Sa Di Oai Nghi Giản Lược (pdf)

22/05/201819:04(Xem: 13738)
Sa Di Oai Nghi Giản Lược (pdf)
Sa Di oai nghi gian luoc_thich phuoc thai

                                              

  Thành Kính Đảnh Lễ:

 

*Thập phương chư Phật chứng minh.

* Nhị vị Tổ sư Liên Trì và Hoằng Tán chứng giám.

* Cố Đại lão Hòa thượng Thượng Hành Hạ Trụ.

* Cố Đại lão Hòa thượng Thượng Phước Hạ Huệ.

Ngưỡng bái vọng quý Ngài chứng minh và gia hộ

                  

  Thành kính Tri Ân:

 

* Thâm ân các đấng sanh thành giáo dưỡng.

* Thâm ân chư vị tôn túc Tăng Ni, các bậc Thầy và Thiện hữu tri thức

* Đại Đức Thích Phước Viên và Đại Đức Thích Phước Quảng đã tận tình giúp cho phần kỹ thuật trình bày và in ấn.

* Sư Cô Thích Phước An và phật tử Lệ Phượng đã chỉnh sửa bản in.

* Quý liên hữu trong hai đạo tràng: Phước Huệ và Quang Minh cùng quý ân nhân phật tử xa gần đã phát tâm hỷ cúng tịnh tài ấn tống.

 Xin tất cả nhận nơi đây lòng tri ân sâu xa và chân thành của soạn giả.

 Nguyện đem công đức nầy hồi hướng cho quý ân nhân cùng pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

 

 

  Lời Đầu Sách

 

Giới luật là nền tảng căn bản của đạo giải thoát. Người tu theo đạo Phật, dù tu theo bất cứ pháp môn nào, tất cả đều phải lấy giới luật làm đầu. Người tu hành không giữ giới, khác nào như ngựa không có dây cương. Ngựa không dây cương, đó là con ngựa hoang. Cũng thế, người tu hành, nếu không nghiêm trì giới luật, thì dễ buông lung tâm ý, sống bê tha dễ bị sa đọa. Bởi thế, việc học hỏi giới luật là điều tối cần thiết hệ trọng. Đối với các vị Sa di, nhất là những vị còn trẻ tuổi, nếu không học hỏi về những cách thức: "Khai, Giá, Trì, Phạm" thì không biết đâu để mà vâng giữ hành trì cho đúng pháp. Mười giới luật của Sa di là căn bản của giới Tỳ kheo và Bồ Tát. Muốn xây dựng một ngôi nhà có nhiều từng lầu, thì việc đầu tiên là phải xây nền móng cho thật kiên cố vững chắc. Có thế, thì ngôi nhà đó mới đứng vững được. Cũng thế, người xuất gia muốn tiến lên thọ Đại giới hay Cụ túc giới (Giới Tỳ kheo) thì phải lấy mười giới Sa di nầy làm căn bản. Thiếu mười giới nầy giống như xây nhà lầu, thiếu nền móng vững chắc vậy.

 

Giới luật là nền tảng của Định, Huệ. Người tu muốn được định huệ khai phát, thì phải hành trì giới luật nghiêm minh. Một đoàn thể Tăng già muốn phát triển lớn mạnh, tất nhiên, cũng phải lấy giới luật làm nền tảng xây dựng. Bởi thế trong Tạng Luật có câu: "Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ. Tỳ ni tạng diệt, Phật pháp diệc diệt". Câu nầy có nghĩa là: Tạng giới luật còn, thì Phật pháp còn. Tạng giới luật mất, thì Phật pháp cũng mất. Vì giới luật là mạng sống của Phật pháp. Thế nên bước đầu vào đạo, người xuất gia cần phải nỗ lực gia công học hỏi luật nghi cho rành rẽ trong vai trò bổn phận của một người đầu tròn áo vuông đã phát nguyện thế phát theo Thầy. Nhơn Giới mới sanh Định và nhơn Định mới phát Huệ. Đó là con đường Tam vô lậu học mà bất cứ người tu học Phật nào cũng phải đi qua.

 

Ngoài phần giới luật ra, người xuất gia còn phải học hỏi phần oai nghi. Sách có câu: "Có oai khá sợ, có nghi khá kính". Oai nghi tuy là hình thức bề ngoài, nhưng nó cũng rất quan trọng trong việc hành đạo. Tổ Quy Sơn có dạy: "Đường đường tăng tướng, diện mạo khả quan". Đó là nói lên cái tác phong phẩm hạnh đạo đức cao đẹp của người xuất gia cần phải có. Bốn oai nghi: đi, đứng, nằm ngồi, mỗi mỗi đều phải gìn giữ cẩn thận, không được thô tháo vụt chạt, mà mất đi tư cách phong thái của một ông thầy.

 

Nhằm giúp phần nào cho các vị thọ giới Sa di tập sự ngắn hạn hay thực thụ trọn đời, chúng tôi cố gắng biên soạn tập tài liệu nhỏ nầy. Khi biên soạn, phần nhiều chúng tôi dựa vào quyển Sa Di Luật Giải của Tổ Châu Hoằng do cố Hòa thượng thượng Hành hạ Trụ phiên dịch. Chúng tôi chia quyển sách nầy ra làm hai phần: Phần một, nói về Mười Giới Sa di và phần hai là phần Oai Nghi. Phần Oai Nghi nầy, về phần chánh văn (âm Hán Việt ) và dịch nghĩa văn xuôi, thì chúng tôi hoàn toàn y cứ vào quyển Sa Di Luật Giải nói trên. Tuy nhiên, chúng tôi có thêm vào phần văn vần làm theo thể thơ song thất lục bát khi đọc lên nó có vần điệu để cho người học dễ nhớ.  Ngoài ra, chúng tôi có thêm phần: Giải thích từ ngữ, Đại ý và Lược giảng. Vì mỗi Thiên oai nghi, có Thiên khá dài nên chúng tôi tạm phân ra từng bài ( nói đúng hơn là phân ra từng đoạn ) để cho người học dễ học và dễ nhớ. Riêng phần Lược giảng, chúng tôi cũng vẫn y cứ vào phần Chú giải của Tổ Hoằng Tán mà tóm lược làm ra. Vì xét thấy, phần Chú giải của Tổ Hoằng Tán có những đoạn văn quá dài, so với trình độ học hỏi của những vị Sa di trẻ tuổi thật khó có thể lãnh hội hết được. Do đó, mà chúng tôi không sao chép lại nguyên văn mà chỉ dựa vào đó rồi rút ra những ý chánh hoặc có đôi khi thêm vào một vài ý tưởng của chúng tôi cho phù hợp với căn cơ và hoàn cảnh xã hội hiện tại.  

 

Việc biên soạn nầy, mục đích chính của chúng tôi là nhắm thẳng vào các vị Sa di trẻ, tuy nhiên, người lớn tuổi học cũng không phải là vô ích. Trong khi biên soạn, dù chúng tôi có cố gắng đến đâu, cũng không sao tránh khỏi những sai lầm thiếu sót. Kính mong các bậc cao minh, cụ nhãn, các bậc Thiện hữu trí thức phủ chính chỉ giáo cho.

 

Soạn giả xin hết lòng thành kính tri ân đa tạ.

 

Pháp Lạc Thất

Phật lịch 2560 Dương lịch 2016

Tỳ kheo Thích Phước Thái
Chân thành cảm tạ Thầy Phước Thái (tác giả) & Thầy Phước Viên đã gởi tặng
Trang Nhà Quảng Đức phiên bản điện tử tập sách này (T.Nguyên Tạng, 22-5-2018)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/07/2014(Xem: 40974)
Ngôi tu viện Phật giáo vùng Tây Bắc của tiểu bang Victoria được Thượng tọa Thích Tâm Phương khai sơn từ năm 1990. Ban đầu tu viện tọa lạc ở vùng Broadmeadows. Đến năm 1995, tu viện vận động mua lại ngôi trường tiểu học Fawkner cũ có diện tích 8.000 m2 và xây dựng thành ngôi phạm vũ trang nghiêm mang tên Bồ tát Thích Quảng Đức từ năm 1997 đến năm 2003. Công trình xây dựng do kiến trúc sư Nguyễn Kiển Thành thiết kế, kiến lập theo kiểu chữ “Công” mang dáng dấp kiến trúc cổ kính Á Đông. Đại lễ khánh thành được tu viện tổ chức trọng thể vào các ngày 10, 11 và 12-10-2003. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm thờ tôn tượng đồng đức Phật Thích Ca thiền định. Tượng cao 2,50m, nặng khoảng 1,5 tấn. Phía trước và hai bên, tu viện đặt thờ nhiều tượng Phật, Bồ tát, Hộ Pháp Già Lam. Đến năm 2008, tu viện xây Tăng xá và Bảo tháp Tứ Ân. Bảo tháp 4 tầng, cao 14m, rộng 5m, trên nóc tôn trí tượng đức Phật A Di Đà cao 1,2m. Trong bảo tháp tôn thờ Xá Lợi Phật, tượng chư Phật, Bồ tát và linh cốt của Phật tử q
21/03/2014(Xem: 33668)
Những câu kệ, lời văn, tư tưởng, ý nghĩ trong suốt 365 trang giấy của quyển sách nhỏ này là tinh hoa, là kinh nghiệm tu tập, là trải nghiệm cuộc sống từ nhiều nguồn tư tưởng, hệ phái, pháp môn khác nhau, là suối nguồn tư duy, là hạnh nguyện, là sự hành đạo và chứng đạo của những bậc Lạt Ma Phật giáo Tây Tạng, những Tăng sĩ Miến Điện, những vị Thiền sư, những đạo sĩ Ấn Độ giáo, những cư sĩ học giả Đông Tây, và ngay cả những thi sĩ, văn hào, nghệ nhân trên thế giới, tuy nhiên, như nước trăm sông đều chảy xuôi về biển rộng, dù khác nhau trên mặt văn từ, ngôn ngữ hay hình thái diễn đạt, những nguồn tư tưởng tâm linh này đều nhắm chung về một đích hướng là “Yêu thương đời, giác ngộ người trong Từ Bi, Trí Tuệ và An Lạc.”
27/10/2013(Xem: 17224)
¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ DÒNG SUỐI TỪ (thơ Hạnh Cơ), trang 7 ¨ CẦU NGUYỆN CAO ĐĂNG PHẬT QUỐC (HĐGP & HĐĐH GHPGVNTNHK), trang 8 ¨ THÔNG TƯ VỀ LỄ TƯỞNG NIỆM ĐLHT THÍCH CHÍ TÍN (HT. Thích Tín Nghĩa), trang 9 ¨ SƠ LƯỢC TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH CHÍ TÍN (Môn đồ pháp quyến),trang 10 ¨ NHỚ LẠI ÂN XƯA (Nguyên Siêu),trang 11 ¨ DUYÊN LÀNH HỌC PHẬT (ĐLHT. Thích Thắng Hoan), trang 12 ¨ HỌC PHẬT (HT Thích Tín Nghĩa), trang 13
27/08/2013(Xem: 19963)
Thiền tông truyền sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI, do Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma). Đến thế kỷ thứ VII, Thiền tông truyền sang Việt Nam, do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci). Thế là, Thiền tông có mặt ở Việt Nam sau Trung Hoa một thế kỷ. Đến thế kỷ thứ XII, Thiền tông mới truyền vào Nhật Bản. So Việt Nam với Nhật Bản, Thiền tông truyền bá ở Việt Nam trước Nhật Bản đến năm thế kỷ. Song ở Trung Hoa, Nhật Bản về sử liệu Thiền tông rất dồi dào, còn ở Việt Nam thật là nghèo nàn đáo để. Sự nghèo nàn ấy, không phải Thiền tông Việt Nam truyền bá kém cỏi hơn các nước Phật giáo bạn. Bởi vì nhìn theo dòng lịch sử, từ thế kỷ thứ VII cho đến thế kỷ thứ XIV, chúng ta thấy Thiền tông đã nắm trọn vẹn tinh thần truyền bá Phật giáo và cả văn hóa dân tộc Việt Nam. Những sách vở của người Việt Nam sáng tác hoặc ghi chép lại, không kém gì các nước Phật giáo bạn. Nào là Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, Liệt Tổ Truyện, Nam Minh Thiền Lục, Thánh Đăng Thực Lục, Liệt Tổ Yếu Ngữ, Kế Đăng Lục, Tam Tổ T
14/08/2013(Xem: 60457)
Muốn ngồi thiền, trước chúng ta phải biết lý thuyết, sau mới thực hành được. Tại sao chúng ta phải ngồi thiền? Phật dạy trong bốn oai nghi chúng ta đều tu được hết. Bốn oai nghi là đi, đứng, nằm và ngồi.
29/07/2013(Xem: 31731)
1:- Quá trình hình thành và phát triển: - Nguồn gốc Tự viện, ngày tháng thành lập PHV, người tiếp quản ban đầu. - Thành phần Ban Giám Viện, Ban Giáo Thọ, Hội Đồng Chứng Minh, số lượng Học Tăng, nhà Trù, cơ sở vật chất v.v… các thời kỳ, trước 1963, sau 1963 đến 1975
17/07/2013(Xem: 18613)
Đọc hết 93 trang của Phúc trình A/5630, lại được xác nhận bởi Kết luận của Biên bản Buổi họp thứ 1280 của Đại Hội đồng LHQ, rồi sau đó được Giáo sư Roger Stenson Clark tham chiếu trong tác phẩm A United Nations High Commissioner For Human Rights của ông, ta có thể khẳng định rằng Phúc trình A/5630 không hề kết luận rằng chính phủ Diệm "không có đàn áp tôn giáo" như cái thế lực đã thù nghịch với Phật giáo từ thời Cố đạo Alexandre de Rhodes gọi Phật Thích Ca bằng “thằng” trong Phép Giảng Tám Ngày, tìm cách xuyên tạc tài liệu để mạo hóa lịch sử từ mấy năm nay.
13/07/2013(Xem: 11274)
Kỷ Yếu Trường Hạ Minh Quang 2013
03/07/2013(Xem: 14626)
Muốn qua sông phải nhờ thuyền bè, muốn vượt bể khổ sinh tử phải nương nhờ Giới pháp. Có thể nói, Giới pháp là kim chỉ nam, là những nguyên tắc sinh động để hướng dẫn đời sống của Tăng sĩ từ tục đến chân, từ phàm đến Thánh, từ cõi mê mờ đến chân trời giác ngộ.
29/06/2013(Xem: 22272)
1963 – 2013! Năm mươi năm đã trôi qua… Một nửa thế kỷ là khoảng thời gian đủ dài để có thể soát xét và suy nghiệm xem từ biến cố đó ta rút ra được những bài học lịch sử gì.