Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương 1: Đại cương về Phật Giáo

14/05/201316:19(Xem: 1979)
Chương 1: Đại cương về Phật Giáo

Phật Giáo Với Con Người

Thích Như Điển

---o0o---

CHƯƠNG MỘT

Đại cương về Phật Giáo

Phật Giáo là một tôn giáo có mặt ở thế giới nầy tính cho đến năm nay (1996) là 2.540 năm. Đây là một trong những tôn giáo lâu đời nhất, xuất phát từ Á Châu và ngày nay giáo lý của Đức Phật đã lan dần vào khắp hang cùng ngõ hẻm, từ thôn quê đến thành thị, từ Á sang Âu và từ Âu sang Mỹ.

Mỗi tôn giáo ra đời vì nhu cầu của thời đại và quần chúng. Nếu tôn giáo nào đó có khả năng thu phục nhân tâm và hợp với đà tiến hóa của nhân loại, thì tôn giáo ấy tồn tại lâu dài hơn. Phật Giáo giống như một cây đại thụ, có gốc rễ 2.540 năm mọc lên từ Ấn Độ và ngày nay cành lá hoa quả đang nở rộ khắp các châu trên thế giới. Điều ấy đã nói lên được tính thực tiễn và tính khoa học của nó.

Cách đây 2540 năm về trước một vị Bồ Tát đã giáng sanh nơi vườn Lâm Tỳ Ni của xứ Ấn Độ và mấy ngàn năm sau nữa những vị Phật trong tương lai cũng sẽ giáng sanh ở cõi nầy, như những vị Phật trong quá khứ đã làm thế. Tại sao chư Phật hay chư vị Bồ Tát không giáng sanh ở cõi khác mà chọn xứ Ấn Độ để thị hiện, quả có một lý do không nhỏ, ngoài việc chư Phật ra đời để dẫn dắt tất cả chúng sanh vào tri kiến của chư Phật. Kinh Pháp Hoa là một bộ kinh trọng yếu của Đại Thừa Phật Giáo đã minh định được điều đó.

Ấn Độ là một xứ có núi cao sông dài, có nhiều giai cấp, có lắm thánh nhân. Người Ấn tương đối hiền hòa hơn các nước lân cận. Vì người Ấn đa số ăn chay và có lòng thương đối với muôn loài chúng sanh khác. Núi cao và sông dài có lẽ cũng là những yếu tố căn bản cho những bậc xuất thế. Là thánh nhân, ít ai muốn chen chân vào chốn thị thành. Vì nơi ấy có không biết bao nhiêu tạp nhiễm của cuộc đời. Vì sống nơi đô hội như thế, nên con người thể hiện các tình trần như thương, ghét, giận, hờn, buồn, vui v.v... làm cho tâm hồn bị vẩn đục. Đó là chưa kể đến những bả công danh và mùi phú quý. Vì thế Thái Tử Tất Đạt Đa đã từ chối cung vàng điện ngọc để đi vào núi thẳm rừng sâu mà tìm sư học đạo. Lâu nay chúng ta cũng thấy rất hiếm người từ bỏ chỗ thanh tịnh của họ để đi vào thế trần và đắm lụy nơi trần cảnh của thế gian. Khi Thái Tử Tất Đạt Đa chọn giáng sanh vào cung vua cũng là một lý do dễ hiểu. Vì Ngài nghĩ rằng: muốn giáo hóa muôn loài, trước tiên phải dùng đến phương tiện để độ sanh. Phương tiện nầy dùng rất nhiều trong kinh Pháp Hoa cũng như một số kinh điển khác. Nếu Thái Tử giáng sanh vào một nhà nghèo khổ, lớn lên, bỏ gia đình để đi xuất gia học đạo, đó chỉ là một việc bình thường của nhân thế; nhưng ở đây Ngài phải ra đi từ cái có để chấp nhận cái không và chứng tỏ cho cuộc đời thấy rằng tất cả những gì trong thế gian nầy cũng đều phải biến đổi qua bốn giai đoạn thành, trụ, hoại, diệt cả. Rất nhiều người vẫn còn mê danh lợi, tiền tài, nên sự ra đi tìm đạo của Thái Tử đã làm cho họ giác ngộ. Trong đó có các bậc hoàng thân, quốc thích, vương tôn công tử như bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề, công chúa Da Du Đà La, A Nan, Nan Đà, La Hầu La v.v... Đầu tiên Ngài độ cái khó trước và sau đó cũng không từ bỏ cái dễ như chinh phục ngoại đạo và cuối cùng Ngài Ca Diếp, Ngài Mục Kiền Liên và Ngài Xá Lợi Phất đã trở về với giáo lý của Ngài. Ngay cả những người sống trong giai cấp hạ tiện Ngài cũng độ nốt. Đó là Ưu Ba Ly, Bà già cúng đèn v.v... Từ đó chúng ta có thể cảm nhận được ý nghĩa đản sanh của Ngài một cách tường tận rồi.

Giờ đây chúng ta có thể tìm hiểu thêm những khía cạnh khác nữa. Xã hội Ấn Độ là một xã hội giai cấp. Người nầy thống trị người kia do tập tục và tôn giáo đương thời chia ra để dễ trị; nhưng Đức Phật sau khi thành đạo, Ngài đã san bằng mọi giai cấp để chỉ cho mọi người thấy rằng trong ai cũng có Phật tánh cả. Với tánh Phật nầy mọi người sẽ thành Phật. Nếu ngày xưa Thái Tử Tất Đạt Đa thị hiện ở một nước khác, chưa chắc gì đã có sự phân chia giai cấp như thế để Đức Phật muốn hiển thị giáo lý của mình.

Những lý do xa xưa khác như trong nhiều kinh điển đã mô tả là Thái Tử và Hoàng Hậu Ma Ya đã có nhân duyên nhiều đời nhiều kiếp, nên lúc nào Thái Tử cũng đầu thai để làm con của Hoàng Hậu Ma Ya, làm chồng của công chúa Da Du Đà La và làm cha của La Hầu La. Đây có lẽ do tiền căn và túc nghiệp mà chính Ngài đã tự chọn cho mình, cũng như mỗi người trong chúng ta tự chọn một lối đi để đến đích vậy.

Ngày nay mặc dầu đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử, từ thịnh đến suy; nhưng giai cấp vẫn còn ngự trị đó, chứng tỏ rằng chúng sanh trong xứ ấy cũng rất khó độ. Vì nhân duyên ấy mà các vị Phật trong tương lai cũng sẽ ra đời nơi đây để hướng dẫn con người rời khỏi bến mê để về bờ giác ngộ.

Sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài liền đi về hướng đông cách cây Bồ Đề nơi Ngài ngồi chừng 100 bước, câu nói đầu tiên của Ngài đã thốt lên sau 49 ngày đêm tọa thiền là: không phải khi sinh ra đã là một Bà La Môn, mà điều quan trọng trong cuộc đời phải làm cái gì đó cho xứng đáng mới gọi là Bà La Môn được. Câu nói ấy hàm chứa một giáo lý cao siêu mầu nhiệm. Ngài đã phá lệ mà lâu nay những gì giai cấp Bà La Môn đã làm. Điều đó cũng cho ta thấy được rằng: mặc dầu mỗi chúng sanh đều có tánh Phật; nhưng nếu không tu hành thì Phật quả cũng sẽ chẳng thành. Điều quan trọng là phải hành trì, mới đi đến kết quả được. Sau đó Ngài hướng về cây Bồ Đề và nói lời cảm tạ với loài thực vật ấy, nhờ nó mà Ngài đã đỡ đi mưa nắng dãi dầu trong suốt 49 ngày đêm tham thiền nhập định để chiến thắng ma quân. Đúng là một bậc Đại Giác! Ngài không những có tình thương với những loài hữu tình chúng sanh, mà cho đến cây cỏ hoa lá, Ngài cũng rất trân quý. Một sự kiện khác cũng không kém phần quan trọng là bên cạnh Kim Cương Tòa, nơi Ngài đã chiến đấu với ma quân, có hai người Phật Tử đã trở thành đệ tử tại gia của Ngài chỉ quy y với Nhị Bảo. Nghĩa là chỉ quy y với Phật với giáo pháp và chưa có Tăng Đoàn để nương tựa. Sau khi Ngài đắc đạo dưới cây Bồ Đề, Ngài nhìn sâu vào chúng sanh, thấy rất khó độ, nên Ngài chỉ nói kinh Hoa Nghiêm cho những bậc Bồ Tát nghe và những vị ở cõi trên, còn loài người vẫn còn nằm trong trạng thái hôn trầm với giáo lý cao thượng ấy. Nếu không có vua trời Đế Thích hiện ra để thưa thỉnh và nhắc nhở Ngài trước khi thành đạo, vì Ngài có hứa rằng: sau khi thành đạo quả Ngài sẽ độ sanh; khi nhớ lại lời hứa nầy Ngài đã không vội vào Niết Bàn mà một mình đã đi ngay về thành Ba La Nại, nơi cùng tu khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như thuở trước để độ họ. Đầu tiên những vị nầy tỏ ý không kính trọng Đức Phật, vì nghĩ rằng Ngài đã không có khả năng kham nhẫn khi tu khổ hạnh nên đã rời đoàn thể. Họ có ý khinh thường; nhưng khi Đức Phật càng tiến lại gần, với dáng đi khoan thai, với vẻ mặt từ ái và với thân thể sáng ngời, họ đã tự đứng dậy để cung nghinh Ngài và nơi đây cũng như chính những người bạn cũ nầy là môi trường để Đức Phật giảng bài pháp đầu tiên về Tứ Diệu Đế. Sau khi nghe bài pháp nầy, năm anh em Kiều Trần Như đã chứng quả A La Hán và Tăng Đoàn đã được thành lập. Thế là 3 ngôi báu đã bắt đầu có từ đó. Nhưng Tứ Diệu Đế là gì? là khổ, tập, diệt và đạo. Điều đó ai cũng hiểu, cuộc đời là khổ, nguyên nhân của sự khổ, phương pháp diệt khổ và con đường đi đến sự giải thoát. Ngày xưa tại sao các bậc A La Hán nghe rồi tự ngộ và chứng được đạo. Còn ngày nay chúng ta đã nghe bao nhiêu lần rồi, chúng ta vẫn không chứng được đạo quả? - Có lẽ ngày xưa con người còn nguyên sơ, không luận lý, không ngờ vực, dễ chấp nhận và thành đạo một cách dễ dàng. Còn ngày nay chúng ta nghe, phải trải qua bao nhiêu sự phân tích lợi hại, hơn thiệt v.v... và chính từ sự phân tích nầy mà chúng ta lọt vào sự chấp tướng, chấp lý và sự, còn thực hành thì chúng ta bỏ quên mất; nên đạo không chứng được là vậy. Cũng giống như thế ấy, 12 năm đầu, sau khi Đức Phật thành lập Tăng Đoàn và giảng pháp, Ngài đã không chế ra một điều luật nào cả. Vì tất cả Tăng chúng đều thanh tịnh, ai tu cũng đắc đạo quả A La Hán, hoặc ít nhất cũng vào quả dự lưu. Nhưng sau năm thứ 12 nầy trong Tăng chúng có vấn đề. Nghi kỵ nhau về sự tu, sự học, phạm phải nhiều lỗi lầm của thế gian; nên bắt buộc Đức Phật phải chế giới. Như thế so ra niềm tin của người xưa và niềm tin của người đời sau có rất nhiều điều cách biệt. Có thể hơn về phương diện nầy mà thua rất nhiều về phương diện khác.

Nơi Vuờn Lộc Uyển Ngài ở không lâu, sau đó Ngài và Tăng Đoàn di chuyển về Vương Xá Thành, nơi đây có vua Tần Bà Sa La đang trị vì. Một vị vua có rất nhiều nhân duyên với Phật Pháp. Nơi đây Đức Phật ở những năm đầu tại Vườn Trúc và những năm sau cùng tại núi Kỳ Xà Quật. Ngài chọn nơi đây có lẽ để cho chúng sanh đời sau biết đến nghịch cảnh là gì? và chính nơi đây Ngài cũng đã giới thiệu thế giới Cực Lạc cho Hoàng Hậu Vi Đề Hy muốn thác sanh về đó, chỉ vì nghịch tử A Xà Thế, mới nên nông nổi nầy. Ngày xưa Phật rất thương vua Tần Bà Sa La, mến đức hạnh của Hoàng Hậu Vi Đề Hy và cũng muốn chứng minh cho nhân thế biết về nghiệp, nhân quả, luân hồi là gì, nên Ngài mới lưu lại đây lâu như vậy. Câu chuyện được kể như sau:

Trong núi kia có một vị tiên nhơn phát nguyện rằng sau khi mãn thân nầy sẽ đầu thai vào cung vua để làm con của vua Tần Bà Sa La và Hoàng Hậu Vi Đề Hy; nhưng nhà vua đã lớn tuổi, chưa có con để nối dõi tông đường; nên nhà vua rất nôn nóng và cho người giết vị tiên nhơn ấy đi. Khi tái sanh, đúng như hẹn, vị tiên nhơn ấy đầu thai vào thai tạng của Hoàng Hậu Vi Đề Hy. Ngày lại tháng qua Hoàng Hậu sắp đến ngày khai hoa nở nhụy, vua cho chọn các bậc tướng số đến để đoán tướng. Có vị đạo sĩ đoán rằng: Hoàng Hậu sẽ sanh được hoàng nam; nhưng chắc rằng sau nầy hoàng nam sẽ soán ngôi vì mối hận năm xưa, vì vua đã cho giết vị tiên nhơn ấy. Khi nghe được điều đó vua Tần Bà Sa La rất buồn và có ý bảo Hoàng Hậu hãy hủy bỏ bào thai ấy đi; nên khi sanh không lo chu đáo. Do vậy Hoàng Hậu đứng để sanh Thái Tử, khi rớt xuống đất Thái Tử bị gãy hết một ngón tay út. Nhưng Thái Tử vẫn chào đời, càng ngày càng được lớn khôn, nhà vua cũng nguôi ngoai đi, vì thấy Thái Tử vẫn đẹp dạ; nhưng Thái Tử thì không an tâm khi hỏi đến ngón tay của mình tại sao bị gãy, thì từ cung phi mỹ nữ cho đến cận thần đều giấu kín. Một hôm Thái Tử A Xà Thế ra ngoài thành để dạo chơi, trong đám người đông đảo ấy đã xuất hiện một Đề Bà Đạt Đa và chính người nầy đã kể rõ cho Thái Tử ngay về manh tâm của vua Tần Bà Sa La cũng như sự dã tâm của Hoàng Hậu.

Đề Bà Đạt Đa vốn không ưa gì Đức Phật vì đã có lần Đề Bà Đạt Đa bảo Phật rằng: Nầy ông Cồ Đàm, ông đã già rồi, hãy giao quyền chưởng quản giáo hội lại cho tôi. Đức Phật từ chối khéo, rằng ngay cả Xá Lợi Phất là một bậc trí tuệ đệ nhất của ta, ta còn chưa giao, làm gì giao cho đồ nghịch tử ấy. Có lẽ đây là một câu trả lời đã làm cho Đề Bà Đạt Đa không vui mấy và ôm hận suốt đời, nếu có cơ hội thì tìm cớ để hại Phật. Ông cũng đi tu nhưng vì thấy Đức Phật có danh tiếng cũng như được nhiều người hầu hạ và chính ông, không phải để cầu giải thoát, nên giả trang làm thiền tướng và lừa đảo mọi người. Đức Phật biết thế, dầu cho bao lần ông đã cố ý giết Phật, lăn đá từ trên núi cao xuống hại Phật; nhưng hại Phật không được, ông tỏ ý tức giận và tìm đủ mưu sâu chước quỷ để hại Ngài. Thế nhưng trong kinh Pháp Hoa, phẩm Đề Bà Đạt Đa, Đức Phật vẫn thọ ký cho ông ta hằng vô lượng kiếp sau sẽ thành Phật, và Đức Phật cũng đã nhấn mạnh, chính Đề Bà Đạt Đa là một thiện hữu tri thức của ta.

A Xà Thế cấu kết với Đề Bà Đạt Đa để giam cha mình vào ngục tối và không cho ăn uống gì cả. Hoàng Hậu Vi Đề Hy cảm thương cho cảnh tù đày; nên đã nhồi bột vào mình, vào tóc mang vào tù cho vua Tần Bà Sa La tạm dùng trong những ngày lao lý. Trong thời gian nầy Đức Phật đã về ngự trên đỉnh của Linh Thứu Sơn và thấy nhà vua khổ sở quá cho nên mới cho Ngài A Nan và Xá Lợi Phất đến truyền Bát Quan Trai giới cho nhà vua. Chính nhờ pháp thọ giới nầy mà nhà vua đã mạng chung một cách hỷ lạc. Trong khi đó Hoàng Hậu Vi Đề Hy đau khổ quá mới cầu mong Đức Phật để được sanh về một thế giới an lành hơn. Nơi đây cảnh giới Cực Lạc đã được hiện bày trước mắt và Hoàng Hậu cùng với 500 cung phi mỹ nữ đã phát nguyện vãng sanh về đó.

Hình ảnh của Đức Phật, mỗi sáng mai ngủ dậy hành thiền, đoạn đi vào thành khất thực. Sau khi dùng cơm, thăng tòa thuyết pháp cho chư Tăng và Đại chúng. Trong những người nghe có Vua tôi, Hoàng Hậu, cung tần mỹ nữ và bá quan văn võ triều đình cũng như hàng dân dã hạ tiện. Trong những năm sống tại Trúc Lâm Tịnh Xá và núi Kỳ Xà Quật, Đức Phật đã dùng hết thần lực để chuyển hóa nhân quần xã hội và thể nghiệm giáo lý của Phật Đà vào nhân gian. Đây chính là bản nguyện của Phật lúc ra đời vậy. Quả thật nhìn bối cảnh khúc mắc ấy trong cuộc sống vương cung, nếu không nhìn bằng con mắt trí tuệ và chứng đạo, chắc chắn sẽ không giải thoát mọi người ra khỏi ràng buộc của thế trần được. Đây cũng là nguyên nhân và cũng là cơ hội để Đức Phật thể hiện giáo lý của Ngài. Ngài ở đâu và đi đến đâu cũng được nhiều người hỗ trợ và phụng trì giáo pháp từ bi, vị tha ấy.

Nơi thứ hai Ngài ở tương đối lâu nhất. Đó là Kỳ Viên Tịnh Xá. Nơi đây Đức Phật đã ở suốt 25 mùa An cư kiết hạ và chính nơi đây những bộ kinh quan trọng như A Di Đà, Vu Lan v.v... đã được Đức Phật nói ra. Hẳn nơi đây phải có một điều gì đặc biệt mới làm cho Đức Phật quan tâm như vậy. Đây là nguyên nhân của câu chuyện.

Ông Trưởng giả Cấp Cô Độc là một người rất giàu có tại nước Xá Vệ. Nhân một hôm ông ghé thăm nước Ma Kiệt Đà, nơi thành Vương Xá có người chị của ông làm dâu về đó. Đến đây ông được gặp Phật và muốn thỉnh Phật qua nước Xá Vệ để giảng kinh thuyết pháp; nhưng Phật bảo rằng: trước phải có nơi ăn chốn ở cho Tăng chúng, sau đó Ngài mới về. Đức Phật bằng sai Ngài Xá Lợi Phất là một bậc trí tuệ đệ nhất đi theo ông Trưởng giả Cấp Cô Độc về nước Xá Vệ. Vì Phật biết rằng chỉ có Xá Lợi Phất mới đối đầu lại nổi với bọn ngoại đạo tại xứ nầy. Trên đường đi từ Vương Xá thành đến nước Xá Vệ độ chừng 500 cây số ấy, ông Trưởng giả qua lời cố vấn của Ngài Xá Lợi Phất đã cho dựng dọc đường những trạm nghỉ chân để Phật và Tăng chúng dừng bước có nơi tạm nghỉ. Khi đến nước Xá Vệ tìm đâu cũng không ra vườn tốt, duy chỉ có vườn cây của Thái Tử Kỳ Đà là nổi tiếng đẹp, nên ông đã chọn mua. Thái Tử bảo rằng nếu Trưởng giả lót hết vàng được vườn nầy thì Thái Tử sẽ bán. Trưởng giả nghe thế rất vui mừng, cho gia nhân ngày đêm khuân vàng đem lót vườn, chẳng mấy chốc lót sắp xong, Thái Tử có ý không muốn bán vườn ấy. Trưởng giả thưa: Thái Tử sẽ trị vì thiên hạ trong tương lai, một lời hí ngôn của một bậc quân vương rất tai hại cho muôn họ. Sau đó Thái Tử thuận ưng; nhưng phần gốc cây không lót vàng được thuộc về Thái Tử và Thái Tử cũng tỏ ý cúng dường lên Đức Phật, như những gì Trưởng giả Cấp Cô Độc đã cúng dường cho Phật vậy. Thế là Ngài Xá Lợi Phất và ông Trưởng giả chuẩn bị thầy thợ để dựng Tịnh Xá; nhưng bọn ngoại đạo đã tâu với vua Ba Tư Nặc rằng, phải để cho họ đấu lý với đệ tử của Cồ Đàm. Nếu bên nào thua thì tự ý rút lui. Đó là nguyên tắc. Ngài Xá Lợi Phất vốn xuất thân từ ngoại đạo trước khi quy y với Đức Phật, nên Ngài biết được tất cả những chiêu thức của ngoại đạo. Cuối cùng Ngài đã hàng phục được ngoại đạo và vua Ba Tư Nặc đã cho phép cất Tịnh Xá để thỉnh Phật về nước Xá Vệ nầy.

Ngôi vườn nầy là một ngôi vườn Thượng Uyển của Thái Tử nên rất đẹp. Cây trái xanh tươi. Ngay cả ngày nay qua 25 thế kỷ với phong sương cùng tuế nguyệt; nhưng vị trí và cung cách của ngôi vườn đáng để cho đời đời được chiêm ngưỡng. Khi Đức Phật về đây, trong 25 mùa An cư kiết hạ, xa chốn thị thành, Ngài đã hoàn thành những giá trị vĩ đại cho cuộc sống tâm linh của Tăng Đoàn cũng như của Phật Tử tại gia. Trong mùa An cư kiết hạ Ngài không đi khất thực, với thời gian 3 tháng của mỗi năm Ngài đã độ không biết bao nhiêu vua chúa và mệnh phụ phu nhân ở xứ nầy qua cung cách của Ngài, qua cuộc sống của Ngài và nhất là Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, nhân quả, nghiệp, luân hồi, sanh tử, Niết Bàn v.v... Những vấn đề trọng đại nầy đương thời cũng đã có nhiều phái ngoại đạo không chấp nhận; nhưng họ phải công nhận rằng giáo lý của Đức Phật có tính cách phóng khoáng, không bị trói buộc và không có chủ thể. Không có ai ban phước giáng họa cho mình, mà cũng không có một đấng tối cao nào chi phối vũ trụ nầy được cả. Ngoại trừ hành nghiệp của mỗi con người.

Nghiệp là những hành vi tạo tác từ nhiều đời nhiều kiếp; nó theo sát con người như bóng theo hình. Chính nghiệp nầy sẽ đi đầu thai trong vòng sanh tử và chính tâm thức mình sẽ bị chi phối bởi sự lành dữ đó.

Đến cuối thế kỷ thứ 18 nhà triết học nổi tiếng của nước Đức. Đó là Schopenhauer; ông là người đã mang Đạo Phật vào xứ Đức nầy; nhưng theo ông, Đạo Phật cũng là một Đạo tiêu cực. Vì lúc nào cũng lo cho mình trước và lo cho tha nhân sau; nhưng ngày nay sau bao nhiêu khảo nghiệm chứng minh cho thấy rằng điều ông hiểu là sai. Đạo Phật không phải là một đạo tiêu cực mà là một đạo rất hợp với thực tế. Vì tâm không bình thì thế giới không bình được. Muốn cho cuộc đời được an vui hạnh phúc, trước tiên tâm ta phải được an lạc. Đây là chìa khóa để mở mọi ngăn kéo của cuộc đời. Do vậy Đạo Phật không phải là đạo yếm thế mà là một đạo tích cực để hướng dẫn con người trở về con đường chân thiện mỹ vậy.

Về luân hồi cũng thế. Ngày xưa người ta rất khó tin; nhưng bây giờ khoa học càng tiến bộ bao nhiêu, lời dạy của Đức Phật càng có giá trị bấy nhiêu. Đức Phật dạy rằng:

Muốn biết nguyên nhân của đời trước

Hãy xem kết quả hưởng được hiện tại

Muốn xem quả vị lai

Hãy nhìn việc làm trong hiện tại.

Giáo lý nầy có phần ảnh hưởng của Ấn Độ giáo. Nhưng Ấn Độ giáo thì có thần ngự trị, còn Phật Giáo không có thần; nhưng Phật Giáo vẫn chấp nhận thần trong ba ngàn thế giới khác. Có thể gọi Phật Giáo là một tôn giáo siêu thần thì đúng hơn. Trong 6 nẻo luân hồi, Trời, Người, A Tu La, Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh đều ảnh hưởng dây chuyền bởi nhân và quả; nên không thể chấm dứt được. Nếu còn tham, sân, si và ái dục lôi kéo, buộc ràng thì vẫn còn lầm than trong sáu nẻo luân hồi.

Sự sống chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp trong giáo lý của Đạo Phật. Nó không có cái bắt đầu và cũng chẳng có cái cuối cùng. Giống như ánh sáng và bóng tối. Khi ánh sáng đến thì bóng tối phải tránh đi; khi giác ngộ đến thì mê mờ hết; khi lửa tắt thì lửa sẽ phát sanh, nếu có nhân duyên gây nên lửa. Đơn giản thế thôi! và không ai sanh ra ai hết, tất cả đều có sẵn như thế, chỉ chờ đủ nhân duyên thì hội tụ và đủ nhân duyên thì tan biến.

Thân thể con người giống như bóng đèn điện và tâm thức của con người giống như dòng điện. Khi bóng điện sáng là nhờ có người bật chốt đèn điện. Nếu điện hư, dầu có bật chốt đèn, bóng điện vẫn không sáng; nhưng một ngày nào đó, bóng điện cũng phải hư. Ví như thân ta, một ngày nào đó phải tan rã, cái gì của gió trả về cho gió, đất trả về cho đất, nước trả về cho nước và lửa trả về cho lửa. Nhưng tâm thức thì còn mãi, sẽ biến đổi theo hành nghiệp của mình. Cũng giống như dòng điện vậy. Mặc dầu bóng điện hư; nhưng dòng điện vẫn còn đấy, nếu thay thế bóng đèn khác, nó sẽ sáng hơn hoặc mờ hơn. Sáng hơn hay mờ hơn là do hình thức của bóng đèn, dòng điện tùy theo công suất của bóng đèn mà mờ hay tỏ. Tâm thức của con người cũng thế, tùy theo nghiệp lực mà thọ sanh vào hàng trời hay người, hoặc làm chúng sanh dưới địa ngục và tâm thức ấy sẽ thay đổi để hợp với trạng thái của mỗi loài mà tâm thức phải đi đầu thai nơi ấy.

Có nhiều tôn giáo chủ trương rằng: chết là hết; nhưng Đức Phật, bằng con mắt trí huệ của mình, thấy rằng chết chỉ là một giai đoạn chuyển hóa mà thôi. Vậy muốn thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi phải làm sao? - không phải tin vào Đức Phật hay một vị thần nào để được cứu rỗi, mà chính mình phải tự cỡi trói trong 12 mắc xích của 12 nhân duyên. Đó là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh và lão tử. Trong 12 mắc xích nầy vô minh và các loại khác rất khó diệt; chỉ có ái dục là dễ hơn cả; nhưng thông thường dây ái nó vô hình nhưng đã có cội gốc từ nhiều đời nhiều kiếp, khi diệt chúng, cũng không phải là chuyện giản đơn. Vì vậy người xuất gia, tập sống đời giải thoát, phạm hạnh, đầu tiên là phải cắt ái, ly gia, lìa xa cái gia đình hiện hữu và tình thương của mẹ cha, huynh đệ, bè bạn. Đó là cái ái thấy được. Còn cái ái chôn vùi sâu trong tâm thức hằng vô lượng kiếp, nó sẽ chỗi dậy khi nghiệp lực của ta phải trả. Điều ấy phải biết mặt nó và lấy giới để trừ ái dục. Chỉ có giới mới làm cho tâm hồn chúng ta được an định, giới và định sẽ làm cho tâm thức của chúng ta trong sạch, từ đó trí huệ tự nhiên phát sanh. Bầu trời trí tuệ đã rộng mở. Gương xưa nay lu vì bụi bặm che khuất. Trăng không sáng tỏ vì bị mây. Khi bụi sạch, mây không còn che nữa thì kiếng tâm và trăng tuệ lại trong sáng như thường. Đây là bản lai diện mục, là nguyên thể của vũ trụ. Sự giác ngộ nầy không phải đi tìm ở đâu xa; nó có sẵn nơi ta và chính ở trong cõi đời ô trọc nầy. Nếu ta quyết tâm hạ thủ công phu thì sẽ được. Lâu hay chậm là tùy hành giả. Đường sanh tử Niết Bàn chỉ hai chuyến đi về. Người có năng lực chỉ cần đi một mạch. Kẻ thiếu năng lực thì phân chia ra nhiều đoạn để nghỉ mệt và sẽ đi tiếp. Cuối cùng rồi ai cũng đến đích thôi. Vì Đức Phật đã khẳng định rằng: tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Với tánh Phật nầy chúng ta sẽ thành Phật, lâu hay mau, mỗi người nơi mình hãy tự chọn một lối đi.

Nhưng cuộc đời vốn không bằng phẳng và toàn là kỳ hoa dị thảo. Do đó có không biết bao nhiêu người đã bị vấp ngã và sa vào cảnh đọa lạc trầm luân, lúc ấy phải cần vào tha lực. Cuộc đời và hình ảnh của Đức Phật hay những vị Bồ Tát Thánh Tăng chính là kim chỉ nam và những nơi nương tựa. Giáo lý của Đức Phật là một con thuyền để chuyên chở khổ đau và giúp đỡ nhân sinh thoát khỏi cơn hiểm nghèo trong đường tơ kẽ tóc. Phải nên nhớ rằng, giáo lý chỉ có nhiệm vụ giúp ta, còn cỡi trói hay ràng buộc là do chính mỗi con người, chứ không phải do một đấng chúa tể nào có quyền định đoạt việc ấy cả.

Giáo lý của Đạo Phật hay đúng hơn là của Đức Phật dạy rất tự do, phóng khoán; nhưng không phải chuyện đơn giản. Nếu người bộ hành không tự cất bước, thì điểm đến sẽ không bao giờ đạt được. Giáo lý ấy đã nói lên được tính chất trung thực của nó; nhưng phàm cái gì có hình tướng đều phải biến qua 4 trạng thái thành, trụ, hoại diệt hay vô thường, khổ, không và vô ngã. Đây là chơn lý để minh xác việc trên là đúng và để chỉ rõ cho con người biết lối mà ra.

Thế nào là Vô Thường?

Trong kinh Kim Cang có dạy rằng: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng" Nghĩa là tất cả cái gì có hình tướng đều là không có thật. Vậy có nghĩa là cái gì thấy được, sờ mó được v.v... tất cả đều bị biến đổi. Ví dụ cái bàn, chiếc xe, chiếc đồng hồ, vàng, bạc, đá quý v.v... người chưa hiểu đạo thì chấp chặt vào đó là của mình, mình là sở hữu chủ của vật nầy của người kia; nhưng trên thực tế nó không là của ai hết. Vì nó chỉ ở với ta một thời gian, rồi sau đó nó phải biến đổi theo luật vô thường. Người không hiểu đạo sẽ bị đau khổ khi mất mác, chia lìa, nhất là của cải, tài sản, con cái. Người hiểu rõ định luật vô thường xem đó như một trò huyễn hóa. Họ sẽ không bị đau khổ khi thành bại, nên hư. Ngược lại người không hiểu vô thường sẽ trách trời giận đất v.v...

Một ví dụ khác rất dễ hiểu mà ai trong chúng ta cũng đã kinh qua; nhưng rất hiếm người để ý đến. Khi ta sinh ra đời nầy không mang theo được một thứ gì, ngoại trừ hai bàn tay trắng và nghiệp lực của mình; rồi suốt trong một cuộc đời đó ta làm phước cũng nhiều; nhưng tạo tội nghiệp cũng không phải lá ít, rồi một ngày nào đó chúng ta lại phải ra đi, khi ấy cũng chẳng mang theo được gì, lại cũng trắng tay; nhưng hành nghiệp thì cứ đeo đuổi theo ta mãi. Khi sinh ra hai bàn tay của bất cứ ai cũng nắm chặt. Điều ấy chứng tỏ rằng sinh ra đời chưa biết gì, đã biết tham. Điều nầy có từ trong vô lượng kiếp, chứ không phải mới tạo ra từ kiếp nầy. Rồi khi ra đi, lúc bấy giờ muốn nắm hai tay lại thật chặt, như giữ vợ, giữ con, giữ của cải tài sản lại với mình v.v... nhưng có giữ lại được gì đâu và hai bàn tay vẫn cứ xuôi ra, không làm sao nắm lại được nữa. Chúng ta khó cưỡng lại sự vô thường là vậy. Cụ Ôn Như Hầu cũng đã than rằng:

"Trăm năm còn có gì đau

Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì"

Cuộc đời con người sống lâu lắm là 100 tuổi; nhưng cuối cùng rồi cũng chỉ một nấm mồ mà thôi. Hoặc giả như bài khuyến tu sau đây:

"Dép dưới giường lên giường vội biệt

Sống ngày nay chẳng biết ngày mai

Mạng người hô hấp khinh thay

Nghĩ cơn vĩnh biệt tuyền đài mà đau"

Mới tối đi ngủ để dép dưới giường; nhưng sáng dậy có người còn không thể mang lại đôi dép tối hôm qua, thử hỏi cuộc đời đâu có gì là chắc thật? Ai trong chúng ta cũng đều biết rằng mình sẽ sống được bao lâu. Không ai có thể làm chủ được mình cả. Mạng sống con người chỉ có giá trị trong hơi thở. Nếu hít vào mà không thở ra. Xem như đã hết một đời. Điều quan trọng ở đây là hiểu và không hiểu. Người hiểu về vô thường sẽ tìm cách chấp nhận vô thường. Người không hiểu về vô thường sẽ tìm cách chối bỏ nó. Nhưng dầu chấp nhận hay chối bỏ, khi cơn vô thường đến nó cũng không chừa một ai đâu. Bởi vậy Đức Phật cũng có dạy rằng: Tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh ra và các pháp đều do nhân duyên diệt là vậy. Tất cả cái gì trên thế gian nầy đều do nhân duyên mà hội tụ, rồi cũng vì nhân duyên mà các pháp đều tan biến đi. Các pháp ở đây phải hiểu hai mặt. Một mặt hữu vi và một mặt vô vi. Hữu vi là những gì có hình tướng. Còn vô vi là những gì không hình tướng. Không hình tướng cũng không có nghĩa là không có, mà cái không nầy là hình ảnh của cái có, đối nghịch lại với nhau vậy. Không và Có là hai trạng thái đối đãi nhị nguyên trong cuộc đời nầy. Khi nào thoát ra khỏi hai cảnh đối đãi nầy là hiểu đạo.

Khổ là gì ?

Khi Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên Ngài đã nói đến khổ trước. Khổ về sanh, về già, về bịnh, về chết, khổ vì thương nhau không được gần nhau, ghét nhau mà phải gặp nhau hoài, khổ vì cầu không được, khổ vì 5 ấm không điều hòa. Những trạng thái của sự khổ nầy có tính cách hình tướng. Còn cái khổ của tinh thần thuộc về nguyên nhân của sự khổ nầy. Tại sao có sanh, có già, có bịnh và có chết? Thiết nghĩ Đức Phật thấy cái khổ và nói cái khổ đầu tiên để chúng sanh biết khổ mà tu, biết bịnh mà uống thuốc. Người nào cảm thấy rằng mình cần thuốc thì phải biết mình thuộc loại bịnh nào. Đức Phật giống như người Thầy thuốc, biết chữa bịnh và cho thuốc, còn uống thuốc hay không là thuộc về bịnh nhân chứ không phải thuộc về phạm vi của Thầy thuốc.

Đức Phật cũng đã từng dạy: Nước mắt của chúng sanh đầy hơn nước trong 4 bể của Đại Dương. Nước bốn bể nhiều như thế mà sự khổ của chúng sanh còn nhiều hơn thế nữa. Nếu cuộc đời nầy là vui thì khi sinh ra ai cũng phải cười chứ không phải khóc; nhưng có ai ngoại lệ được chăng? Chúng sanh bớt khổ; nhưng hay ham vui nên dễ quên đi cảnh khổ. Ví dụ một người nào đó đi vào nhà thương, trại cùi, trại mù hay nhà tù để thăm viếng, liền lúc đó họ động mối từ tâm, muốn cứu người giúp đời; nhưng qua giây phút đó, trở về lại với cuộc sống bình thường, lại đắm say trong tiền tài, danh vọng, sắc đẹp, ăn uống, ngủ nghỉ v.v... Đức Phật, Ngài đã chứng thực sự khổ đau, nên đã nói ra hết những thống khổ của nhân sinh và từ đó chúng ta có thể tránh khỏi, nếu chúng ta muốn.

Không là gì ?

Không ở đây có nghĩa là bị biến đổi. Có nghĩa là không thật tướng như trong kinh Bá Nhã đã nói: Có tức là Không, Không tức là Có. Có chẳng khác Không, Không chẳng khác Có. Thọ, tưởng, hành, thức đều như vậy cả. Cái gì có trên cuộc đời nầy cũng sẽ biến thành không và từ không sẽ trở lại có. Ví dụ như thân thể của chúng ta đây nhờ sự kết hợp của tinh cha huyết mẹ mà thành. Khi sinh ra đời, nơi thân thể mình có đầy đủ 4 chất lớn là đất, nước, lửa và gió. Cộng thêm phần tâm thức nữa để thành tựu một thân thể con người. Khi chết thì hơi thở mất trước. Hơi thở rời thân thể của mình, trở lạ trạng thái uyên nguyên của đất trời vạn vật hòa vào không khí và sức nóng, di chuyển đến nơi nào cần để tụ họp trở lại. Không khí và sức nóng rời khỏi thân thể trước. Kế đó là nước. Khi chôn cất xong, chừng 2, 3 ngày là phần nước rời khỏi thân thể và cuối cùng là phần thịt xương, sẽ trả về cho đất, làm xanh cây cỏ, ruộng đồng. Điều nầy cho thấy có tức là không. Rồi không tức có. Nghĩa là từ chỗ biến đổi của nghiệp lực vô hình mà chúng ta đi đầu thai trong 6 đường sinh tử, lúc làm trời, lúc làm người, lúc làm trâu bò, heo gà, lúc làm tiên, lúc làm ngạ quỷ v.v... chẳng lúc nào ngừng nghỉ trong cảnh khổ. Mỗi lần thọ lãnh đầu thai là một sự có đã bắt đầu. Rồi sự nầy sẽ biến đổi theo thời gian năm tháng để trở thành không.

Nói như vậy có nghĩa là không có gì cả sao ?

- Có chứ! Cái có nầy vượt lên trên cái không và cái có vẫn hay đối đãi bình thường. Đó là chơn không. Chơn không nhưng mà diệu hữu. Vi diệu thay! đã không rồi; nhưng không ở đây không phải là không, mà là có. Cái có nầy là cái có chân thật. Cái có của người đắc đạo, vượt lên trên cái có không, còn mất của cuộc đời. Thử đọc 4 câu thơ nầy, ta sẽ hiểu được sự có không của cuộc đời:

"Nhạn quá trường không

Ảnh hàm trầm thủy

Nhạn vô lưu tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm"

Nghĩa là:

Khi nhạn bay qua không gian

Ảnh nhạn chìm xuống mặt nước

Nhạn không hề có ý lưu dấu vết lại

Nước cũng không bận tâm giữ ảnh của nhạn lại.

Bốn câu thơ nầy nói lên sự đạt đạo một cách nhiệm mầu. Không gian là một khoảng trống. Trong ấy nảy sinh biết bao nhiêu nguyên nhân và kết quả. Trong ấy vô tình có một chiếc nhạn ăn sương. Nhạn chưa hề nghĩ rằng bóng mình sẽ in lên mặt nước và nước kia hình như cũng vô tình không cố ý giữ hình bóng nhạn lại làm gì. Ở đây hai hình ảnh, hai đối cảnh rất nhịp nhàng, sống động. Cả hai đều không muốn; nhưng đã hiện hữu. Nó đến và đi một cách tự nhiên, không mong đợi, không khước từ. Ấy là như thị, như thị như trong kinh Kim Cang đã minh giải.

Vô Ngã nghĩa là thế nào ?

Đây chính là triết lý cao siêu của Đức Phật. Ví dụ như câu thơ sau đây:

"Có thời có tự mảy may

Không thời cả thế gian nầy cũng không

Cho hay bóng nguyệt dòng sông

Nào ai hay biết có không là gì"

Tất cả đều không có chủ thể, không có cái gì thuộc về ta vĩnh cửu cả. Ngay cả tài sản, của cải, gia đình, vợ con v.v... Vì bản chất của cuộc đời là không thật có và ngay cả chính ta cũng không phải là ta, thì có cái gì để gọi là hữu ngã? Tất cả đều trở về với trạng thái không của nó. Có một người đi đêm hay sợ ma và bóng tối, đồng thời một người khác cũng đi vào bóng tối nhưng không sợ bóng đêm. Vì họ nghĩ rằng không có ma vì bóng tối cũng chỉ là hai mặt của cuộc đời. Còn người kia vì chấp vào cái có của vô hình, nên có cảm nhận sự sợ hãi. Thật ra sự sợ hãi nầy cũng phát sinh từ sự chấp ngã, chấp có, chấp không, chấp thường, chấp đoạn mà thôi.

Một giáo lý như thế rất tự nhiên và rất hợp với khoa học. Một thánh kinh như thế dầy gần 250.000 trang sách bằng chữ Hán và chữ Nhật, không ai có thể tìm ra được một kẽ hở nào để bác bỏ lại lý luận của Đức Phật cách đây 2.500 năm về trước.

Giáo lý của Đức Phật có một sự bình đẳng giữa nam nữ và đẳng cấp, không phân biệt giàu nghèo sang hèn gì cả. Sau đây là một câu chuyện kể về Ngài A Nan, nhân việc kết tập kinh điển lần thứ nhất, sau khi Đức Phật nhập diệt 100 ngày tại động Thất Diệp gần Vương Xá Thành.

Ngài A Nan là con cùng cha khác mẹ với Đức Phật. Có lẽ là con của Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề, vì ít thấy sử liệu Phật Giáo nào đề cập đến. Hay vì địa vị của Đức Phật quá tôn quý; nên tất cả chỉ đổ dồn về Ngài, còn những người anh em một cha khác mẹ khác, hay anh em họ, đề cập một cách tương đối ít hơn. Ngày mà A Nan ra đời là ngày Đức Phật thành đạo. Cái tên A Nan Đà có nghĩa là Khánh Hỷ, tượng trưng cho sự vui mừng ấy. Nếu nói theo thuyết Nam Tông thì Đức Phật thành đạo lúc 35 tuổi; còn Bắc Tông thì Ngài thành đạo lúc 30 tuổi. Ở đây căn cứ theo Bắc Tông. Vì sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài giảng 12 bộ kinh và hơn 300 hội thuyết pháp đến 49 năm, được chia ra như sau:

21 ngày nói kinh Hoa Nghiêm

12 năm nói kinh A Hàm

8 năm nói kinh Phương Đẳng

22 năm nói kinh Bát Nhã

8 năm nói kinh Pháp Hoa và Đại Bát Niết Bàn

Cộng tất cả lại thành 49 đến 50 năm. Đây là lối chia theo Ngài Thiên Thai Trí Giả Đại Sư, Tổ Tịnh Độ Tông của Trung Quốc; nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều giả thuyết khác nhau. Có điều giữa Nam và Bắc Tông đều chấp nhận Đức Phật nhập Niết Bàn năm 80 tuổi. Như vậy niên đại Phật lịch 2.540 năm nay là năm Đức Phật Nhập Niết Bàn chứ không phải Đản Sanh. Đúng ra phải cộng thêm 80 tuổi thọ của Ngài nữa mới thành ngày Đản Sanh của Ngài; nhưng theo truyền phái Nam Tông chữ Vesak có nghĩa là trăng tròn và ngày ấy kỷ niệm chung cho 3 ngày trọng đại trong cuộc đời của Đức Phật là: Đản Sanh, Thành Đạo và Nhập Niết Bàn. Vì thị hiện Đản Sanh cũng là thị hiện Nhập Diệt, nên cả hai trạng thái ấy có thể hiểu là một của một ứng thân Phật vậy.

Như vậy Ngài A Nan kém Đức Phật 30 tuổi và khi Ngài A Nan xuất gia năm 20 tuổi thì Đức Phật đã 50 tuổi rồi. Trong suốt 20 năm nầy Đức Phật đã giảng rất nhiều bộ kinh quan trọng; nhưng Ngài A Nan được cái phước báu là những gì Đức Phật đã nói trong 20 năm trước, Phật đều nói lại cho Ngài A Nan nghe, khi A Nan làm thị giả của Ngài. Ngài A Nan có được một cái là nghe nhiều hiểu rộng và có thể hệ thống hóa nhiều vấn đề khác nhau thành một đề tài chuyên biệt. Mỗi lần như thế không dưới 700 trang sách. Vì chỉ thích nghe nhiều hiểu rộng và ít đi sâu vào thiền định, nên khi Đức Phật Nhập Diệt rồi Ngàn A Nan vẫn chưa chứng được quả A La Hán. Sau khi Phật Nhập Niết Bàn 100 ngày, 499 vị Thánh Tăng chứng quả A La Hán muốn trùng tuyên lại lời Phật dạy; nhưng thiếu Ngài A Nan thì sẽ không thành. Vì chỉ có Ngài A Nan mới có cơ hội để nghe tất cả những gì Đức Phật nói về kinh trong thời gian Đức Phật còn tại thế. Trong khi đó 499 vị A La Hán kia chưa chắc đã nghe hết trọn vẹn lời dạy của Đức Phật. Họ chỉ chứng một trong những pháp nào đó thôi. Suốt đêm trước khi vào hội nghị, Ngài A Nan đã tham thiền và đột nhiên đại ngộ chứng quả Vô Sanh và ngày hôm sau được vào Động Thất Diệp để trùng tuyên lại những lời Đức Phật dạy. Lúc bấy giờ Ngài Ca Diếp ngồi ghế chủ tọa cùng với các vị Trưởng Lão khác, trong đó có A Nhã Kiều Trần Như là người mà Đức Phật đã độ lần đầu tiên tại vườn Lộc Uyển. Ngài Mục Kiền Liên và Ngài Xá Lợi Phất không có mặt trong kỳ kết tập nầy. Vì các Ngài đã thị tịch trước khi Đức Phật nhập diệt. Ngài A Nan tuyên lại các bộ kinh, Ngài Ưu Ba Ly tuyên đọc lại những bộ luật của Phật chế. Ví dụ như giới thứ nhất Đức Phật đã nói ở đâu, nói cho ai nghe và vì duyên cớ gì phải nói giới đó và chia giới đó thuộc về lãnh vực nào v.v... Ngài Phú Lâu Na tuyên đọc lại những bộ luận. Đại Hội thông suốt; nhưng đối với Ngài A Nan, 499 vị A La Hán có 5 điều đặt ra và mong rằng được nghe Ngài A Nan trả lời. Đó là:

- Điều thứ nhất: Tại sao Ngài năn nỉ Phật để cho người nữ xuất gia? và chính vì người nữ được xuất gia nên thời kỳ chánh pháp thay vì ở đời 1.000 năm, chỉ còn có 500 năm ?

Đây là một câu hỏi mà bao nhiêu vị A La Hán đã thắc mắc; nhưng Ngài A Nan có lẽ có duyên để độ cho người nữ, nên Ngài cũng đã không quản ngại khó nhọc mà thưa thỉnh cho họ; nên Ngài trả lời rằng:

- Khi bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề cùng với 500 mệnh phụ phu nhân của thành Ca Tỳ La Vệ đến xin Phật xuất gia; nhưng Phật không bằng lòng. Họ đã thưa thỉnh đến 3 lần như thế, Phật vẫn làm thinh. Khi tôi thấy họ chân đi trần, máu chảy khắp bàn chân, xiêm y không còn đàng hoàn nữa, họ chỉ có một niệm duy nhất là xuất gia mà vẫn không được thọ ký. Vì vậy tôi cố thưa thỉnh Phật một lần nữa và bạch Phật rằng: Người nữ có khả năng thành Phật không? thì Đức Phật bảo rằng có. Do duyên cớ ấy, tôi xin cho họ được xuất gia.

Đối với người nữ phải cảm ơn Ngài A Nan mới phải. Nếu không có lời thưa thỉnh của Ngài A Nan thì chưa chắc gì người nữ ngày xưa và ngày nay được thọ giới. Ở đây phải thành thật mà công nhận rằng: Đức Phật đã quá thương người nữ nên đã hy sinh 500 năm chánh pháp của mình để cho họ được xuất gia thọ giới. Ngày nay có nhiều người hiểu lầm rằng tại sao Phật trọng nam khinh nữ, bắt người nữ phải giữ giới nhiều hơn nam; nhưng ở đây phải hiểu ngược lại thì đúng hơn. Thông thường chúng ta thương ai nhiều hơn hay chia phần lớn cho họ. Chúng ta thương ai nhiều hơn chúng ta thường hy sinh cho kẻ khác. Giới luật cũng giống như một cái bánh. Đức Phật giống như ông cha, vì thấy con gái của mình cần có nhiều nghị lực để phấn đấu, nhất là khả năng thành Phật, nên mới chia cho nhiều như thế. Còn đứa con trai kia, chính là những người sinh ra đã có sức mạnh, nên cho ít hơn cũng không sao. Chúng ta nên nghĩ rằng Đức Phật đã dùng con mắt trí tuệ mà hành xử để hai người con đều có quyền ngang nhau. Có thể ví Phật tánh của người con trai là 1 kg sắt. Còn Phật tánh của người con gái là 1 kg bông gòn. Trọng lượng của hai đều giống nhau; nhưng chỉ có hình thức là khác nhau thôi. Ngày nay trên thế giới đòi đủ loại quyền bình đẳng và quyền được bảo vệ; nhưng so ra dưới cái nhìn của Đức Phật, Ngài đã nâng cao giá trị của người nữ cách đây hơn 2.500 năm rồi, mà ngay cả ngày nay ở những xã hội Âu Mỹ nầy được gọi là tự do và người nữ có nhiều quyền hơn người nam; nhưng ngay tại xứ Đức nầy được gọi là văn minh bậc nhất trong thiên hạ vào thế kỷ thứ 20 nầy, thế mà có những chỗ lễ bái của Freiermauer, người đàn bà không được phép vào, đó là chưa nói những người đàn bà theo Hồi Giáo hay Ấn Độ Giáo. Như vậy, nữ quyền trong giáo lý của Đức Phật tương đối dễ chấp nhận hơn bất cứ là một tôn giáo nào có mặt trên thế gian nầy.

Ngài A Nan có lẽ đã có lý khi xin cho người nữ; nhưng với điều kiện người nữ phải giữ kỷ cương của họ như Đức Phật đã chế cho họ trong 8 điều cần phải có đối với chư Tăng thì Tăng Già mới tồn tại lâu dài. Bằng ngược lại, giá trị ấy, sẽ không còn đứng vững nữa. Từ thời Đức Phật còn tại thế Tỳ Kheo Ni giới rất thịnh hành; nhưng sau đó chừng 500 năm, truyền thống nầy không thấy còn xuất hiện bên Nam Tông nữa. Ngày nay chỉ còn giới Bạch Y Cư Sĩ thọ 8 giới mà thôi. Phía nữ đã ngã qua tinh thần của Đại Thừa giáo; nhưng cũng chỉ đặc biệt ở Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam thôi. Trong khi đó Tây Tạng, Bhutan và Sikkim là những xứ Phật Giáo Đại Thừa nhưng cũng không thấy có truyền thống của Ni giới.

- Điều thứ hai: Các vị A La Hán hỏi rằng: Tại sao khi Phật nhập diệt lại không ngăn chận những người nữ ở làng Mạt Lị vào thành Câu Thi Na, khi họ đến gần bên Phật, khóc lóc thảm thương và nước mắt của họ nhỏ vào nơi chân của Đức Phật, khiến sau khi thiêu thì Xá Lợi không có nơi bàn chân nầy nữa ?

Điều thứ hai nầy cũng thuộc về người nữ. Ngài A Nan trả lời rằng: Khi biết Phật nhập Niết Bàn, ông rất đau đớn, lo khóc thương chứ không để ý đến chung quanh, những người nữ nầy vào khi nào Ngài không biết, chứ không phải Ngài cho phép. Ở đây vấn đề được đặt ra là - tại sao nước mắt của người nữ có tác hại như thế? Có lẽ những nhà tâm lý, xã hội học rành hơn; nhưng lâu nay lịch sử cũng đã chứng minh biết bao nhiêu tao nhân mặc khách, anh hùng cái thế cũng vì nghe lời người nữ và bị nước mắt đàn bà mà làm cho thân tan, thịt nát như Thúy Kiều với Từ Hải, như Đắc Kỷ với Trụ Vương v.v...

Người đàn bà bản thể của họ không xấu; nhưng có lẽ vì nghiệp lực nặng nề của nhiều kiếp huân tập lại nên mới có sự khác biệt với đàn ông như thế chăng? Đọc đến đây có nhiều người nữ cho rằng tôi thiên vị nam nhơn; nhưng công tâm mà xét thì phải đứng trên hành vi nghiệp lực của mỗi con người mới có thể minh định được và không thể nhìn chung một tập thể để luận bàn.

- Điều thứ ba: Các vị A La Hán đã hỏi Ngàn A Nan rằng: Tại sao khi giặt y của Đức Phật lại lấy chân đạp lên đó, tỏ ý khinh thường pháp y? Ngài A Nan trả lời rằng: Không phải tôi có ý đó, mà tại gió đã cuốn vào chân tôi. Đó chẳng phải là một sự biên minh; nhưng là một sự thật. Khi Ngài A Nan chấp nhận làm thị giả của Đức Phật, Ngài có đưa ra nhiều điều kiện như: không ăn cơm và đồ ăn còn lại của Phật, không mặc áo của Phật và nếu ai đến gặp Phật phải được sự đồng ý của Ngài trước v.v... như thế đủ thấy là Ngài A Nan đã phòng xa như vậy; nhưng vẫn còn bị sự nghi kỵ như thường. Đi đến nơi đâu tại Ấn Độ, nhất là tại núi Linh Thứu, thì hình ảnh nầy rõ ràng nhất. Đức Phật ở trên đỉnh núi, Ngài A Nan ở dưới chân núi, còn Ngài Xá Lợi Phất là bậc giáo thọ nên lúc nào cũng ở gần Tăng chúng và ít gần Phật như Ngài A Nan. Bất cứ ai, muốn gặp Phật, phải gặp Ngài A Nan trước. Như vậy, chứng tỏ rằng Ngài phải là người không được thiên vị ai cả, dầu cho đó là bậc vua quan hay thứ dân, hạ tiện.

- Điều thứ tư: Các vị A La Hán hỏi Ngài rằng: Tại sao không thỉnh Phật ở lại đời lâu hơn nữa, mà chờ cho Phật nhập tứ thiền xong mới thưa thỉnh? Ngài trả lời rằng: Vì mãi buồn lo nên quên thưa thỉnh. Lúc chợt nhớ ra việc thưa thỉnh qua sự nhắc nhở của chư thiên thì đã trễ rồi. Lỗi nầy tại Ngài quá bi thương cảm động.

Một Đức Thế Tôn ra đời có thể trụ thế dài lâu; nếu có sự thưa thỉnh. Vì Phật đã chứng vô sanh thì đến cũng như đi, còn cũng như mất, tịch diệt cũng như thị hiện. Chỉ có chúng sanh là có mất còn. Riêng chư vị Bồ Tát thì không đến, không đi, không còn, không mất.

- Điều thứ năm: Các vị A La Hán hỏi Ngài A Nan rằng: Tại sao phải để Phật yêu cầu đến lần thứ 3 mới múc nước cho Phật uống, trong khi Đức Phật đã quá khát nước trên đường đi từ Tỳ Xá Ly đến Câu Thi Na? Ngài A Nan trả lời rằng: Vì trước đó có 500 cỗ xe bò lội qua, nước đục quá, tôi không nỡ đang tâm múc nước cho Phật. Đến lần thứ 3 nhờ Phật dùng thần lực làm cho nước trong, tôi mới múc cho Phật dùng. Đây là câu trả lời thành thật nhất. Nhưng có lẽ các vị A La Hán lúc đó không có mặt nên đã nghi kỵ về lòng tốt của Ngài A Nan chăng? Dẫu sao, đứng về tình máu mủ thì Đức Phật cũng là anh ruột mình. Anh cùng cha khác mẹ mà cũng là anh em bạn dì nữa, nên Ngài không bao giờ có ý hại Phật. Vả lại khi xuất gia được chọn làm đệ tử hầu cận Đức Phật, một người luôn luôn gần gũi và được mọi người biết đến. Đó là vinh dự của Ngài A Nan, nên không vì bất cứ một lý do nào mà có ý hại Phật cả.

Sau khi Ngài A Nan trả lời 5 điều nghi vấn ấy cả 499 vị A La Hán đều bằng lòng và Ngài tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên đọc lại các lời dạy của Đức Phật qua từng thời điểm khác nhau trong tinh thần kinh điển của Tiểu và Đại Thừa giáo. So ra, Ngài A Nan làm đệ tử của Đức Phật suốt 30 năm trường mà chỉ có 5 lỗi đáng trách thì quả là một người đệ tử phi thường của một bậc thánh xuất thế gian. Điều ấy không phải dễ đối với một người bình thường có thể làm được.

Duy Thức Học Phật Giáo là một môn triết học cao siêu, một môn tâm lý học sâu sắc, khó có loại triết học nào của Âu Châu sánh kịp. Lập luận của triết học Âu Châu có tính cách nhị nguyên, có nghĩa là: a sinh ra b, thì b sinh ra c. Nếu a không có thì c sẽ không có. Có nghĩa là Chúa sẽ sinh ra muôn loài vạn vật, Chúa sẽ sắp đặt mọi chuyện của con người. Nếu không có Chúa, cái gì trên thế gian nầy cũng không có. Hoặc theo thuyết Tam Đoạn Luận như Socrate đã chủ trương: a bằng b; b bằng c. Do đó suy ra a bằng c. Đây là hình thức cân bằng phương trình và công thức lấy cái tuyệt đối trong cái tương đối. Nhưng ở Đạo Phật thì có thuyết bất nhị (không hai). Nghĩa là ngoài a không có b và ngược lại ngoài b không có a. Cái nầy tồn tại vì cái kia tồn tại, cái nầy mất đi vì cái kia mất đi. Không ai sinh ra ai mà cũng không ai chi phối ai được. Vì nhân duyên mà có rồi vì nhân duyên mà thay đổi. Triết thuyết nầy của Đạo Phật tương đối đứng vững qua thời gian và không gian, dẫu cho ngày nay khoa học có phát triển đến mức độ nào đi chăng nữa, cũng có thể chấp nhận một cách dễ dàng. Triết học Âu Châu chỉ nói đến thức thứ 6, trong khi đó triết học Phật Giáo nói đến sự hiện hữu của thức thứ 7 và thức thứ 8. Đó là Mạt Na Thức và A Lợi Da Thức. Còn gọi là thức chấp ngã và thức làm chủ. Theo Duy Thức Học thì tâm vương (thức thứ 8) là chủ của mọi sự tạo tác trong cuộc đời nầy. Ví dụ trồng hạt mít để sinh ra cây mít. Đó chỉ là việc nhân sinh ra quả; nhưng điều đó không quan trọng là tác ý để trồng hạt mít do tâm vương sai sử quan trọng hơn là hạt mít. Không hạt mít thì có thể là một loại hạt khác cũng không sao.

Tất cả những hành vi tạo tác từ trong quá khứ nó chứa chấp nơi thức thứ 8 nầy để rồi một ngày nào đó nó phải đi đầu thai, chính thức thứ 8 nầy nó sẽ chi phối tất cả sinh vật tiếp theo đó qua sự sắp xếp của thức thứ 7. Vì thức thứ 7 giữ nhiệm vụ chấp nhận hay chối từ. Nhiệm vụ của thức thứ 7 cũng rất quan trọng trong hệ thống Duy Thức Học Phật Giáo. Ở đây chỉ giới thiệu sơ qua về hệ thống triết học và tâm lý học của Phật Giáo mà thôi. Nếu có cơ hội, nên tìm đọc thêm các sách về Duy Thức Học để hiểu biết thật tường tận.

Đức Phật Ngài giảng vô số bài thuyết pháp; nhưng không có bài nào trùng với bài nào. Mỗi một bài chứa đựng một nội dung khác nhau, một mục đích khác nhau; nhưng cuối cùng rồi cũng chỉ để giáo hóa chúng sanh và mong cho chúng sanh chóng rời bờ mê để trở về biển giác ngộ.

Đi cao và sâu hơn nữa vào cảnh giới tam thiên đại thiên thế giới của kinh Pháp Hoa hay trùng trùng duyên khởi, trùng trùng biến hiện của Hoa Nghiêm kinh, chúng ta thấy giáo lý của Đức Phật là một hệ thống siêu triết học, siêu tôn giáo, siêu hình học. Vậy thế nào là tam thiên đại thiên thế giới?

Tam thiên đại thiên thế giới ý chỉ cho số nhiều. Nghĩa là ngoài thế giới Ta Bà nầy, nơi chúng ta và các chúng sanh khác đang ở, còn có rất nhiều thế giới khác; nhưng ở đây chúng ta cũng có thể làm một bài tính nhân được. Cứ 1.000 thế giới hợp lại thành một Tiểu thiên thế giới. 1.000 tiểu thiên thế giới hợp thành một trung thiên thế giới. 1.000 trung thiên thế giới hợp thành một đại thiên thế giới. Trong cõi vô cùng nầy có đến 3.000 đại thiên thế giới như thế. Mỗi thế giới đều có 3 cõi. Đó là: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Mỗi thế giới như thế có nhiều mặt trời, mặt trăng và quả đất v.v... Chúng ta ở trong cõi nầy gồm 5 châu. Đó chỉ là một hạt bụi trong các thế giới khác. Phật sau khi chứng đạo, Ngài đã thấy rõ thiên hình vạn trạng và sự cấu tạo bởi thế gian là một thế giới hoa tạng, trùng trùng duyên khởi và trùng trùng biến hiện. Nghĩa là nơi đây có một thế giới sanh, thì nơi kia có một thế giới diệt và cứ thế luân chuyển hoài trong cõi vô cùng ấy. Nơi đây có cảnh khổ của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì nơi kia có cảnh giới cực lạc và giải thoát. Có thế giới chúng sanh có hình tướng, mà cũng có thế giới chúng sanh chỉ có tâm thức mà thôi. Có thế giới có cả nam nữ, trâu, bò, heo, gà; nhưng có thế giới không có thân hình người nam, lẫn thân người nữ; có thế giới chỉ toàn là những vị Bồ Tát và Bích Chi Phật; nhưng đồng thời cũng có những thế giới chỉ toàn là trâu bò và thực vật.

Đây là sự cấu tạo của vạn hữu. Thế giới có từ khi các động vật gọi là người, thiên thần, chúa tể có, và thế giới nầy sẽ hoại diệt đi khi nhân duyên đã mãn như 4 chất lớn trong người đã bị tan rã sau khi hơi thở đã lìa xác thân. Đây cũng là sự biến đổi vô thường mà Đức Phật đã minh định trong giáo lý của Ngài. Ngoài ra mỗi một thế giới như thế có một vị Phật Giáo hóa. Ví dụ như cõi Ta Bà nầy có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Cõi phía Đông có Ngài Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Cõi phía Tây có Đức Phật A Di Đà. Phật vì chúng sanh mà hằng thuận, mà hóa độ để họ trở về với tánh chơn thường của mình. Phật hoặc các vị Bồ Tát vì chúng sanh mà các Ngài hiện hữu. Vì chúng sanh mà các Ngài lại thị tịch Niết Bàn. Các Ngài thay cho chúng sanh để chịu những khổ nạn. Các Ngài cũng vì chúng sanh mà đi đầu thai trong 6 nẻo luân hồi.

Nếu một người bình thường rất khó chấp nhận lý thuyết nầy. Ngay cả khi chưa phát hiện được Châu Úc thì người ta nghĩ rằng thế giới nầy chỉ có 4 lục địa thôi; nhưng bắt đầu nay mai người ta sẽ phát minh thêm một lục địa nữa, khi có động đất và núi sẽ lấp biển thành đất bằng. Ai biết được? Chỉ có nhân duyên là đầy đủ khả năng để trả lời về việc nầy.

Còn triết học và tánh không Phật cũng đã nói trong Trung Quán Luận. Phật cũng phá chấp cho chúng sanh trong tinh thần kinh Kim Cang với ông Tu Bồ Đề. Phật cũng đã nói về Vô Ngã trong kinh Duy Ma Cật. Tất cả những lời dạy nầy cho đến ngày nay vẫn còn có giá trị. Chúng ta thử tìm hiểu tinh thần phá chấp trong kinh Kim Cang như sau. Có lúc Đức Phật nói:

"Kẻ nào dùng hình tướng để thấy ta

Kẻ nào dùng âm thanh để cầu ta

Kẻ đó làm việc tà

Không bao giờ thấy được Như Lai" 

Ở đây đã bước lên một giai đoạn cao của tâm thức. Thông thường chúng ta nương vào hình tướng để làm một việc gì đó; nhưng nếu không hiểu đạo thì sẽ bị cái tướng giả đó nó chi phối. Vì thế Phật đã vì cái chơn thường mà dắt chúng sanh đi cao hơn một bực nữa. Nếu tu đến bậc thượng căn, thượng trí thì không cần đến chùa, đến Phật tượng nữa. Vì tất cả những thứ nầy bị chi phối bởi luật vô thường. Một ngôi chùa dầu tốt đến đâu cũng chỉ tồn tại vài trăm năm là cùng. Tượng Phật dầu bằng đồng, bằng vàng, bằng kim cương, thạch bích v.v... nhiều lắm là vài trăm năm cũng băng hoại thay đổi. Nếu dùng lời nói để cầu Phật, dùng kinh điển để giải bày. Đây vẫn còn là phép đối đãi của thế gian. Thuộc về việc chấp chước. Tất cả đều sai so với phép xuất thế gian. Nếu không hiểu được lý lẽ nầy thì sẽ không bao giờ thấy được Phật tánh của mình. Như Lai tiếng Phạn gọi là Tatagatha. Là một bậc Đại Giác, một bậc Bạt Già Phạn, một bậc giác ngộ. Vị Phật nầy tất cả trong chúng ta đều có nhưng phải thấy các tướng ấy chính là các tướng giả, không phải tướng thật, thì mới thấy được chơn tướng của Như Lai.

Chúng ta nên tìm hiểu thêm một đoạn khác cũng ở trong kinh Kim Cang như sau:

"Tất cả các pháp hữu vi

Như mộng giả hợp, như bọt nước

Như sương mai, điện chớp

Nếu quán sát được như vậy

Sẽ thấy được chơn tướng của Như Lai"

Đoạn nầy thì phá chấp một cách rất rõ ràng, chúng ta dễ hiểu; nhưng việc thực hành không phải là chuyện đơn giản. Pháp hữu vi là những pháp có hình tướng, có sanh có diệt, có đến có đi. Tất cả các pháp nầy đều bị chi phối bởi luật vô thường về thành, trụ, hoại, diệt. Vì tất cả những pháp nầy như một giấc mộng, có đó rồi mất đó, như bong bóng nước, nhìn hình dáng là có; nhưng bản chất của nó là không, chỉ từ nước biến hóa nên thôi. Như giọt sương mai trên đầu ngọn cỏ. Mới trông thấy đẹp lắm; nhưng mặt trời lên cao thì sương mai tan biến đi, không còn dấu vết gì ở lại với cây cỏ nữa. Điện là một tập hợp của nhiều công suất. Điện sẽ phát sinh khi hội đủ điều kiện, sáng lên rồi tắt đi, không có gì tồn tại lâu dài cả. Nếu tất cả chúng sanh trong cõi Ta Bà nầy đều biết quán sát như thế thì sẽ bớt khổ, thêm vui. Phật đã chỉ tất cả những căn bệnh cho chúng sanh; nhưng vì mải ham vui trong cuộc sống ngũ dục nầy; nên lại quên đi chân tâm, mà chân tâm nầy là Phật tánh. Vì vậy tánh Phật bị lu mờ. Mỗi một vị Phật hay một vị Bồ Tát ra đời nhằm đánh thức chúng sanh trở về lại với con người của chính mình bằng sự chánh niệm tự có.

Chánh niệm có nghĩa là tập trung tư tưởng. Tập trung tư tưởng có nghĩa là thiền định là tụng kinh, là trì chú, là lễ bái, là niệm Phật v.v... tất cả các pháp môn nầy đều giúp ta làm chủ bởi chính mình. Khi ăn chúng ta biết mình đang ăn, khi đi dạo chúng ta biết mình đang đi dạo, khi tụng kinh, tất cả tâm tư đều lóng đọng theo lời kinh tiếng kệ. Khi làm bất cứ một vấn đề gì, phải có đầy đủ ý thức nơi đó. Thực ra khi thực tập chánh niệm chỉ để ý thức về hơi thở, về việc làm và tạo sự an lạc cho thân tâm trong giây lát nào đó, chứ chưa tạo được sự giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử phải dụng công nhiều năm tháng trong mọi cách hành trì thì mới mong màn vô minh được phá tan đi và ánh sáng trí tuệ lại đến.

Người học đạo và tu đạo sẽ gặp nhiều thử thách, vì thế Đức Phật đã giảng rất nhiều phương pháp để chữa trị như trong luận Bảo Vương Tam Muội, trong kinh Bát Đại Nhân Giác, kinh Pháp Cú v.v... Điều quan trọng ở đây là phải tự chiến thắng mình. Vì cuộc chiến đấu nầy gay go hơn mọi cuộc chiến đấu khác đến trăm ngàn lần. Chiến đấu với kẻ khác rất dễ; nhưng chiến đấu với nội tâm mình quả là một kỳ công có một không hai của mỗi người. Tại sao vậy? Cái khó ở đây là mình phải tự làm chủ lấy mình. Vì hiểu mình rất khó, nhưng hiểu đối tượng và tha nhân thì tương đối dễ. Cuộc chiến đấu của nội tâm không cần binh hùng, tướng dũng, không cần súng đạn, ngựa xe; chỉ bằng một mãnh lực tinh thần và ý chí. Vì vậy Đức Phật đã dạy: "Chiến thắng muôn quân không bằng tự thắng mình, tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất".

Trên đây là phần giáo lý căn bản trong khi Đức Phật còn tại thế đã dạy. Sau khi Ngài viên tịch rồi, các vị Tổ Sư, các vị Đại Luận Sư muốn cho Phật Giáo được phát triển, phải tùy căn cơ của chúng sanh mỗi nơi, mỗi thời mà diễn dịch, giải thích những lời dạy của Đức Phật một cách tương tế kỹ lưỡng hơn.

Tăng Già là một đoàn thể hòa hợp. Từ 4 vị Tỳ Kheo Tăng trở lên mới gọi là Tăng Già được. Đây có thể gọi là một Giáo hội nhỏ. Nếu một trong 4 vị không đồng ý ở bất cứ một lý do nào, xem như việc ấy không thành. Từ thuở Phật còn tại thế giáo hội của Ngài cũng chia ra làm hai. Một của Đề Bà Đạt Đa và một do Ngài lãnh đạo. Giáo Đoàn của Ngài rất đông đúc. Cho nên cũng có rất nhiều vấn đề. Vì vậy phải cần Ngài Xá Lợi Phất và 9 vị Đại Đệ Tử khác trông coi. Trong khi đó Đề Bà Đạt Đa vì muốn chưởng quản Giáo hội, nên đã tìm cách hại Phật. Giáo hội của Đề Bà Đạt Đa vẫn hợp pháp vì có những người cùng một mục đích quy tụ tại đó; nhưng Giáo hội nầy không tồn tại lâu dài, lúc ẩn lúc hiện, lúc còn, lúc mất trong suốt cả mấy ngàn năm lịch sử. Giáo hội nầy có thể ví như ma vương hại Phật. Lúc nào cũng phải cần chiến đấu để chân lý được vẹn toàn.

Thời Đức Phật còn tại thế có rất nhiều bậc vương tôn công tử xuất gia. Vì vậy sự cúng dường cũng có tính cách hậu hỉ. Nhìn đời sống đầy đủ sung túc như thế; nên có nhiều tu sĩ ngoại đạo đã xin Phật cho xuất gia. Phật đồng ý nhưng đã chế ra 4 phép nương tựa sau đây. Nếu ai chấp nhận được thì sống cuộc đời Tăng sĩ; nếu không thì có quyền rút lui khỏi giáo đoàn.

- Phép thứ nhất: Là người xuất gia, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Điều nầy có nghĩa là mỗi ngày người tu phải đi khất thực. Chính Phật ngày xưa cũng vậy. Chỉ trừ những ngày được mời đến cung vua hay nhà thí chủ để được cúng dường. Ngoài ra trong 9 tháng không an cư kiết hạ đều phải đi khất thực. Đi khất thực sẽ giúp cho người tu dẹp bớt tự ngã của mình, phải cố gắng hòa mình vào trong tập thể để sống. Đi tu nghĩa là bên trên cầu sự giác ngộ và bên dưới phải cứu giúp muôn loài. Đó là nhiệm vụ của người tu. Đi xin để nuôi cái thân thể bằng da bằng thịt ấy và người tu phải có bổn phận làm cho pháp thân huệ mạng được phát sanh. Phật cũng đã dạy trong luật rằng: Chư Thiên ăn buổi sáng, Phật dùng ngọ, súc sanh ăn buổi chiều và ngạ quỷ ăn buổi tối. Mỗi buổi ăn như vậy có một loài chúng sanh khác nhau hợp ý. Ngạ quỷ vì sợ ánh sáng,nên chỉ ăn lúc ban đêm. Vậy là người, mà nhất là một người tu thì không được phép dùng cơm sau khi mặt trời đã lặn, hay nói đúng hơn là quá ngọ. Ngày nay các xứ theo Phật Giáo Nam Tông thì vẫn còn hành trì; nhưng Phật Giáo Bắc Tông đã thay đổi khá nhiều so với tinh thần nguyên thủy của nó. Nghĩa là chư Tăng dùng ngày 3 bữa bằng chay tịnh, chứ không dùng đến tam tịnh nhục như Đức Phật đã cho phép, khi đi khất thực.

- Điều thứ hai: Đối với một vị Tăng sĩ là sau khi ăn phải ngủ dưới gốc cây. Tại sao Đức Phật lại chế ra điều nầy? Vì sợ Tăng chúng lo thụ hưởng vấn đề vật chất, quên đi đời sống tâm linh, nên mới chế ra như thế. Đức Phật đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan để ra đi tìm đạo thì đâu còn vương vấn gì đến lầu son gác tía. Nên đối với Ngài rất dễ thực hiện. Còn những chúng sanh khác không phải chuyện giản đơn. Nên Ngài đã tìm cách ngăn chặn tâm hưởng thụ của những người tu theo Đạo Phật. Vả lại xứ Ấn Độ là một xứ nóng, nên chư Tăng ít cần nhà hay Tịnh Xá, hoặc Chùa như các xứ Âu Mỹ ngày nay. Ở ngoài gốc cây vẫn mát hơn là ở trong nhà. Tuy nhiên những ngày mưa, có dạo nơi Trúc Lâm Tịnh Xá chư Tăng đã bị bịnh rất nhiều, do đó các vị trưởng lão ở trong làng mới cho cất những ngôi nhà lên cho chư Tăng có nơi trú ngụ, thay vì ở dưới gốc cây, hay trong hang động, gọi là những A Luyện Nhã thuở bấy giờ.

- Điều thứ ba: Đối với chư Tăng là khi bịnh phải dùng một loại thuốc có tên là thuốc Trần Bà. Đây là một loại lá cây, xay ra để lấy nước uống hoặc thoa để đỡ bịnh. Có nơi giải thích đó chính là phân bò. Vì ngày xưa y học chưa phát triển, và tại Ấn Độ bị ảnh hưởng bởi Ấn Độ Giáo nên phân bò đôi khi cũng được dùng đến để chữa bịnh.

Căn cứ vào những phép nương tựa nầy mà ngày nay khi có lễ Trai Tăng, các Phật tử tại gia thường hay gọi là dâng tứ vật dụng lên chư Tăng. Nghĩa là những thứ chư Tăng dùng hằng ngày. Đó là thức ăn, y áo để mặc, thuốc than cho việc đau ốm và chỗ ở. Ngày nay có dâng thêm tiền bạc để đi xe, đi đò. So ra ngày xưa với bây giờ việc cúng dường lên chư Tăng của Phật Tử không có gì thay đổi mấy.

- Điều thứ tư: Đối với Tăng sĩ về tài sản chỉ có 3 y và một bình bát. Ba y nầy dùng để làm việc, dùng cơm, tụng kinh và đăng tòa thuyết pháp. Y có nghĩa là áo. Bát có nghĩa là bình hoặc tô dùng để ăn cơm. Đây là tài sản riêng về vật chất. Còn tài sản tinh thần của chư Tăng. Đó là trí tuệ. Chỉ có trí tuệ mới là sự nghiệp của chư Tăng mà thôi. Người nữ thì có 5 loại áo, 3 loại như bên trên, loại thứ 4 dùng để tắm che kín ngực và loại thứ 5 dùng khi trong người không sạch sẽ. Những y áo và bình bát nầy nếu chết đi phải để lại cho thập phương Tăng, nếu Hội Đồng kiểm soát thấy rằng người chết kia không bị bịnh hoạn gì.

Những y áo nầy ngày xưa phải vào bãi tha ma, lượm giẻ rách của các tử thi đem về may vá lại thành y trăm miếng mà mặc. Ngày nay thì ngược lại, giẻ rách không có, nên phải xé vải lành ra để may thành y.

Trên đây là 4 phép nương tựa căn bản của một người xuất gia. Nếu ai chấp nhận thì được thâu nạp vào hàng Tăng lữ. Nếu ai không thừa nhận cũng không sao. Vì giáo lý của Đức Phật không ép buộc bất cứ một người nào, mà ai cảm thấy có thể kham nhẫn được thì dự vào. Điều ấy cho ta thấy rằng cuộc sống của những vị tu hành không phải là một cuộc sống hưởng thụ, mà lại cũng không có nghĩa là buông tha, cẩu thả phóng túng theo thế trần.

Cho đến ngày nay Tăng Đoàn vẫn còn có mặt trên khắp năm châu bốn bể và chính họ đã nhờ vào phép sống lục hòa và giữ đúng tinh thần giới luật cũng như phép Yết Ma mà họ tồn tại cho đến ngày nay.

Giáo lý của Đức Phật thì vô cùng tận, học suốt cuộc đời cũng không hết, hành suốt qua không gian và thời gian cũng không cùng; với sự hiểu biết hạn hẹp của mình, nên xin gởi đến quý vị một cái nhìn tổng quát về Phật, Pháp, Tăng để từ đó chúng ta đi xa hơn nữa về sự trưởng thành giáo lý ấy đối với nhân sinh như thế nào qua các thời đại và qua các nước Á, Âu cũng như Mỹ để chúng ta có được một hướng đi đích thực cho tương lai. Đó là mang Đạo vào Đời.

---o0o---


Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/04/201322:25(Xem: 7671)
Lịch sử luôn trao tận tay từng số phận thuận nghịch của duyên trần (biệt nghiệp) để từ đó hòa mình vào vận mạng chung của cộng nghiệp.
16/07/201615:21(Xem: 4962)
Nếu trang phục truyền thống của một dân tộc hay quốc gia biểu đạt bản sắc văn hóa về y phục của dân tộc hay quốc gia đó, thì pháp phục Phật giáo thể hiện bản sắc đặc thù, khác hẳn với và vượt lên trên các quốc phục và thường phục của người đời, dù ở phạm vi dân tộc hay quốc gia. Lễ phục tôn giáo nói chung và pháp phục Phật giáo nói riêng thể hiện tình trạng tôn giáo và xã hội (social and religious status), được sử dụng trong hai hình thức, mặc trong sinh hoạt thường nhật và mặc trong các nghi lễ tôn giáo, nói chung các dịp đặc biệt.
04/02/201408:27(Xem: 9770)
Nằm trong khuôn khổ của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) 2014 tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 1 vừa qua, chương trình trò chuyện với các nhân vật nổi tiếng không hoạt động trong lĩnh vực tài chính, có quan điểm về một cuộc sống hạnh phúc mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiền bạc và quyền lực cũng đã diễn ra.
20/02/201206:43(Xem: 3734)
Nếu bạn dự định đăng tải gì đó, bạn phải luôn tự hỏi: Nó có đúng không? Nó có cần thiết không? Nó có phù hợp không?
18/08/201407:36(Xem: 27794)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay. Thật vậy tư tưởng của Ngài có thể biểu trưng cho toàn thể lòng từ bi và trí tuệ Phật Giáo trên một hành tinh mà con người dường như đã mất hết định hướng. Các sự xung đột không hề chấm dứt, con người bóc lột con người, giết hại muôn thú và tàn phá thiên nhiên. Phật giáo thường được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt-lai Lạt-ma trong quyển sách này vượt lên trên khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo: - "Mỗi khi phải đề cập đến các vấn đề tâm linh thì không nhất thiết là tôi buộc phải nói đến các vấn đề liên quan đến tôn giáo (câu 87).
12/03/201407:34(Xem: 12722)
Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phân xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách…Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên.
09/04/201314:24(Xem: 4318)
Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phần xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách, …Đức Lạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội tham của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên.
09/03/201411:24(Xem: 14100)
Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia sa di từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm hai mươi tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm; hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp. Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng
17/10/201307:24(Xem: 21602)
50 năm qua, cuộc tranh đấu của Phật giáo năm 1963 chống chính quyền Đệ nhất Cọng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã đàn áp Phật giáo. Sự việc đã lui về quá khứ nhưng vết thương trong lòng dân tộc, trong tim của Phật tử Việt Nam thì vẫn còn đó và có lẽ mãi còn trong lịch sử đau thương mà cũng lắm hào hùng.
01/06/202010:25(Xem: 4215)
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà (loạt bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng trong mùa dịch cúm Covid-19)