chủ đích gì hết, đi dạo thế thôi._Anh làm gì vậy_ Lam ray, tôi trồng lúa._Anh đi đâu vậy?_Didoy[6], tôi đi chơi. Mới nhìn hai hành động này có vẻ không phù hợp với nhau nhưng thật sự hết sức hợp lý: một năm chỉ có hai mùa lúa nên họ có nhiều thì giờ vui chơi, lối sống như thế đã trở thành phong tục của họ.

Người An nam trồng một ít mía đủ cho nhu cầu mà thôi. Ðường mía của họ rất ngon, trong chiến dịch 1861 ta tìm thấy nhà nào ở tỉnh Gia-dinh cũng có. Trong xứ cũng có vài nơi trồng cây chàm làm thuốc nhuộm và trồng bông vải với phẩm chất rất tốt. Nam kỳ sau này có thể cung cấp bông vải cho thị trường Âu châu. Nhưng không phải chuyện gì đương nhiên cũng có, muốn gặt hái thì cũng phải có người trồng, phải phối hợp nhiều cố gắng, và phải có hòa bình.

Ðất Nam kỳ miền dưới phì nhiêu, người dân có nhiều phương tiện để trở nên sở hữu chủ mảnh ruộng của mình, dân làng cho nhau mượn trâu để làm việc, triều đình Huế cho vay tiền và ưu đải canh nông trên hết; tất cả các điều vừa kể giúp người dân An nam sinh sống dễ dàng và không nghĩ đến việc vượt biển mà di cư đi nơi khác. Nền giáo dục của họ cũng không khuyến khích họ bỏ xứ, chưa kể họ đã có sẵn bản chất luyến tiếc đất đai của họ. Luật pháp quốc gia cấm việc vượt biên, và người An nam thì rất tôn trọng luật pháp. Người ta không gặp một người An nam nào trên đất Tàu, Phi luật tân, đảo Java hay Ấn độ thuộc Anh. Chỉ trên đất Xiêm la có một số trại người An nam bị vua Xiêm bắt về làm nô lệ trong những lần đánh nhau với hoàng triều Huế[7]

Chính những lý do kể trên đã giúp người dân Nam kỳ không làm cu li, đời sống và nhà cửa quá dễ dàng; nếu cần họ chỉ việc dọn đi nơi khác trong xứ để làm ăn mà không cần vượt ra khỏi biên giới. Nhưng hình như mối giây buộc chặt họ với đất đai chỉ có tính cách bề ngoài mà thôi. Khí lúa đã gặt và bó xong, thì người nông dân trở thành người chèo chống trên mặt sông ngòi, di chuyển khắp nơi trên đất Nam kỳ. Trong một số trường hợp, vì sợ bắt làm nô lệ hoặc vì áp lực chính trị, họ có thể kéo nhau bỏ hết nguyên một tỉnh để ra đi. Họ để lại phía sau cả một sa mạc hoang tàn cho kẻ địch. Cũng chính vì thế mà sau một trong các lần xâm lược của Cao miên trước đây vào Nam kỳ dân chúng tỉnh Gia-dinh đồng loạt bỏ đi hết.

Cách giải quyết như thế, hình như rất phù hợp với tính tình của người An nam, và không giống với bất cứ một dân tộc nào khác ở Á châu. Họ chịu vặn mình để nhịn nhục, dù có lấy tay để xiết họ thì họ cũng tìm cách lọt ra và biến mất, đó là thái độ và hành động mà họ đã chọn. Khi ta ngược đải họ, họ sẽ bỏ đi ngay nếu có thể được; họ không thích bất cứ gì có vẻ nóng nẩy và giận dữ. Vì sự mù tịt của người Âu châu về ngôn ngữ của họ, nhất là trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lược, và vì nhu cầu tránh bỏ mọi phiền phức đối với người da vàng bại trận, mọi quyền hành ta đều giao cho những thuộc hạ ở cấp thấp nhất, họ thực thi bằng những cử chỉ sỗ sàng, giận dữ và hung bạo. Thái độ của người An nam trong hoàn cảnh đó là nhịn nhục và không phán đoán, phục tùng trước một sức mạnh mà họ coi là điên rồ và mù quáng; tất cả cho ta thấy một thứ gì âm ỉ, ghê sợ không kềm hãm được và đó cũng đủ cho thấy sự khác biệt giữa hai giống dân.

Cũng phải nói cho rõ là cái đám tạp dân Á châu tại Saĩgon không thể gây cho ta những ý tốt về các dân tộc tại đây, nhất là đối với dân tộc An nam. Người ta vẫn nói rằng người An nam bị úa tàn khi giao tiếp với nền văn minh của chúng ta, giống như những vị thuốc mà ta đưa cho họ không thích hợp với cơ thể của họ, hay nói đúng hơn là với tính khí của họ. Có ai tin rằng trong số đám người kia đang cuối đầu bị dẫn đi làm lao động có những kẻ đã đủ sức đương đầu một tiếng rưỡi đồng hồ với quân đội Pháp trang bị vũ khí tối tân? Nhưng thật ra ta chỉ nhận thấy những biến cố hằng ngày đập vào mắt mà thôi, ta phải nhìn sát vào quang cảnh của một dân tộc đang bị đưa vào ách nô lệ thì mới hiểu được tại sao họ đã liều lĩnh chiến đâu đến cùng. Người An nam có nhiều can đảm, có thể nói là họ rất hào hùng trong hoàn cảnh kho khăn của họ; nhưng đánh giá đúng những điều này thật khó cho ta, những ý nghĩ nẩy mầm và phát triển trong đầu một người Á châu hoàn toàn khác với chúng ta; vì lẽ không có gì tương đồng để xét đoán vì thế trên phương diện này ta chỉ nên nhìn vào những điều quan sát hơn là đưa ra những kết luận [8]Trong xứ An nam con người hòa mình trong đám đông hình như không thấy để lộ một cá tính riêng biệt nào hết, sự tôn thờ hoàng triều đã san bằng mọi con người, không có ai nhô đầu cao hơn kẻ khác: nơi đây không còn có chỗ cho sự ganh đua; trong một số đạo quân Âu châu thì trái lại sự ganh đua thật là náo nhiệt. Người An nam chiến đấu mạnh khi họ tự tin rằng họ sẽ đẩy lui được quân địch. Vì vậy mà trong một ngày may mắn quân đội ta đã làm lung lay lòng tin của địch khi họ dựa vào những chướng ngại phòng thủ mà họ cho là ta không phá nổi; khi họ tháo chạy thì tán loạn như một đàn chim vụt cất cánh, họ chui vào các bụi rậm như một con cọp, đối với họ không phải là một sự nhục nhã khi biết rằng không còn cách gì chống cự được [9]Cũng chính là những con người như thế đã dùng lao chống lại súng các-bin của ta trên đồng ruộng My-thô._ Sau các trận chiến ở Touranne và Saĩgon vào những năm 1859 và 1860 ai cũng tin chắc rằng chiến thuật của họ là cố thủ trong các thành đồn kiên cố mà thôi, họ không dám đánh dàn trận với ta hoặc phưu lưu trên địa thế trống trải. Các trận Go-cung, các trận khởi nghĩa năm 1861 và 1862 chứng minh rằng chẳng những họ dám chiến đấu với ta trên địa thế mà còn dám khơi chiến với chúng ta trên các loại mặt trận như vậy.

Trận chiến mà người An nam gánh chịu trong gần sáu năm đã biến đổi hẳn chiến thuật chung về tấn công cũng như phòng thủ, nhưng khí giới thì vẫn thế, không thay đổi gì. Rõ ràng là sau khi thành Kì hòa bị mất, họ cũng mất hết tin tưởng vào thành lũy mênh mông và các chướng ngại phụ thuộc mà họ thiết lập một cách vô cùng tài tình; nhưng họ vẫn chỉ tiếp tục dùng lao, súng hỏa mai cổ lổ mồi bằng đá lửa, pháo vác trên người, súng nòng 4 cũng vác trên vai mà bắn. Tuy các dàn đại pháo là phần duy nhất có một chút giá trị nào đó trong số khí giới của người An nam: họ đã dùng đại pháo trong các cuộc khởi nghĩa để gây khó khăn cho ta. Họ rất thích các loại đại pháo và xử dụng rất giỏi. Không biết họ tìm đâu ra mà nhiều đại pháo như vậy? Ta thấy chỗ nào cũng có: một phần họ chôn dấu trong rừng, đánh dấu cẩn thận để dễ tìm, một phần thì họ dấu dưới các đống lúa gạo, kho bọng. Tóm lại họ thích tiếng nổ của thuốc súng; giống như cái say mê của trẻ con người Tàu, họ thích pháo như thế nào thì họ cũng thích tiếng nổ của đại pháo như vậy.

Còn nói về bản chất của chính người lính, ta có thể nói rằng họ quen chiến trận, và những biến cố sau này đã cho ta hiểu rõ hơn bề trong của bản tính người An nam. Uy quyền của triều đình Huế bị nứt rạn ở các tỉnh do quân Pháp chiếm tạo dịp cho một số người nhiều nghị lực đứng lên tạo lập công danh, nhất là khi họ thấy căn bản sinh tồn của dân tộc họ bị hăm dọa. Những người lãnh đạo các nhóm du kích sau khi đã ăn gan[10]và uống vài ly sam-chou [11], họ thề thà chết quyết tâm đánh giặc Pháp, rồi họ lên đường. Hầu hết những người này phải chết một cách khốn đốn và nhục nhã, nhưng hình như cái chết của họ không làm thối chí họ hàng và bè bạn họ [12]

Ngoài cái can đảm của người An nam mà những vị lãnh đạo can trường đã truyền lại cho họ, ta còn thấy trong đó có sự dị đoan khủng khiếp nữa. Khi một người đồng đội bị giết, họ liền mổ thây móc lấy tim còn thoi thóp để chia nhau mà ngấu nghiến. Sau đó họ tiến lên, không có gì cản nỗi: họ có đầy gan[13]_Có một nhà tu người An nam tỏ ra là người rất hào hùng và quả quyết, cách đây vài năm đích thân tìm đường ra Huế để kiện tụng: vì có người muốn đuổi ông ta để chiếm đất. Một tên chánh đảng cướp biết tin tìm đến ngôi nhà mà ông tá túc trên đường ra Huế. Khi đến nơi anh tướng cướp thấy có một người chết vừa được tắm rửa. Những người chung quanh đang lo tẩm liệm liền chỉ xác chết mà bảo chính là xác của nhà tu, nhưng thật sự những người này nói dối để tìm cách cho nhà tu trốn đi. Tên trùm đảng cướp liền nói rằng: ‘’Nếu quả thật như vậy thì để xem có công hiệu đúng như người ta nói không: hắn phải có ganlớn lắm mới dám ra tới Huế mà kiện thưa’’. Thế rồi bọn cướp moi tim xác chết mà ăn. Từ đó nhà tu lặng câm, không hó hé gì nữa. Ông ta là người lanh lợi và thận trọng, theo lời đồn đải thì ông ta có nhiều thoi vàng và bạc, thật quả ông ta vừa chết hụt[14]

Truyền thống ăn gancủa các trùm đảng cướp cũng như nhục hình áp dụng trong phần đất này của Á châu có thể làm cho ta tưởng lầm là một quôc gia vô nhân đạo. Nhưng ta có thể khẳng định ngược hẳn lại, người An nam rất khiếp sợ cảnh máu rơi. Ở Âu châu, giết người thường đi đôi với cướp bóc: vì giết người là để bảo đảm việc cướp bóc dễ dàng; bọn cướp bóc An nam chỉ lột sạch nạn nhân nào lọt vào tay họ nhưng không giết; trước năm 1859[15], chưa chắc đã có đến ba vụ giết người trong một năm. Ta không nói đến những năm sau này, vì án mạng ta đều ghép vào tội chính trị [16]. Sau hết luật pháp An nam, giống như ở Xiêm la và bên Tàu quy tội hết cho cả làng, đó cũng là cách chận đứng sự lan tràn tội phạm. Trong xứ An nam án mạng xảy ra là một chuyên cực kỳ hệ trọng, luật của người An nam buộc họ sống theo bản tính thiên nhiên của họ tức là không bao giờ giết chóc.

Sự khiếp sợ máu rơi không cấm cản được sự độc ác của họ theo lối Á châu; có nghĩa là họ áp dụng hình phạt bằng cách tra tấn mà chỉ có quỷ sứ thoát ra từ địa ngục mới sáng chế ra được. Ta hãy thử tìm hiểu nguyên do vì đâu lại có sự mâu thuẩn giữa việc sợ hãi máu rơi và sự tàn bạo, hai hành động thật trái ngược nhau. _Say mê chế độ, viễn tưởng ấu thời dai dẳng đeo đuổi con người An nam trong hoàn cảnh thực tế mơ hồ, tin các lý thuyết do trời định, sự lẫn lộn giữa quy luật tôn giáo và chính trị, nhân viên nhà nước quá đông và uy quyền quá mạnh, tất cả tạo ra thần quyền mà đầu não là Hué, thần quyền đó đã áp đặt bàn tay của mình lên những động lực tế nhị nhất của linh hồn con người, để xúc phạm, nhào nặn làm cho linh hồn úa tàn. Sau khi san bằng tất cả mọi linh hồn họ lại làm tan tành thể xác bao bọc cái linh hồn đó[17]Từ tác dụng này đến tác dụng khác, tránh sao chẳng có liên hệ, có thể vì thế mà ta không ngạc nhiên gì khi thấy nhân viên của một chánh quyền phụ hệ và chuyên chế, bẻ gẩy, cắt cụt, tháo gở con người từng mảnh như một hình nộm. Tội ác không thể tha thứ trong xứ là phản nghịch hoàng triều, tội phạm bị xử lan-ti: tức bị xẻ thây làm trăm mảnh, xong bỏ hết vào một cái lu đem đặt trước nhà của kẻ tội phạm. Phải hiểu rằng trong đầu của các dân tộc này khi đày đọa xác chết tức làm gia tăng hình phạt cho nặng nề thêm. Hình phạt có nhiều loại, ta có thể kể ra đây những loại khủng khiếp nhất [18]: như kéo thân phạm nhân trên những thân tre cắt dọc, thân tre cắt như hằng ngàn lưỡi dao cạo; kẹp bằng kềm nguội hay nung đỏ; dùng dao sét rỉ; lưỡi cày nung nóng; ghế có đóng đinh nhọn; kể cả bỏ rắn vào quần kẻ bị kết án nữa.

Tuy nhiên người An nam tuy khéo léo tạo ra nhiều phương pháp nhục hình lại không biết dùng thuốc độc tràn đầy trong rừng rú của họ[19]: mặc dù triều đình Huế thề nguyền sẽ giết hết chúng ta bằng bất cứ phương tiện gì, nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu bằng những khí giới bắt chước chúng ta nhưng hết sức là thô sơ. Dân gian nói rằng tướng sĩ của họ luôn luôn tôn trọng truyền thống hào hùng khi chiến đấu, trong những trường hợp kể ra sau đây cho thấy những kẻ man rợ đó xứng đáng là bậc thầy để dạy ta những bài học về nhân đạo.

Một trung sĩ pháo binh của ta bị địch bắt năm 1860[20], mang về thành Kì hòa, nhưng được đối xử tử tế và nuôi dưỡng đàng hoàng. Người này còn được gởi cả tin tức về cho ta nữa. Khi các đường tuyến An nam bị đánh bại, quân sĩ chạy trốn tán loạn thì ông ta bị giết; nhưng chỉ bị chặt đầu thế thôi, không giống như ở các nước Tây tạng, Miến điện xác chết còn bị thêm nhục hình thật ghê tởm._ Một chiếc thuyền buôn loại hai cột buồm do thương gia của ta ở Saĩgon thuê mướn đi từ Hong-kong đến Saĩgon, nhưng không may bị mắc cạn ở một eo biển gần mũi đất Ti-wane [21], ngay giữa vùng đất địch. Tuy rằng dân chúng đói kém vì lệnh cấm gạo [22], và mặc dù tình trạng chiến tranh không hề dung tha do ta gây ra, những người bị đắm thuyền được tiếp đón, nuôi dưỡng, lại còn được giúp để đưa tin tức; khi ta đến cứu thì thấy họ được tiếp đải trọng hậu hơn cả một số những nơi tử tế mà ta có thể biết trên bờ biển Âu châu. Ðó là một vài nét cho thấy một dân tộc không thiếu tình nhân đạo.

Người An nam chấp nhận phút khổ hình cuối cùng với một thái độ giản dị, trầm tĩnh, đáng kính nể: không một cử chỉ nào, không một lời nói nào cho thấy sự thất vọng, sợ hãi, hay hèn nhát. Trong một số khá lớn các trường hợp ta chỉ thấy có một người An nam duy nhất đã khóc, đó là một thanh niên còn nhỏ chưa đến tuổi trưởng thành[23]Trong vòng tháng sáu năm 1861, khi đầu quân sĩ viễn chinh được treo giá thêm một lần nữa, và khi bản tuyên cáo của triều đình Huế sớm lọt vào tay ta thì ta bắt được hai mật sứ trẻ mang các bảng tuyên cáo này của triều đình gần Tran-bam; hai mật sứ giống trẻ con hơn là vị thanh niên. Ta giải hai đứa nhỏ này về Saĩgon để đưa về tổng hành dinh trên mẫu hạm của đề đốc là chiếc Impératrice-Eugénie. Khi còn đang trên sông Don-naĩ chúng xin ta ban cho chúng một ân huệ; chúng xin với một vẻ giản dị và hồn nhiên đến nỗi lúc đầu ta cũng không nghĩ đến mục đích của những lời van xin đó: hai đứa xin phép ta được nhảy xuống sông để tự tử. Tất cả người An nam đều biết lội: nhưng ta không nghĩ rằng hai đứa bé tìm cách trốn, thật sự là chúng xin được tự tử, có thể vì sợ bị tra tấn; theo chúng thì khi bị bắt tức là phải chịu tử hình. Cái tuổi cực kỳ trẻ thơ của hai tội phạm thật là đáng chú ý, và trong trường hợp này sự thương hại lớn hơn những lý do chính trị.

Ta tự đặt câu hỏi từ đâu đã phát sinh ra sự trong sáng như vậy mà ta có thể so sánh với sự thanh thản ở cấp bực của linh hồn? Có phải bên trong họ có một hình ảnh nào đó đã an ủi họ, như một lời hứa hay một kỷ niệm chẳng hạn? Họ có so sánh giữa sự sống và cái chết hay không, hay họ xem cái chết còn tốt đẹp hơn sự sống? Có phải là bản chất tôn giáo hay tánh khí của họ đã trợ lực cho họ? Chắc chắn không phải là bản chất tôn giáo rồi: ta không thấy gì khác biệt trên phương diện này giữa người An nam thiên chúa giáo và người An nam ngoại đạo; những người ngoại đạo rất tin những pháp lý của vị Phật sau cùng, nhưng những giáo lý của ông Phật không vượt lên tới cấp bậc tư tưởng thiên tính, và ông Phật chỉ là một vị thánh lương y mà thôi[24]Còn người theo thiên chúa giáo thì ngày nay ta đã biết giá trị của họ thế nào rồi. Những gì làm cho người An nam rắn rỏi là ý chí của họ, điều này làm họ khác hẳn với các sắc dân khác ở Á châu. Chính ở những kẻ yếu kém sự linh hoạt và mềm dẻo của trí tuệ càng phát hiện một cách rõ rệt hơn, chính đó là bản chất của tính khí người An nam. Thường thường đàn bà và trẻ con An nam tỏ ra can đảm và liều lĩnh hiếm có.

Người đàn bà An nam được tự do hơn bất cứ một nơi nào ở Á châu. Người ta kể rằng ảnh hưởng của họ rất lớn nơi thôn quê làng mạc. Nếu có một người nông dân nào bị tù tội phi lý, vợ hắn bế con trên tay tìm đến cổng quan mà kêu oan: không ai có thể cản nổi bà này. Người phụ nữ trong các sách truyện An nam, cũng như trong những mẫu đối thoại chuyển thành thơ [25]mà họ hát tay đôi với nhau giữa đồng ruộng, hoặc trong các vở kịch giản dị trên ghe thuyền ta đều thấy một dáng dấp, một âm dọng cực kỳ diệu dàng và tế nhị của người phụ nữ; điều này cho thấy rõ ràng đặc tính cá biệt của người đàn bà An nam trên toàn cỏi Á châu. Ta tự hỏi còn có gì diệu dàng và chất phác hơn những lời ta thán của một người si tình ngõ lời với một gốc chanh?

‘’Tôi xin chào và khen ai trồng chanh _ tôi muốn hái quả chanh ngon. _ Khi thấy hoa thấy trái, tôi thấy tâm hồn của chanh; _ nhưng đụng phải gai, nên tôi phải tránh, _ Có biết bao nhiêu những kẻ tài tử giai nhân _ dòm ngó săn đón chung quanh _ Chanh ơi! tôi muốn bước tới chỗ thương yêu: nhưng chanh từ chối._ Tại sao, tàn nhẫn quá, chanh làm cao quá vậy, có phải chanh coi thường tôi chăng?’’

Hôn nhân và mai táng là hai sự kiện quan trọng nhất trong đời người An nam, trong những trường hợp này người nghèo cũng được ngang hàng như người làm lớn hay người giàu có: tức là họ được mặc áo dài rộng màu mè và thêu hình vẽ, thông thường chỉ dành riêng cho các bậc quan; ngay cả quan quân khi gặp đám cưới hay đám ma của một người nhà quê, dù thấp hèn cách mấy đi nữa, cũng phải xuống ngựa và nhường bước cho đám đông.

Ðám cưới có tới sáu lễ; nhưng thông thường thì chỉ giữ có ba, có khi còn giữ hai lễ mà thôi, như sau: người thanh niên phải tìm một người làm môi giới báo trước cho cha mẹ người con gái rồi chọn ngày và giờ. Ðúng ngày đã chọn, người con trai cùng với người mai và các người chứng thân hành đến nhà cha mẹ cô gái. Một người trong số những người chứng bưng một mâm khảm sa cừ, trên mâm có bày trầu, trái cau, vôi, thảo quả, và trong một cái hủ nhỏ có một cặp bông đeo tai, tất cả được phủ bằng một tấm lụa đỏ. Mọi người đều mặc áo dài lễ phục; mâm cau có người đi kế bên che lọng. Người con trai dâng trầu cau cho cha mẹ cô gái: nhưng không mời cô này gì hết.

Lễ thứ hai cũng giống lễ thứ nhất. Ðúng ngày gọi là đính hôn, người con trai, người mai và các người làm chứng lại thân hành đến nhà cha mẹ người con gái. Trên mâm có một cặp vòng đeo tay chạm hình tám con thú tượng trưng thích nghi theo tình trạng sắp làm vợ của người con gái. Nhiều người khác trong đám đội mâm có để ba áo dài và một cái quần. Lễ vật đều có đậy khăn đỏ và che lọng. Người ta cũng thấy dẫn theo một con heo đen để làm lễ vật.

Lễ đính hôn xong. Mười lăm ngày sau là lễ hợp hôn. Người con trai đã đính hôn lại tới nhà cha mẹ của nguời hôn thê với nghi lễ giống như trước. Anh ta dẫn cô dâu về nhà mình, có cha mẹ cô gái và tất cả những người làm chứng đi theo; tất cả dự tiệc thật lớn, tiệc chấm dứt vào lúc sáu giờ chiều, vì người An nam không ăn đêm. Cha mẹ cô dâu rút lui; nhưng trước đó, vài người ứng khẩu đọc thơ, theo nghĩa trong đó là chúc hai vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc và có nhiều con. Ðôi khi người con trai thưa với cha mẹ vợ là nhà chưa được tươm tất, tiện nghi để đón vợ mình về xin hẹn thêm ba ngày nữa. Ðó là cách nói thật thà ngõ ý mình không phải người hấp tấp.

Trẻ con An nam có bẩm tính linh hoạt, tự tin và gây sự. Chúng có vẻ mặt rất cởi mở, bầu bỉnh và khả ái: càng lớn, vẻ dịu dàng mất đi; hai gò má nhô ra nhiều hơn sự cần thiết; hai má nhô lên nơi người An nam như là một biến đổi về cơ thể, tình cảm cũng thay đổi trên nét mặt. Không phải là chuyện lạ khi thấy trẻ con đứng cách xa vọt miệng gán cho người lính của ta một tiếng kỳ cục[26]Cha mẹ của những đứa trẻ thì ngồi chồm hổm ở ngưỡng cửa, họ càng có vẻ buồn bã bao nhiêu thì vẻ mặt của trẻ con lại vô tư bấy nhiêu [27]Cái tương phản lộ liễu đó chẳng qua là tại chiến tranh mà ra. Trong bốn cuộc chiến tranh leo thang liên tiếp, người An nam trở nên âu sầu và buồn thảm quá chừng, người thì mất nhà, người thì mất cặp trâu, kẻ thì mất ruộng. Chỉ có con cái của họ là hưởng được cái cảnh nhộn nhịp biến đổi không ngừng làm chúng thích thú.

Người An nam có thói ham mê cờ bạc cao độ. Những phu khuân vác do công binh ta mướn ở các công trường xây cất khi vừa lãnh lương xong được vài đồng kẽm là tụm nhau mà đánh bạc, họ chơi bằng cách nắm tay và chơi chẵn lẻ. Cử chỉ của họ chính xác, co giật cực kỳ mau lẹ [28]. Trò chơi thật mau ngã ngũ: thoáng là đã thua sạch, chỉ có một người ăn duy nhất. Họ lại mượn trước tiền lương của ngày hôm sau và tiếp tục chơi. Thường những người ở vùng biển, sống bằng nghề chuyên chở giữa vùng ven bờ và My-thô, ra đi trên những ghe thật đẹp chở đầy ắp hàng hóa, khi về thì thua hết vì cờ bạc, chỉ còn có cái can-chiantrên người.

Những người An nam ta thấy lúc nào cũng hối hả đem những gì họ kiếm ra để chơi cờ bạc và hình như họ không tìm thấy sự thích thú khi tom góp của cải để làm giàu; họ có những rung cảm cao độ về cảnh nghèo khó. Bài thơ sau đây, mà ta thấy họ hát trên khắp các mặt sông rạch ở Nam kỳ miền dưới, sẽ nói lên điều đó. Bài thơ không có tên tác giả. Người thông dịch An nam lúc nào cũng nhắc lại rằng:’’ Ở An nam, người ta làm nhiều thứ lắm, nhưng không bao giờ tìm cách phô trương giá trị của chuyện mình làm.’’

‘’Cảnh nghèo đói ơi, mi nói cho ta nghe._ Tại sao mi theo ta từng bước, chẳng khi nào mi để ta yên?_ Cảnh vườn hiu quạnh, cỏ mọc đầy._ Căn nhà ba cột, nhìn mái nhà dòm thấy trời xanh._Phần số của ta chỉ có bấy nhiêu đó. Trước cửa chủ nợ đòi khan hết tiếng, trong nhà con nít đói khóc hết hơi._ Số phận của ta phải chịu nghèo; nhưng cảnh nghèo chỉ còn vài năm nữa mà thôi, _ Rõ ràng đâu phải ai cũng nghèo hoài.’’

Khi ta nhìn vào các dân tộc sống ở những nơi tận cùng của Á châu, thì không thể nào ta lại không chú ý tới người Tàu; ta thấy họ khắp nơi, chỗ nào cũng có, sống riêng hay trà trộn với dân chúng địa phương.

Người Tàu rất đông tại Nam kỳ miền dưới: tập thể của họ gồm khoảng chừng 30 000 gia đình trước khi người Pháp xâm chiếm; ngày nay con số đó tăng lên gấp bội. Họ có nội qui, điều lệ đóng góp; nắm hết nội thương, ngoại thương trong xứ. Họ có tinh thần hấp thu và khả năng hoà mình dễ dàng với hoàn cảnh chung quanh, điều này giúp họ bành trướng ở An nam và ở những nước khác khi họ tụ tập lại; chỉ cách Saĩgon có mấy dặm ta thấy Cho-leun giống như là trên đất Tàu. Những người giàu có hay khá giả nếu có lấy vợ người An nam thì họ ép buộc người đàn bà phải sống trong chỗ tối tăm kín đáo, không được hoạt động gì cả; người đàn bà mất hết tự do và ảnh hưởng của mình trong gia đình và xã hội, không như khi họ lấy chồng người An nam. Người Tàu trả một số tiền gọi là thuế thân và khỏi đi lính, nếu không đóng thì không được mua đất và không được ghi tên trong sổ bộ của nhà vua. Người An nam phải chịu đựng ảnh hưởng của người Tàu và không thích họ chút nào. Họ gọi người Tàu là quiet[29],danh từ có tính cách miệt thị; nhưng khi họ cần đến người Tàu giúp đỡ, và chuyện này thường thấy xảy ra, thì người Tàu là ‘’các vị sáng suốt’’.

Người Tàu xâm nhập khắp nơi. Mặc dù chiến tranh, cướp bóc hiểm nguy đủ loại, nhưng chính người Tàu ngược xuôi trên khắp miền kinh rạch, đi vào từng nhà người nông dân An nam dọc theo từng con kinh, thương lượng, thông thường là bằng cách hăm dọa, để mua trọn mùa lúa của họ. Cứ như vậy mà từ nhà nông dân này qua nhà nông dân khác họ mua lúa từng số lượng nhỏ rồi chở về My-thô hoặc Cho-leun. Từ đó việc buôn bán và chuyển lên tàu lớn thì cũng giống như ở Âu châu hoặc các nơi khác ở Viễn đông; tại Singapour cũng một phương pháp như vậy. Chuyện gì xảy ra ở Singapour thì cũng xảy ra ở Saigon, không tránh khỏi được. Người Tàu tự làm môi giới buôn bán với nhau, không cần trung gian chi phí, gom hết lợi nhuận và tạo ra những gia tài kếch xù Người Âu châu,_ nói chung người Anh và những người Âu châu khác,_ phải qua tay bọn thương gia địa phương: người Anh ở Singapour chỉ là người nhận ký gởi hàng hoá và thu tiền hoa hồng môi giới mà thôi. Những gia tài thật sự kếch xù ở trong tay người Tàu, trước kia họ chỉ là những người làm thủ công nghệ ở Quảng châu hay Hải nam. Việc người Âu châu đến Saĩgon không làm nao núng người Tàu chút nào, họ không sợ sự cạnh tranh của người Âu châu. Họ tin tưởng ở cách làm ăn của họ, người Âu châu không thể nào xâm nhập vào nổi. Trong thời buổi khó khăn, dưới sự xâm chiếm của Pháp, mặt ngoài họ giả như theo về phía quan quân An nam, và họ cũng có theo thật, chẳng qua là lúc đó My-thô và các tỉnh miền nam vẫn còn trong tay người An nam và người An nam còn đủ sức đảm bảo việc thương mại của họ.

Trung tâm xâm nhập của người Tàu vào An nam là Cho-luen, chỉ cách Saĩgon có hai dặm. Ðó là một thành phố hoàn toàn Tàu. Dân Tàu ở đây gồm có bẩy bang hội, mỗi bang có một người cầm đầu gọi là hong-phoo; các người hong-phoođeo một cái nút màu vàng là dấu hiệu của khoan dung và uy quyền._ Sau trận đánh chùa Clochetons năm 1860, ta thấy hết sức rõ ràng là thị trường tàu vỉnh viễn sẽ lọt vào tay ta, các người hong-phoođều xin ta bảo trợ, và ta đã chấp thuận.

Dân Tàu ở Nam kỳ miền dưới hàng năm vẫn tăng lên một cách đáng kể vì số thủy thủ người Tàu hàng loạt đổ đến từ Fo-kien, Kouang-ton và Hải nam. Sau các biến cố Kì hòa và My-thô ta thấy dân khắp nơi đổ xô đến đây, những người nghèo đói và bần cùng vì nghiện ngập thuốc phiện hoặc vì cờ bạc, bọn cướp bóc hết thời cũng nhập vào số đó, tuy cũng có người làm ăn nhưng khó phân biệt họ với cái cặn bả do miền biển Tàu thải ra như vừa kể trên; họ là những người có nghề nghiệp,_ như thợ hồ, thợ lợp nhà, thợ mộc làm nhà, làm tàu, thợ rèn,_ kể cả một vài người khá giả mang theo vốn liếng để kinh doanh.

Xin ngưng ở đây những nhận xét về các nhóm dân ở Nam kỳ miền dưới. Nghiên cứu chính thức của chính phủ ta về họ hình như chỉ dựa vào những tình trạng mới thích ứng của họ về sau này thôi.

Người An nam tôn thờ vua như cha mẹ của mình, như một giáo chủ, một người ở bậc tối thượng, chuyên chế, nhưng không độc tôn. Hình thức chính phủ không khác gì chế độ chuyên chế phụ hệ ở Tàu, người An nam được giáo huấn trong chế độ như vậy. Hoàng đế là một người cha; tùy tùng của hoàng đế có quyền như người trưởng tộc; thần dân thuộc hàng con cái mãn đời: hoàng đế tại triều đình gọi dân là con đỏ, xit-eu [30], để ám chỉ màu da của trẻ con mới đẻ, vì lẽ người cha càng thương môt đứa con hơn khi thấy nó càng yếu đuối. Ý tưởng này cảm động biết bao nhiêu nếu mà thực hiện được! Nhưng nếu con người chỉ là một đứa trẻ yếu đưối, không xứng đáng, không đủ sức tự bước đi và suy nghĩ thì sao!

Hoàng đế An nam, như đã nói, không phải là người chuyên chế độc tôn: các thành viên của hội đồng tư vấn có thể bắt vua nghe theo mình bằng văn bản hoặc bằng lời biện luận cương quyết. Các văn bản mà ta tìm thấy trong cung mùa hè của các hoàng đế Tàu cho ta một ý niệm về sự tự do lạ lùng trong các lời diễn đạt của các quân sư.

Hoàng đế nhận lãnh phụ cấp một cách minh bạch: mỗi tháng, bộ trưởng ngân khố quốc gia cấp một số tiền mà ta có thể biết rõ ràng[31]; nhưng số tiền này không đáng kể lắm, nếu ta cứ tạm so sánh với số tiền của công chúa vợ hoàng tử kế vị sẽ rõ: bà này mỗi tháng lãnh được năm mươi xâu tiền và năm phần gạo. Tuy nhiên hoàng đế An nam có các nguồn lợi khác, và được xem như một trong các hoàng thân giàu nhất Á châu. Giống như vua Xiêm, ông có quyền làm thương mãi, trên thực tế ông là thương gia lớn nhất trong nước. Ở Ðông phương điều này không làm hại đến uy quyền của ngôi vua.

Tại Huế, hoàng đế cũng có tổ chức những buổi xuất hành trọng thể; nhưng ông cũng thường du hành với một đoàn tùy tùng thật ít người. Trong trường hợp trọng thể thì đi đầu có hai quân sĩ truyền lệnh: thông báo là hoàng thượng sắp xuất hiện, phải tránh bước nhường đường. Kế đó là các quan cởi ngựa và cởi voi, sau cùng mới đến hoàng đế. Phía sau là đoàn tùy tùng che lọng khá đông đảo. Dân chúng quì gối hai bên đường: nhưng vẫn có quyền đến gần để dâng lên vua đơn thỉnh nguyện của mình. Một vị quan cao cấp bên cạnh hoàng đế đứng ra nhận đơn; thường là chính hoàng tử con vua thân hành nhận đơn[32]Những người đưa đơn ngậm ở miệng một tờ giấy màu xanh. Tục lệ này là do sự tích thật xưa: có một người oan ức nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi xô, bèn ngậm một tờ giấy xanh trong miệng mà kêu khóc, tiếng kêu oan lên đến tận trời. Ta thấy trẻ con An nam ngày nay cũng hay chơi trò thổi còi bằng cách dùng lá dừa quấn làm còi, đó cũng là cách tượng trưng chuyện đưa đơn vừa kể [33]. Ta thấy những người kêu oan trên đường, cất lên những tiếng kêu khóc, giọng ré lên rất cao hoặc ồ xuống rất trầm, họ cố gắng thay đổi âm điệu [34].

Hoàng đế An nam có một vợ do mẹ chọn, ông tiếp nhận người vợ chính thức trước hội đồng bô lão đúng theo nghi lễ quy định. Ngoài ra ông có thêm bẩy bà thứ phi. Hoàng cung xây cất tại một địa thế có vị trí trắc trở của thiên nhiên, trong cung chỉ có đàn bà hầu cận. Các hoạn quan chỉ canh giữ gần cửa thành nơi hoàng đế tiếp các vị đại quan vào những ngày nhất định; nhưng sự hiện diện của hoạn quan vẫn là trường hợp đặc biệt; ta có thể nói chung quanh hoàng đế chỉ có đàn bà.

Chỉ cách đây mười hai năm, hoàng đế An nam còn phải thân hành ra đến biên giới Tàu, áo mão trịnh trọng, tiếp sứ thần của hoàng đế Tàu để làm lễ đăng vương. Nhưng hoàng đế hiện nay thì lên ngôi tại Hué.

Khi koàng đế lên ngôi thì phải bỏ tên cũ của mình và không được phép dùng tên này nữa, đồng thời một số chữ khác cũng cấm không được dùng[35]Tu-duc gọi là Haong-giâm [36]: chữ haong bị cấm trên khắp nước; người ta không được phép dùng trong khi nói chuyện, thi cử giấy tờ bộ đời._ Than [37], là tên mẹ của một trong số các hoàng đế An nam, dân gian cấm không được dùng tên Than trong một thời gian, và trên toàn nước phải gọi là Thiet. Mẹ vua Tu-duc tên là Thi: hiện nay người ta gọi là Thim trên toàn cỏi An nam. Chẳng những các cuộc tranh luận trong dân chúng cũng phải tránh tiếng này; nhưng ngay cả trong những dịp hệ trọng hơn mà nhà nho nào lỡ dùng chữ này trong văn thư cũng bị xử đánh bằng gậy. Việc đánh đòn là điểm đặc biệt làm tổn thuơng đến sự nhậy cảm của người Âu châu, nhất là trên đất Pháp; nhưng thật ra hoàng đế An nam bắt toàn dân phải đọc trại đi một chữ hoàn toàn không phải vì sự chuyên chế độc đoán, mà đây chỉ là một qui ước về lễ độ theo đúng tục lệ mà thôi.

Tên họ ở nước An nam có tầm quan trọng đặc biệt và khác lạ hơn cả với bên Tàu. Trên toàn nước không có hơn quá bốn mươi họ. Người An nam thêm vào họ một chữ nữa ám chỉ các đức tính tốt, sự xinh đẹp, hoặc dựa vào mùa màng, thiên nhiên: như suan tức là mùa xuân, quêlà quế; gen-seng[38]là một loại thuốc thảo mộc tuyệt vời.

Các viên chức nhà nước khi được bổ nhiệm thường chọn cho mình một tên mới có tính cách trừu tượng không phải là tên cũ của mình, nhưng là tên để đặt cho quận, cho tổng hay cho làng [39]. Vì thế lần lượt làng bỏ tên cũ và chọn tên mới có vẻ Tàu, êm tai hơn, hoặc để tránh không có chữ nào cấm: vì tính thận trọng của nho sĩ trong sự tôn trọng luật lệ. Kể từ ngày đó, tên làng chính thức được dùng trong mọi giấy tờ hộ tịch; nhưng dân làng vẫn dùng tên cũ trong khi nói chuyện, dần dần cho đến lúc tên chính thức trở nên quen thuộc, tên cũ gác qua một bên rồi quên đi, hoặc có trường hợp lại đổi qua một tên mới nữa khi có quan chức mới đến thay.

Ở An nam người ta có thể đổi tên mà không cần thủ tục gì cả; nhưng cấm không được dùng tên của bạn bè, của một người quen biết: vì đó là một sự lăng nhục. Như ta thấy, những ý tưởng này thật khác biệt với quan niệm thiên chúa giáo hay La mã liên hệ đến việc bảo hộ hay nhận con đỡ đầu.

Mỗi tỉnh do một quan tổng đốc cai quản, quan tổng đốc có hai cấp: cao và thường, tùy theo tầm quan trọng của tỉnh mình cai quản. Nam kỳ miền dưới, như mọi người đều biết, có sáu tỉnh, ba tỉnh lớn và ba tỉnh nhỏ, trước đây hợp lại làm một phó vương quốc đặt dưới uy quyền tối thượng của một đại biểu triều đình Huế gọi là king-luoc. Các phụ tá của vị tổng đốc gồm quan thuế vụ, quan án, một vị tướng giữ việc quân sự và một quan văn. Duới tổng đốc là các quan-phouquan-huyennắm giữ những đơn vị hành chính trong tỉnh, tương đương với tỉnh và quận của ta[40]Cũng không phải quá dài dòng khi cần xác nhận ở đây là các danh từ ta tạm dùng để chỉ định tương đương tỉnh trưởng và quận trưởng không có cùng định nghĩa như trên đất Pháp. Một tỉnh trưởng Pháp có thể viết văn thư trực tiếp lên cấp bộ trưởng, trái lại vị quan phoukhông có quyền này. Một vị quan-huyenhiếm hoi lắm mới phúc trình những việc mình làm lên quan- phou mà ta gọi tương đương là tỉnh trưởng. Ông ta không cần chứng tỏ sự hiện diện thường trực của mình cũng như sự tùy thuộc của mình vào cấp trên tức quan phoutheo nghĩa thông thường mà nói.

Các quan-huyenlà cấp bực thấp nhất trong các quan chức chính thức do nhà nước tuyển chọn bằng thi cử, không bắt buộc có liên hệ mật thiết gì hết với nơi mà ông đến nhậm chức. Dưới ông là chức sắc hội đồng xã do dân chỉ định: một số người ở hội đồng xã chịu trách nhiệm trực tiếp với nhà nước, nên có tánh cách chính thức, một số khác chỉ liên hệ trực tiếp với dân mà thôi. Người cai quản trực tiếp dưới quan-huyencaĩ-tong; đó là người quản lý của tổng; vị caĩ-tongđược chọn ra trong số muời hai hay mười lăm xã trưởng bằng cách bầu cử. Như vậy là ta đang nói đến tầng thấp nhất trong mô hình kim tự tháp mà đỉnh chóp là hoàng đế: tầng thấp nhất chính thực là dân gian trong nước và những người tự họ bầu ra, tượng trưng là cấp làng mà cách tổ chức như sau:

Trước nhất có ong-xa. Ở Pháp ta gọi là ‘’ông xã’’[41]: ông có ấn dấu và giữ việc đối ngoại, trực tiếp trình tấu với quan nhà nước. Ông được dân bầu và phải được nhà nước chuẩn y. Ông thực thi quyền hành trong ba năm, sau ba năm nếu quản lý tốt thì được cử vào hội đồng xã.

Dưới ong-xacó hai ly-truongphụ tá. Có những làng quá nhỏ không có ong-xamà chỉ có một ông ly-truongcai quản, làng sẽ tùy thuộc vào xã trưởng của làng cạnh bên. Chức sắc thấp nhất của hội đồng xã là pho-lytrợ tá cho ly-truong, sau cùng là các ong-huongphụ giúp các pho-ly.

Ðó là các viên chức vừa tùy thuộc vào chính quyền lại vừa tùy thuộc vào dân làng; nhưng ngoài ủy ban hành chính liên hệ thường xuyên với chính quyền tỉnh và quan chức nhà nước còn có cả một hệ thống đẳng cấp rất uy thế, mặc dù không có tính cách chính thức gì hết; một vài người trong đẳng cấp này còn đứng cao hơn cả ông xã trưởng.

Ðẳng cấp này là ong-ca,một người cao niên đã làm nhiều việc tốt, đã từng là xã trưởng. Ðó là vị ‘’cao niên nhất trong lớp người lớn tuổi’’. Làng nào có nhiều vị cao tuổi đáng kính như vậy thì dân làng rất là hãnh diện và làng được đặc biệt ân sủng. Ðối với người An nam sự kính trọng tuổi già cũng lan rộng ra đến việc kính trọng những cổ thụ trăm năm, mà họ coi là một biểu tượng của sự phồn thịnh. Vị bô lão tức ong-cacòn có quyền trên trước ngay cả với ông xã trưởng, nhất là trong các yến tiệc và ở chùa.

Sau ong-cahuong-thanh, chức vị như một cố vấn xã, có quyền đưa ra ý kiến và ứng cử đại biểu. Huong thanhlà người có học của làng. Huong-haolà người thủ quĩ. Ông ứng tiền cho nông dân khi thất mùa, mặc dù giàu có và luôn luôn có vẻ hào phóng nhưng ít khi ông xóa nợ cho người nghèo. Ông cũng là người làm chủ lễ và dạy dỗ cho trẻ em cách chào hỏi, vâng dạ, thưa gởi. Dân cũng phải tuân theo những khuyến cáo của ông để khi các phouva huyencó xuống thì được suông sẻ._Ongcai dĩnhcó trọng trách bảo trì dinh thự nhà nước và chùa chiền._ Các người apgiống như các thừa phát lại của ta, vì cấp bực thấp không gọi bằng ong. Người ta cũng chọn trong số những người apđể làm cai hướng dẫn từng nhóm mười người đi làm xâu. Họ cũng được cử làm vệ sĩ nữa._ Sau hết là ở mỗi phủ có một ong-huong-diong, trông giữ thành đồn, đây là một chức vụ mới đặt ra khi đánh nhau với người Pháp. Vai trò của họ rất quan trọng trong các cuộc khởi nghĩa.

Ông xã xét xử những lỗi nhẹ, tội nhẹ; nhưng khi có ai phạm lỗi nặng và trọng tội thì ông phải đưa lên trình quan án của tỉnh. Ông có một số người tùy tùng là các vệ sĩ để sai thi hành lịnh của ông; nhưng trên thực tế ông có hết làng để sai bảo; gần như không bao giờ có lính: trong việc giải quyết các vấn đề nội vụ ở An nam ta không bao giờ thấy sự hiện diện của người lính.

Các hình phạt mà ông xã áp dụng là việc đánh đòn. Người chịu tội nằm sấp bụng, người xử phạt dùng roi để đánh vào hai mông lột trần. Nếu thấy có vết roi phạm trên thắt lưng, thì người cầm roi sẽ bị phạt phải chịu đòn. Thường khi chịu đòn thịt văng lên không khí. Dân chúng, ngoài sự trừng trị khốc liệt vì trọng tội ra, thì bị phạt như trẻ con: người già như người trẻ đều bị roi vọt. Những tay cự phách ở Pháp về các cách trừng trị sầu não nhất cũng chưa chắc có dịp nhìn thấy một người lớn tuổi phải nằm xấp trong cái tư thế nhục nhã như vậy, và khi đứng lên thì run rẩy, mặt đầy nước mắt. Nhưng phải nói gì đây khi những người chứng kiến xem đó là một cách làm gương rất hữu hiệu, và ta có nên tin hay không khi nghĩ rằng có một số người trong tận cùng thâm tâm của họ lại thích trông thấy sự đau đớn của xác thân bị hành hạ?[42]

Người xã trưởng rất ngại bị roi vọt. Nhưng đôi khi việc xử đòn lại là một vinh dự, một niềm hãnh diện công khai trước dân chúng. Khi một xã trưởng bị phạt roi bởi tận tình đòi hỏi quyền hạn của dân trong làng, thì ông được dân chăm lo săn sóc và trọng vọng. Người dân biết ơn; cả làng mang tiền đến cho ông; để tránh ý diễu cợt đối với một người phải chịu oan, dân chúng bảo nhau rằng vị xã trưởng tuy chịu đòn nhưng rất hãnh diện.

Ðôi khi chuyện phạt đòn chỉ là hình thức: chánh tổng hay xã trưởng chỉ sửa sai răn dạy cả hai phía đi kiện mà thôi; sau đó không xong mới xét xử._ Khi có một kẻ nào đưa đơn khiếu nại lên hoàng đế thì phải chịu ba mươi roi trước đã: đây là cách chịu tội đã xúc phạm đến hoàng thượng; nhưng không có nghĩa là đơn khiếu nại vì thế mà bị bỏ qua, thường là họ thắng kiện vẻ vang.

Nhưng không phải chỉ có các các quan chức nhà nước là có quyền phạt roi dân chúng; mà ngay những bô lão cũng có quyền. Các xã trưởng không chen vào: vì coi là một chuyện nội bộ trong gia đình. Khi đến thời kỳ đóng thuế thì chuyện phạt đòn xảy ra nhiều nhất ở Nam kỳ, vì nhiều người tuy bị phạt roi vẫn không chịu trả thuế; họ thà chịu đánh mà không trả thuế vẫn còn lợi hơn. Trong khi đó ta cũng phải nói thêm rằng chuyện phạt roi không xảy ra nhiều như ta kể chuyện đâu. Họ sống trong một chế độ rất hiền từ, như trong một gia đình mà thôi. Quan quân không hung dữ, uy quyền nhu nhược. Trong chế độ tồi tệ đó ta thấy một chiều hướng rất hoà hoãn không có gì cho thấy cảnh dân chúng bị trừng trị [43].

Tất cả sinh hoạt của người An nam đều phát huy và tập trung nơi làng mạc. Làng là nơi người An nam dựa vào để phát huy một chút tự do cho mình; làng cũng là một thể chế cho phép họ được hội họp và liện hệ với nhau. Ðể chỉ uy thế ngang nhiên của một người nông dân và vợ lên tìm quan án để biện giải người ta thường dùng lời phát biểu như sau:’’Coi kìa làng lên tới nơi rồi đó’’.

Các thể chế của làng giúp cho người nông dân An nam khéo léo, lanh lợi hơn người nông dân Âu châu. Họ biết tranh luận trong công việc liên hệ đến họ, biết luật lệ, quyền hạn của mình và đòi thực thi những điều lệ đó. Họ biết cách chào hỏi, cách ngồi, cách thỉnh nguyện đúng theo nghi lễ. Họ bầu trực tiếp xã trưởng của họ và các nhân viên khác nắm giữ hành chính trong làng xã. Căn nhà lợp lá dừa lùn của họ được kính trọng, đúng theo luật pháp. Nếu một tùy viên của quan phouhay quan huyenbước qua khỏi ngưỡng cửa là người đàn bà trong nhà tấn công liền.

Hệ thống cai trị của chính phủ An nam vừa hữu hiệu vừa bảo đảm mọi quyền hạn của người dân, không thấy gì sơ hở; trừ ra cá nhân con người bị mờ đi trong tập thể chung; có thể nói là mất hẳn. Vì được cư xử như thế, nên người An nam tuy bị kềm chế nhưng không nghi ngại cũng chẳng có cảm giác phải lệ thuộc sự điều khiển của nhà nước. Nếu sai lệch đều bị roi vọt; dưới vẻ tự do bề ngoài, đời sống tập thể ở làng mạc chỉ có thể tồn tại khi người nắm quyền còn đủ sức duy trì. Các ý tưởng chính trị, tinh thần trào phúng, cách diễn đạt bóng gió hoặc ý nhị, xa xôi, là nguồn động lực duy nhất của các dân tộc bị áp bức, không thấy xuất hiện trong dân chúng An nam [44], có thể người An nam không phải là một dân tộc bị áp bức. Tất cả những diễn biến tốt đẹp đó là do lòng kính mến pha lẫn sự sợ hãi đối vơi nhà vua mà ra. Tuy lòng kính mến và sợ hãi có giảm đi đối với các cấp đại diện của triều đình ở những nơi xa xôi trong nước.

Các biện pháp của ta áp dụng vào những tháng đầu năm 1861, như đã có nói trước đây, là phát huy chung quanh ý tưởng đạo đức và lương thiện: mục đích để tách xa người An nam khỏi những thói xấu mới phát sinh do chiến tranh và cố gắng giữ họ trong khuôn phép cũ để duy trì họ trong tình trạng dễ dạy, ngoan ngoãn như trước kia. Nhưng tiếc thay, phải công nhận rằng người Tây phương vì bản chất và định kiến quá nhiều, quả không thích nghi chút nào để quản lý người Ðông phương. Nền hành chánh pha trộn nhiều thứ làm mất đi đức tính tôn trọng con người của ta; đôi khi ta có thể nghĩ rằng tinh thần rộng lượng đối với kẻ yếu kém và người bại trận đã suy giảm trong số những người viễn chinh. Tính khí vẫn còn là một chướng ngại: người An nam quen tiếp xúc với quan chức của họ lúc nào cũng trầm lặng, chừng mực, họ không hiểu gì hết khi thấy ta múa may dận giử, mất kiên nhẫn, la hét, những tia máu làm mặt mày ta méo mó. Không hiểu biết ngôn ngữ làm cho mọi sự trở nên phức tạp và gây ra vô số tai họa, nhưng lỗi không phải hoàn toàn do những người mới đến. Sau hết nếu ta nhìn vào khía cạnh tinh thần hay trên phương diện thực tế của phương pháp trị dân bằng roi vọt của người An nam, ta sẽ thấy dưới nhãn quan của họ cách trừng phạt đó không làm tổn thương đến danh dự họ chút nào hết[45], ý tưởng là trẻ thơ đã không làm cho họ nghĩ tới phẩm cách cá nhân của mình. Người Pháp không thể nào giữ vai trò quyền uy phụ hệ để trị con cái như vậy được; họ cũng không ước mơ làm được chuyện đó Trong khi ấy họ lại cứ nghĩ là nên bảo tồn phương pháp trừng trị của những người cầm quyền cũ, không hiểu rằng một khi bản chất_tức đạo làm con_ đã mất đi thì phương pháp chỉ là giả tạo mà thôi. Ví dụ Âu châu vào thế kỷ thứ tám, khi hai mươi dân tộc khác nhau bị chinh phục và chịu chung một chính thể, mỗi người khi đem ra xử đều có quyền chọn lựa luật pháp áp dụng cho mình. Ví như nếu người An nam mà có cái quyền đó, chắc là họ không chọn luật lệ của ta mà họ sẽ đòi hỏi những quan án cũ của họ xét xử họ. Trước khi người Pháp đến, các dân tộc An nam được quản lý bởi một luật pháp pha lẫn tôn giáo, phép vệ sinh trong xã hội, chánh trị và đạo đức [46]; tất cả đều chi phối lẫn nhau và lẫn lộn với nhau. Một số điều rất đúng và cực kỳ khéo léo, không trái ngược với quy luật thiên nhiên chút nàoBộ luật liên hệ đến dân quyền của ngườI An nam được soạn thảo dưới thời hoàng đế Gia long sau nhiều thời kỳ giặc giã xâm lấn, vì giặc xâm lược thường thấy xảy ra. Trong bộ luật này, tính cách chuyên chế đặc biệt của Tàu vẫn còn nặng nề, nhưng ta thấy ảnh hưởng tục lệ Nhật bản thật sâu đậm; nổi bật hơn hết là tính chất hiền lành và chất phác đặc biệt của người An nam trong bộ luật.

Vì lý do thận trọng, vì chủ trương khai hóa nền văn minh thiên chúa của ta, ta có nên hủy bỏ không áp dụng đối với người An nam luật pháp dựa trên bộ luật còn nguyên vẹn của họ: chẳng hạn ta có nên giữ hình phạt đưa đến cái chết từ từ, và có nên dựa theo đẳng cấp các hình phạt ở Á châu hay không? Ta nghĩ rằng vừa có thể chứng tỏ việc bành trướng và sự hiện diện của kẻ xâm lược như ta, ta vẫn có thể kính trọng thói tục của người dân trong xứ. Sau hết nếu ta muốn tránh những nguyên do thúc đẩy người An nam lánh xa ta, thì một mặt phải cần dẹp bỏ quyền xử phạt quá sơ lược mà quan quân An nam áp dụng; và mặt khác các dân tộc An nam phải đạt được mức tin tưởng chắc chắn là sự khác biệt của ta đối với họ chỉ có trên vẻ mặt của ta, trong cử chỉ của ta; ta còn có những gì vượt cao hơn những thứ đó,và những khác biệt nếu có thì chỉ trên nguyên tắc mà thôi. Ví như ta có thiếu những đức tính tốt, và cả tính xấu của quan quân An nam, để không đủ sức cai trị họ, thì tốt hơn hết cho ta là cứ đem áp dụng cho họ chế độ cũ mà họ đã quen: nhưng tiếc thay kinh nghiệm thực tế đã cho thấy cách áp dụng này hoàn toàn thất bại. Ngay cả chế độ mà triều đình Hué áp dụng cho họ và khống chế họ, người An nam trong một số trường hợp, đã bộc lộ một cách mạnh mẽ phẩm cách cá nhân của mình: ta có thể đưa ra ví dụ về sự can trường khi bị tra tấn, hành hạ và hành động tuẩn tiết của họ, điều này không phải phần lớn do ảnh hưởng từ lòng quyết tâm mà vì khí tiết nóng nảy và bướng bỉnh của họ đã trổi dậy. Trước mặt người khâm sai của triều đình, người dân An nam có cảm giác như một đứa trẻ nhỏ, nhưng trong lòng họ sẽ nẩy sanh tức khắc một mối tử thù khi có người ngoại quốc nào muốn cầm roi đánh họ. Nếu những ai coi người Á châu như một đàn cừu vô giác trước cái đẹp tinh thần thì thật quả là những người điếc đặc không đủ sức để hé mở lòng mình. Họ phải là những người hoàn toàn ngu dốt mới tin như vậy, họ không hiểu rằng chính những người Á châu đó đã từng rơi nước mắt khi nghe kể chuyện một vị lương y thông thái, con vua, một bậc thầy thánh thiện đã từ bỏ vợ con, ngai vàng, để đi thuyết giảng cho con ngườinhững quy luật thiên nhiên mà họ đã quên[47]



[1]Can chian= cái chăn ??? (ghi chú của ngưởi dịch).

[2]Có lẽ tác giả muốn tả dáng vừa đi vừa bơi của mấy bà ? (ghi chú của người dịch)

[3]Theo tác giả có lẽ phụ nữ An nam đẹp hơn các cô Tàu ở Thượng hải ? (ghi chú của người dịch).

[4]Long lân quy phụng ??? (ghi chú của người dịch).

[5]Tác giả tỉ mỉ và ‘’dòm’’ kỷ quá. Tính đa nghi rất xấu, nhưng biết đâu tác giả đã từng đi chọn nữ trang? Nhất là thấy ‘’cách nhìn’’và ‘’tình cảm’’ của tác giả về dântộc tôi đã thay đổi ‘’khá nhiều’’ so với những chương đầu của quyển sách, (ghi chú của người dịch).

[6]Lam rayDi doylà những chữ chép lại theo nguyên văn trong nguyên bản. Lam ray : có lẽ là làm rẫy. Di doy:có lẽ là đi chơi, tác giả đã âm theo giọng nói miền nam? (ghi chú của người dịch).

[7]Một đại biểu của Ðảo Réunion sau khi đến Saĩgon năm 1860, đã tin chắc khó có thể đưa dân Nam kỳ miền dưới di dân ào ạt như bên Tàu, mà Ðảo Réunion đã lợi dụng trước đây để có công nhân làm việc.

[8]Người dịch e rằng tác giả khá mâu thuẩn với mình, nếu chú ý ta sẽ nhận thấy tác giả thường đưa ranhiều kết luậnvội vã làm giảm bớt giá trị của quyển sách. Trong đoạn này ta cũng thấy tác giả mặc tình cho nhận xét và tình cảm của mình trào ra đầu ngọn bút, liên tục từ ý này sang ý khác; chẳng qua tác giả còn trẻ quá, nhưng cũng chính vì thế ta đã thấy được một chút gì thành thật. Trong chương này và một số chương khác ta cũng bắt gặp nhiều đoạn tương tợ. Dù sao với đoạn vừa đọc ta cũng thấy được một chút nào sâu sắc, một chút nhận bản và tình người bộc lộ trong lòng tác giả, (ghi chú của người dịch).

[9]Ta có câu tục ngữ :‘’Tránh voi chẳng xấu mặt nào’’ , (ghi chú của người dịch).

[10]Các chữ này chép lại theo đúng trong nguyên bản, không phải là những chữ đã dịch sang tiếng Việt, (ghi chú của người dịch).

[11]Các chữ này chép lại theo đúng trong nguyên bản, không phải là những chữ đã dịch sang tiếng Việt, (ghi chú của người dịch).

[12]Xin chú ý đoạn sau, tác giả sẽ tả người An nam bị xử tử, (ghi chú của người dịch).

[13]Ðúng theo nguyên văn: ils ont du gan, người dịch mạn phép nghĩ rằng tác giả không phải là một nhân chứngtrong câu chuyện này. Tác giả lẫn lộn gan và tim, dù sao cũng đều là ‘’đồ lòng’’ cả, cái lẫn lộn trong đầu mới hệ trọng và nguy hại hơn,(ghi chú của người dịch).

[14]Câu chuyện có vẽ hoang đường rõ rệt, không có gì hợp lý, chính xác về địa danh cũng như thời gian. Có lẽ là một câu chuyện cổ tích trong dân gian, không có một giá trị gì so với những điều tác giả viết với tư cách một nhân chứng, (ghi chú của người dịch).

[15]Tức là trước khi người Pháp khởi đánh Nam kỳ (ghi chú của người dịch).

[16]Câu này cho thấy cướp bóc, án mạng gia tăng sau khi người Pháp chiếm Saigon và My-tho. Người Pháp xử tử rất nhiều, có lẽ ghép tất cả trọng tội vào chính trị để gây khiếp sợ cho người An nam, không cho họ nổi dậy, (ghi chú của người dịch).

[17]Tôi e rằng tác giả đi hơi xa trong sự suy luận. Trong đoạn trên tác giả vừa viết là ta chỉ nên xác nhận những gì quan sát mà thôi, không nên đưa ra một kết luận nào hết. Trong đoạn này tác giả lại thả cho trí tưởng tưởng của mình tha hồ tung hoành, đưa ra những giả thuyết và những giải thích có thể đã vượt hơn khả năng của mình.

Nhưng thật tình, quả là ái ngại khi thấy một người chân ướt chân ráo từ xa đến lại xét đoán một dân tộc khác một cách hết sức ôm đồm trên quá nhiều lãnh vực không thuộc phạm vi của mình. Tác giả trong khi viết có lẽ quên mình là một kẻ xâm lược đi chiếm thuộc địa, và nơi quê hương mình Nã phá luân đệ tam đang đưa chế độ quân chủ vào một giai đoạn độc tài cao độ nhất. Tác giả có tả ở các phần trước, khi quân viễn chinh xung phong thì đồng loạt hét lên:’’Hoàng đế muôn năm’’ (Vive l’Empereur!) Quân An nam tuy có tôn thờ hoàng triều nhưng không nghe kể lại khi xung phong có hét lên: ‘’Hoàng đế muôn năm’’ hay không. (ghi chú của người dịch).

[18]Ðành rằng trong luật pháp thời xưa ở Việt nam có tội tùng xẻo, lăng trì, voi giày, ngựa xé, nhưng tôi trộm nghĩ quân viễn chinh vừa chiếm xong hai tỉnh Gia-dinh và My-thô, quan chức triều đình Huế bỏ trốn cả, lấy ai trừng phạt tội phạm cho tác giả xem. Có thể tác giả nghe kể chuyện rồi thuật lại như chính mình đã trông thấy thật. Ai chẳng đồng ý với tác giả ta nên tố cáo và chống lại sự hung bạo bất cứ từ đâu đến. Ngày nay người ta có thể đến viếng một vài lâu đài cổ trên đất Pháp có những hầm bí mật nhốt người và trưng bày những dụng cụ tra tấn cực kỳ tinh xảo của thời trung cổ Âu châu; tôi nghĩ rằng cái cày nung nóng, con dao rĩ sét hay bỏ rắn vào quần thì tôi cũng chẳng thấy gì cầu kỳ hơn và độc ác hơn những khí cụ tôi thấy ở Âu châu (chưa kể là tác giả tả người An nam không mặc quần, chỉ quấn một tấm vải rộng như tác giả thấy, vậy bỏ rắn vào đâu ?). Những hình phạt ghê rợn được đồn đại trong dân gian có tính cách răn dạy hơn là sự thực, tác giả cũng có nói trong đoạn dưới là việc trừng phạt bằng roi cũng chỉ có tánh cách tượng trưng. Chắc nhiều người cũng nghe nói dưới thời Pháp thuộc, trong bót Catinat Saĩgon người Pháp tra tấn bằng cách cho điện giật, treo tay lên trần nhà rồi đổ nước xà bông vào miệng hay treo ngược hai chân ngày đêm cho đến chết hoặc phải khai; thỉnh thoảng ta cũng thấy phim tài liệu trên màn ảnh truyền hình về cuộc thảm sát Mỹ lai, cảnh những người viễn chinh cuối cùng bị bắt sau trận Ðiện Biên Phủ, họ bị hạ nhục, bỏ đói, bịnh tật và chết gần hết; theo lời tác giả thì khi thành Kì hòa thất thủ quân An nam nào chạy không kịp đều bị giết sạch. Sự hung bạo tái diễn liên tục trong lịch sử con người, chỉ thay đổi bộ mặt đôi chút để thích hợp với từng vị trí và giai đoạn thế thôi, (ghi chú của người dịch).

[19]Người này đi vào thành phố Tàu, lúc đó vẫn còn thuộc lãnh thổ địch. Một đám đông bao quanh: vài người An nam trỏ một con gà mái và thách người lính của ta bắn xem có trúng không. Rõ ràng chỉ để đánh lừa người trung sĩ của ta. Anh nâng súng cac-bin mà nhả đạn, chưa kịp nạp đạn khác thì đám đông ập vào tóm lấy anh.

[20]Có lẽ tác giả muốn nhắc đến việc kéo quân đi đánh Oc-muon, vừa bị nóng bức vừa khát nước người lính viễn chinh cứ tranh nhau uống bừa nước trong lu của người dân để trước nhà mà không để ý là có thể có thuốc đôc trong đó. Tiếc rằng tác giả không nhắc thêm là những người nông dân chất phác và thật thà sau khi bớt sợ đã kéo ra khiêng giúp những người lính trong đạo quân viễn chinh ngã lăn ra bất tỉnh vì nóng, (ghi chú của người dịch).

[21]Trong nguyên bản ghi là cap Ti-wane, không biết nơi nào ở cửa sông Saigon ? (ghi chú của người dịch).

[22]Quân Pháp cấm chở gạo từ vùng Nam kỳ miền dưới lên phía bắc lãnh thổ để gây đói kém cho vùng chưa chiếm, tác giả sẽ nói đến trong chương X, (ghi chú của người dịch).

[23]Mô tả rõ ràng thái độ của những người bị tử hình,tác giả hẳn là một nhân chứng? (ghi chú của người dịch).

[24]Lắm khi ta trộm nghĩ biết đâu chỉ cần một vị lương y giỏi là đủ, hơn là có một linh hồn nô lệ, (ghi chú của người dịch).

[25]Có lẽ đây là hò của những ngưòi làm ruộng, (ghi chú của người dịch).

[26]Có lẽ đây là một lời chửi tục mà tác giả không muốn nói trắng ra, (ghi chú của người dịch).

[27]Tác giả rất thích dùng phương pháp tương phản để mô tả, (ghi chú của người dịch).

[28]Có thể đây là trò chơi đánh tù tì của trẻ con ngày nay? (ghi chú của người dịch).

[29]Có lẽ là phiên âm của tiếng chệt,(ghi chú của người dịch).

[30]Nếu dựa vào phiên âm mà đoán thì sit-eucó lẽ là sĩ thứ? Sĩ thứ là người dân, hay dân trong nước, không có chữ nào có nghĩa là đỏ , tuy nhiên ta có thành ngữ răn dạy vua quan : ‘’phải thương dân như thương con đỏ’’(ghi chú của người dịch).

[31]Có thể tác giả biết rõ tiền phụ cấp của hoàng đế Tu-Duc nhưng không nói thẳng, chỉ đơn cử một thí dụ nhỏ để ta so sánh. Hoàng đế TựÐức không có con, vậy vợ của Hoàng tử kế vị là ai? Quả thật là khéo léo vô cùng. Ðây có thể là tập quán tôn trọng đời tư thường thấy ở người Âu châu (?), và cũng là lối viết văn của tác giả, chỉ nói một nữa hoặc nói bên cạnh cho ta hiểu nhưng không nói thẳng hoặc nói hết, (ghi chú của người dịch).

[32]Chi tiết này rất đúng vì hoàng đế TựÐúc không có con và một vị đại thần phải đứng ra nhận đơn, (ghi chú của người dịch).

[33]Ðây chỉ là trò chơi của trẻ con, không liên hệ gì đến việc dâng đơn kêu oan lên nhà vua. Sụ suy luận bằng cách liên tưởng của tác giả có thể đã được đẩy đi quá xa, (ghi chú của người dịch).

[34]Mặc dầu không hiểu nghĩa những lời ta thán, nhưng tác giả mô tả âm giọng lời kêu van thật chi tiết. Ðiều này chứng tỏ tác giả có thểđã chứng kiến thật sự cảnh hoàng đế xuất hành,(ghi chú của người dịch).

[35]Có lẽ tác giả không hiểu điều này. Khi lên ngôi, vua chọn vương hiệu, tên vẫn còn. Dân gian tránh dùng một số chữ là sợ phạm húy, (ghi chú của người dịch).

[36]Haong giâm = Hồng Nhậm, (ghi chú của người dịch).

[37]Than= Thân, (ghi chú của người dịch).

[38]Có thể tên là Sâm, còn tên gen-sencó lẽ hơi lạ? (ghi chú của người dịch).

[39]Thật ra thì người dân ghép cho ông phủ, ông huyện, ông cai tổng,... tên của phủ, của huyện, của tổng... để tránh gọi tên tục của các ông này mà thôi, (ghi chú của người dịch).

[40]Tạm dịch các chữ Préfecture và Sous-préfecture là tỉnh và quận, ta cũng có thể dịch là quận và huyện. Nói chung không có sự tương đồng khẳng định trong cách phân chia hành chính từ cấp tỉnh trở xuống giữa An nam và Pháp, (ghi chú của người dịch).

[41]‘’monsieur le maire’’ trong nguyên văn (ghi chú của người dịch).

[42]Tác giả lại tìm cách giải thích, (ghi chú của người dịch).

[43]Xin người đọc so sanh với những đoạn trên khi tác giả tả những phương pháp trừng trị man rợcủa quan quânAn nam. Luật pháp của người An nam dựa vào sự răn dạy hơn là trừng phạt trong mục đích trả thù, (ghi chú của người dịch).

[44]Rất tiếc là tác giả mới đến đánh chiếm An nam, làm sao có đủ thời giờ và khả năng đi sâu vào ngôn ngữ, văn hóa và nghệ thuật của một dân tộc. Văn chương bình dân An nam, tức là ca dao, hát hò, hát vè, các vở kịch giản dị trình diễn trên ghe thuyền mà tác giảđã thuật ở các đoạn trước là hình thức phát biểu rất bóng bẩy, tượng trưng, sâu sắc những xúc cảm, ước mơ, những gương tốt về đạo đức, phản ảnh hoàn cảnh chung quanh họ. Văn chương trào phúng và châm biếm thì có lẽ người An nam rất sở trường, ngưòi dịch có dịp tiếp xúc với khá nhiều dân tôc trên thế giới, nhưng chưa có dịp may chung đụng với một dân tộc nào vừa lanh lợi, vừa châm chọc lại vừa tếu như dân tộc An nam. Bằng cớ là tác giả có tả con nít An nam chọc lính Tây ở đoạn trên bằng những tiếng kỳ cục. Tôi nghĩ rằng nền văn chương châm biếm không bắt buộc phải là hậu quả phát sinh từ một một dân tộc bị áp bức. Tôi rất biết ơn và kính phục những nhận xét nhiều khi rất khách quan của tác giả về dân tộc tôi, nhưng mỗi lần tác giả tìm cách giải thích hay kết luận thì tôi hơi thất vọng một chút, (ghi chú của người dịch).

[45]Dịch câu này tôi nghĩ đến câu tục ngữ:’’thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi’’ (ghi chú của người dịch).

[46]Tác giả nhận xét rất đúng, (ghi chú của người dịch).

[47]Tác giả có viết: ‘’Dân An nam là một giống dân thoái hóa, nhiều thói hư tật xấu hơn là đức tính tốt’’ (xem chương II),’’duới một trong những gốc cây maha-phôt ông Phật được vua các thiên thần là Indra phong làm thầytu’’ (xem chương III), người dịch mạn phép nghĩ rằng kẻ xâm lược bành trướng và áp đặt nền văn minh Thiên Chúa của mình (lời của tác giả ở đoạn trên), nhưng đồng thời cũng chịu ảnh hưởng một cách gián tiếp và kín đáo nền văn hóa của kẻ bị trị. Dù sao tôi cũng xin ngã nón trước sức thích ứng và hấp thu mau chóng của tác giả trước một dân tộc và một nền văn hoá mà cách đây không lâu còn hoàn toàn xa lạ đối với tác giả, (ghi chú của người dịch).

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/01/201205:07(Xem: 2555)
Ngày hôm nay trên mạng xã hội có một số người chia sẻ bộ sưu tập hình ảnh bản đồ Việt Nam từ những năm thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 19. Chia sẻ cùng các bạn, tôi sẽ bổ sung thêm các thông tin chi tiết sau, hoặc nếu bạn nào có thông tin gì về từng thời kỳ vui lòng comment để bài viết được hoàn thiện.
12/04/201303:34(Xem: 10974)
50 Năm Chấn Hưng Phật Giáo Việt Nam - HT Thích Thiện Hoa soạn GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN HÓA ĐẠO ---oOo--- 50 NĂM CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM Sa mônTHÍCH THIỆN HOA soạn Tập 1: 50 NĂM (1920-1970) CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM hay là “GHI ƠN TIỀN BỐI” I –Lời Nói Đầu II –Diễn Văn III -Quyết định số 0176–V. H. Đ IV –Ghi ân Tiền Bối V –Di ảnh và tiểu sử Chư Thánh Tử Đạo.
31/05/201114:38(Xem: 9488)
Trước khi thành Thiền sư, Trúc Lâm đại sĩ đã từng làm vua nước Đại Việt. Đó là vua Trần Nhân Tông, người đã từng đẩy lui cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ.
19/09/201317:34(Xem: 8501)
Không biết tự khi nào, tôi đã lớn lên trong tiếng chuông chùa làng, cùng lời kinh nhịp mõ. Chùa An Dưỡng (xem tiểu sử), ngôi chùa làng, chỉ cách nhà tôi chừng 5 phút đi bộ. Nghe Sư phụ kể lại, chùa được xây dựng vào khoảng từ 1690 đến năm 1708, do công khai sơn của Hòa Thượng Thiệt Phú, người Tàu sang Việt Nam truyền giáo cùng với các thiền sư khác. Trong chuyến đi hoằng pháp vào đàng trong, Ngài đã xây dựng ngôi chùa này. Chùa nằm trên một khu đất cao nhất làng, quanh năm bao phủ một màu xanh biếc của những khóm dừa, những lũy tre làng thân thương.
09/04/201313:36(Xem: 8252)
Song song với công việc biên mục Châu bản triều Nguyễn, Ủy ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt-Nam đã lập một kế hoạch riêng để hiệu đính và phiên dịch các bộ sử Việt Nam. Theo kế hoạch dự định ấy, các phiên dịch viên trong Ủy ban đã tham khảo các truyền bản tàng trử tại các thư viện Nhật Bản, Trung Hoa và Anh Quốc, làm xong một hiệu bản của bộ An Nam Chí Lược và hoàn thành một bản phiên dịch Việt văn.
03/11/201711:50(Xem: 999)
Thoại Ngọc Hầu, một công thần suốt đời tận tuỵ hy sinh vì cơ đồ của nhà Nguyễn. Sinh thời ông rất được các vua Gia Long, Minh Mệnh trọng dụng nhưng khi mất đi chưa được bao lâu thì cũng chính Minh mệnh đã hài tội ông, còn các sử quan nhà Nguyễn thì trong Đại Nam Chính Biên liệt truyện, theo lối viết Xuân Thu đã xếp ông vào nhóm công thần trọng tội: Lê văn Quân, Nguyễn văn Thoại, Lưu Phước Tường, Đặng Trần Thường, Đỗ Thanh Nhân.( ĐNLT, T2, tr 511, nxb Thuận Hoá 2006)
29/01/201205:40(Xem: 5850)
Việt Nam, là một quốc gia nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, Bắc giáp với Trung Hoa, Đông và Nam giáp với Biển Nam Hải, phía Tây giáp với Lào và Campuchia; diện tích: 329.556 km2, dân số 70 triệu người; mật độ dân cư: 224 người/km2; dân số dưới 15 tuổi: 39, 2%; tuổi thọ trung bình: 62,7 tuổi; tử suất trẻ em: 59%; học sinh cấp Trung học : 46,9%; tôn giáo chính: Phật giáo ( những tôn giáo nhỏ khác là Khổng, Lão, Cao Đài, Hòa Hảo, Ky Tô, Tin Lành…); thể chế chính trị: Cộng Sản; Lao động (nông & ngư nghiệp): 73% dân số; truyền thông đại chúng: 7 triệu máy radio, 3 triệu máy truyền hình, Nhật báo Nhân Dân phát hành 200.000 tờ mỗi ngày; thu nhập bình quân đầu người 113 đô la.
24/07/201520:15(Xem: 2340)
Bài tiểu luận "Ảnh hưởng Phật giáo trong pháp luật triều Lý" đã được viết vào tháng giêng năm 1971 tại Saigon. Tạp chí Từ Quang đã đăng từ số 225 đến 258 (từ tháng 6 đến 9 năm 1974). Tạp chí Từ Quang là Cơ quan truyền bá đạo Phật của Hội Phật Học Nam Việt, trụ sở ở chùa Xá Lợi tại Saigon (bên hông trường Gia Long cũ), do cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, cố Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hoá thời Đệ Nhị Cộng Hoà miền Nam, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Sau khi cụ Mai Thọ Truyền qua đời thì cụ Minh Lạc Vũ Văn Phường làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tôi xin trân trọng cống hiến quý độc giả Đặc San Chánh Giác của Chùa Hoa Nghiêm ở Toronto. Toronto, ngày 01 tháng 04 năm 1991 NVT
15/12/201506:23(Xem: 3280)
- Tên thật: Triệu Thị Trinh, hoặc Triệu Thị Chinh, Triệu Trịnh Nương, còn có tên: Triệu Ẩu, Nhụy Kiều Tướng Quân, Lệ Hải Bà Vương. - 19 tuổi, thu phục con voi trắng một ngà dữ dằn, phá hại mùa màng, giết hại dân lành. Chính con voi này Bà cỡi mỗi khi ra trận. Cũng năm 19 tuổi này, Bà đã vào rừng lập chiến khu tại Sơn Tùng, hàng ngàn tráng sĩ xin theo, học kỹ chiến thuật, rèn binh bày trận. Và chính nơi đây là Trung tâm cuộc Khởi Nghĩa vào năm 248, thời kỳ Bắc thuộc lần Thứ Hai. - Bà tuẩn tiết ngày 21 tháng 02 năm Mậu Thìn 248 tại Núi Tùng, Thanh Hóa, lúc bấy giờ Bà mới 23 tuổi. - Bà sinh tại huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Nhưng về năm sinh, tôi xin đánh dấu hỏi ở đây: Nhiều sử sách bài viết đã ghi nằm trên tủ sách và online trên hệ mạng, rõ ràng rằng: "Triệu Thị Trinh - Bà Triệu (225-248)" ; Lại rõ ràng rằng: "Bà Triệu Thị Trinh sinh ngày 02 tháng 10 năm 226 (Bính Ngọ)". Điểm này xin dành cho những bậc Thức giả và các nhà Sử học.
06/07/201507:44(Xem: 3386)
(Bài này được trích dịch từ tài liệu có tên “Những Giới Hạn Trong Các Vùng Biển” (Limits In The Seas) mang số 143 với tựa đề “Trung Quốc: Tuyên Bố Chủ Quyền Biển Trong Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)” (China: Maritime Claims In The South China Sea) được Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Vùng Cực (Office of Ocean and Polar Affairs), Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Môi Trường và Khoa Học Quốc Tế (Bureau of Ocean and International Environmental and Scientific Affairs) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (US Department of State) công bố ngày 5 tháng 12 năm 2014 – (Nguồn: http://www.state.gov/documents/organization/234936.pdf ). Mục đích của nghiên cứu này là để xem xét tuyên bố về biển và/hay các biên giới của Bộ Ngoại Giao và đánh giá sự phù hợp với luật quốc tế. Nghiên cứu này đại diện quan điểm của Chính Phủ Hoa Kỳ chỉ đối với những vấn đề đặc biệt được thảo luận trong đó và không nhất thiết phản ảnh sự chấp thuận những giới hạn được tuyên bố. Các phân tích gia chính cho nghiên cứu này là Kevin Baumert