Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Giới Sa-di-ni, oai nghi và luật nghi - Thích Nhật Từ - final May30 2021

09/11/201015:22(Xem: 2507)
Giới Sa-di-ni, oai nghi và luật nghi - Thích Nhật Từ - final May30 2021

luat sa di-thich nhat tu
VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
THÍCH NHẬT TỪ
Dịch và chú thích 
GIỚI SA-DI NI, OAI NGHILUẬT NGHI VÀ
LỜI KHUYẾN TU CỦA TỔ QUY SƠN
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC



MỤC LỤC



Lời giới thiệu - HT. Thích Giác Toàn 
Lời nói đầu 
PHẦN I
Mười giới Sa-di-ni và oai nghi của người xuất gia 
Chương 1: Mười giới Sa-di-ni 
Điều 1: Không giết hại mạng sống 
Điều 2: Không trộm cắp 
Điều 3: Không dâm dục 
Điều 4: Không nói dối 
Điều 5: Không uống rượu [bia] 
Điều 6: Không đắm hương hoaanh lạc 11
Điều 7: Không ngồi giường lớn, cao và rộng 
Điều 8: Không ca múa, âm nhạc 
Điều 9: Không cầm giữ vàng bạc, đồ quý 
Điều 10: Không ăn trái giờ 
Chương 2: Oai nghi của người xuất gia 
Điều 1: Tôn kính ba ngôi báu 
Điều 2: Kính Sa-môn lớn 
Điều 3: Thờ thầy 
Điều 4: Theo thầy ra ngoài 
Điều 5: Nhập chúng 
Điều 6: Ăn uống với mọi người 
Điều 7: Lễ lạy 
Điều 8: Học tập kinh điển 
Điều 9: Nghe pháp 
Điều 10: Vào chùa 
Điều 11: Đi vào thiền đường 
Điều 12: Làm việc thường ngày 
Điều 13: Vào nhà tắm 
Điều 14: Vào nhà vệ sinh 
Điều 15: Nằm ngủ 
Điều 16: Quanh lò lửa 
Điều 17: Sống ở trong phòng 
Điều 18: Dừng chân ở nhà thí chủ 
Điều 19: Khất thực 
Điều 20: Đi vào xóm làng 
Điều 21: Mua sắm đồ đạc 
Điều 22: Không được tự ý làm bất cứ gì 
Phụ lụcNghi thức thuyết giới 
PHẦN II: TỲ-NI NHẬT DỤNG VÀ QUY SƠN CẢNH SÁCH
Chương 3: Thực tập luật nghi hằng ngày 
1. Tực tập hạnh phúc buổi sáng 
2. Tực tập chuyển hóa bất tịnh 
3. Lễ bái trên điện Phật 
4. Chánh niệm trong ăn uống 
5. Chánh niệm trong sinh hoạt 
6. Chánh niệm trong đời sống 
Chương 4: Lời khuyến tu của Tổ Quy Sơn Linh Hựu 
1. Nhận thức vô thường 
2. Làm người thong dong 
3. Vượt thói phàm tục 
4. Không hoang phí cuộc đời 
5. Gương hạnh thoát tục 
6. Căn bản thiền tập 
7. Tâm nguyện người tu 
8. Giúp nhau thoát khỏi sinh tử 
9. Bài minh tóm tắt 
PHẦN III: NGHI THỨC ĂN CƠM TRONG CHÍNH NIỆM (CÚNG QUÁ ĐƯỜNG)
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bản nguyên tác “Sa-di-ni luật nghi yếu lược” 
Phụ lục 2: Bản nguyên tác “Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu” 
Phụ lục 3: Bản nguyên tác “Quy Sơn Đại Viên thiền sư cảnh sách” 

LỜI GIỚI THIỆU

Dịch phẩm “Giới Sa-di-ni, Oai nghiLuật nghi và Lời khuyến tu của Tổ Quy Sơn” do Thượng tọa Nhật Từ dịch và chú thích là bản dịch mang tính học thuật, giúp cho các Sa-di-ni hiểu rõ hơn về những nguyên tắc đạo đức mà họ phải thọ trì, những oai nghi và điều luật mà mình cần phải thực hànhĐặc biệt là “Lời khuyến tu của Tổ Quy Sơn”được dịch bằng thể thơ song thất lục bát cùng phần giải thích rất cặn kẽ, rất cần thiết đối với hàng sơ cơ vừa mới bước chân vào đạo.

Trong nhiều chục năm qua, quý Tôn đức đại dịch giả như Trưởng lão Thích Hành Trụ, Trưởng lão Thích Trí QuangTrưởng lão Thích Nhựt Chiếu đã dịch các bản văn này (thông thường gọi là “bốn cuốn Luật tiểu” dành cho các vị xuất gia trẻ mới bước vào nhà Phật) rất chuẩn mực, làm nền tảng cho các vị học và hành trì trong các sơn môntự viện.

Mỗi bản dịch có sắc thái và dấu ấn riêng. Chúng tôi vô cùng trân quý công trình dịch thuật của các bậc tiền hiền, đồng thời cũng ghi nhận sự đóng góp của các bản dịch mới. Các bản dịch mới này, ngoài việc làm mới lại các khái niệm bằng cách giải thích theo văn phong hiện đại, còn chú thêm từ gốc để làm cơ sở tra cứu. Thông qua đó, cho thấy sự quan tâm của dịch giả về Luật tạng Phật giáo đối với các Tăng Ni trẻ, cần phải hiểu đúng từng khái niệm Luật học để định hướng và bước đi không sai lệch trên con đường tu học lâu dài.

Tôi tán thán và trân trọng dịch phẩm này. Chúc các Sa-di-ni và các Ni sinh trẻ siêng năng học tập, nghiên cứu và ứng dụng hành trì giới luật trong việc tu học để tự thân mình luôn kiến tạo một đời sống Phạm hạnh gương mẫu và cao đẹp ngay từ buổi ban đầu

Trân trọng!

Pháp viện Minh Đăng Quang, TP. Hồ Chí Minh
Mùa Phật đản PL. 2565 – DL. 2021
Viện trưởng
Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
Hòa thượng Thích Giác Toàn

 


 

LỜI NÓI ĐẦU

Các Sa-di-ni thân mến,

Chọn “đi tu” làm Sa-di-ni (P. Sāmaeri, S. Śrāmaeri, 沙彌尼), sau đó, làm Thức-xoa (P. Sikkhamānā. S. Śikamānā式叉摩那),[1] Tỳ-kheo-ni (P. bhikkhuni, S. bhikṣuṇī, 比丘尼), các con đang đi theo lý tưởng cao cả và hạnh nguyện độ sinh của đức Phật, các bậc Bồ-tát, các Thánh tăng trong lịch sử hơn 2.600 năm của đạo Phật. Đó là diễm phúc lớn của các con và gia đình các con ở đời này.

Sa-di-ni có nghĩa đen là “Sa-môn tử” (沙門子), tức người đang tập hạnh làm Sa-môn (P. Sāmaa, 沙門). Các Sa-di-ni tuổi thiếu nhi được gọi là “cô tiểu” ở miền Nam, hay “cô điệu” ở miền Trung hoặc “sư bác” ở miền Bắc. Sa-môn là từ chỉ cho các tu sĩ vô thần tại Ấn Độ trong thời cổ đại, không chấp nhận đạo Bà-la-môn đa thần, không chấp nhận Thượng đếkhông chấp nhận số phận, cách tu tín ngưỡng và ép xác của đạo Bà-la-môn. Đạo Phật do đức Phật Thích-ca sáng lập là một trong các trường phái Sa-môn, mở ra con đường tỉnh thứcgiác ngộ và giải thoát cho nhân loại khỏi tất cả nỗi khổ và niềm đau.

Sa-di-ni là thuật ngữ chỉ cho các vị xuất gia theo truyền thống Phật giáo, đang trong giai đoạn tập sự để sau đó trở thành Tỳ-kheo-ni, tức chính thức làm Sư cô. Có duyên lành được đi tu từ tuổi ấu niên, hay giác ngộ chân lý, đi tu ở tuổi thanh niên hoặc tuổi trưởng thành, các Sa-di-ni chọn lựa con đường và lý tưởng sống cao quý và có giá trị chuyển mê, khai ngộ cho con người. Để trở thành người xuất gia có giá trị lớn cho mình và cho cuộc đời, các Sa-di-ni cần cam kết ba điều quan trọng sau đây:

i) Nỗ lực cắt bỏ đời sống ái dụctrọn đời sống độc thân nhưng không cô đơngiữ giới hạnh trang nghiêm và thanh tịnh;

ii) Nỗ lực học Phật và thực hành Phật phápvượt qua các thử thách và chướng duyên, không dể duôi trong các khoái lạc giác quan, không đắm nhiễm thói đời, không chạy theo danh lợi thấp kém, không tham gia chính trị, không phản bội lý tưởng Phật phápquyết chí đạt được giác ngộ và giải thoát;

iii) Làm lớn mạnh các đức tính từ bitrí tuệ và không sợ hãi, sống bằng thái độ, hành động vị tha cao cả để hoàn thành chí nguyện xuất trần, nối gót con đường độ sanh của đức Phật và các bậc tổ sư.

Quyển sách “Giới Sa-di-ni, oai nghiluật nghi và lời khuyên của tổ Quy Sơn” này do tôi phiên dịchbiên tập, xuất bản, như tên gọi, gồm có 4 nội dung chính: (i) Giải thích vắn tắt 10 điều đạo đức của Sa-di-ni, (ii) 22 oai nghi làm nên cốt cách của người xuất gia, (iii) 43 bài thiền kệ chánh niệm và tỉnh thức trong đi, đứng, ngồi, nằm và sinh hoạt thường ngày, (iv) Lời khuyến tu của tổ Quy Sơn. Chương 3 và 4 của sách này, tôi dịch và xuất bản trong quyển “Cẩm nang thực tập chánh niệm và khuyến tu” năm 2012.

So sánh 10 điều đạo đức thì giới bổn Sa-di và Sa-di-ni giống nhau. Chỉ khác nhau về cách diễn đạt, nội dung minh họa. Mười đạo đức Sa-di-ni gồm: (i) Không được giết hại, (ii) Không được trộm cắp, (iii) Không được dâm dục, (iv) Không được nói dối, (v) Không được uống rượu, (vi) Không đeo hoa thơm, không bôi hương liệu, (vii) Không được ca múa, chơi các nhạc cụ, không đến xem nghe, (viii) Không được ngồi giường lớn cao rộng, (ix) Không ăn trái giờ, (x) Không được cầm giữ vàng bạc đồ quý.

Về số lượng, Sa-di có 24 oai nghi, trong khi Sa-di-ni chỉ có 22 oai nghiGiới bổn Sa-di và giới bổn Sa-di-ni giống nhau 21 điều. Chỉ riêng có trong giới bổn Sa-di-ni gồm: Kính trọng Tam bảo (điều 1). Chỉ riêng có trong giới bổn Sa-di gồm: Đến chùa Ni (điều 17), đi du phương (điều 23) và tên gọi, hình tướng của y và bát (điều 24). Học thuộc và thực tập các oai nghitế hạnh này giúp các Sa-di-ni vượt qua nghiệp đời, thói phàm, có đạo phong của Sa-môn, nhẹ nhàng, an lạcthanh thoátthảnh thơi.

Về “Tỳ-ni nhật dụng”, có 43 bài thiền kệ, giúp các Sa-di-ni trải nghiệm sự chính niệmtỉnh thức trong đi, đứng, nằm, ngồi và các sinh hoạt hằng ngày. Tôi phân chia các bài kệ này thành sáu nhóm chủ đề: (i) Thực tập hạnh phúc buổi sáng, gồm các bài 1-7, (ii) Thực tập chuyển hóa bất tịnh, gồm các bài 8-13, (iii) Lễ bái trên điện Phật, gồm các bài 14-20, (iv) Chánh niệm trong ăn uống, gồm các bài 21-26, (v) Chánh niệm trong sinh hoạt, gồm các bài 27-35, (vi) Chánh niệm trong đời sống, gồm các bài 36-43.

Bài khuyến tu của tổ Quy Sơn Linh Hựu giúp người xuất gia giữ gìn lý tưởng xuất giathôi thúc tinh tấn hành trìtrở thành người tu hữu ích và giá trị. Tôi phân làm các chủ đề: (i) Nhận thức vô thường, (ii) Làm người thong dong, (iii) Vượt thói phàm tục, (iv) Không hoang phí cuộc đời, (v) Gương hạnh thoát tục, (vi) Căn bản thiền tập, (vii) Tâm nguyện người tu, (viii) Giúp nhau thoát khỏi sinh tử, (ix) Tóm tắt bằng bài Minh.

***

Thái tử Cồ-đàm Tất-đạt-đa (P.Siddhattha Gotama, S. Siddhārtha Gautamagiác ngộ viên mãn và trở thành đức Phật ở tuổi 35. Suốt 45 năm sau đó, đức Phật tuyên giảng chân lý (P.dhamma, S. dharma, 法, pháp) khắp miền bắc Ấn Độ và hình thành hệ thống giới luật (P=S. vinaya, 戒律), dành cho người xuất gia bao gồm giới Sa-di và giới Tỳ-kheo (đối với Tăng sĩ nam) và giới Sa-di-ni, giới Thức-xoa và giới Tỳ-kheo-ni (đối với nữ tu).

Giới luật xuất gia trong tạng Luật (vinayapiaka) quy định về cách sinh hoạt tu học và phận sự (vinayo kiccagambhīro) của các thành viên Tăng đoàn. Về giới luật, các vị Sa-di-ni và Thức-xoa chưa phải là thành viên chính thức của Tăng đoàn (Sagha) nên không được tham dự đọc giới bổn Tỳ-kheo (P. Pātimokkha, SPrātimoka, 戒本) trong ngày Bố-tát (P. Uposatha, S. Upavasatha, 布薩), không được tham dự và không được biểu quyết (karma, 羯磨, yết-ma) các công việc của Ni đoàn.

Giới luật cùng với giáo pháp được đức Phật sánh ví ngang hàng với đức Phật sau khi Ngài qua đời: “Giáo pháp và giới luật là thầy của các đệ tử, sau khi Ta qua đời” (mayā dhammo ca vinayo ca desito paññatto so vo mam). Do đó, các Sa-di-ni hãy học thuộc giới, giữ giới; học thuộc các kinh quan trọng và ứng dụng kinh trong cuộc sống để thánh thiện hóa bản thân ở hiện tại và cứu độ con người về sau.

Trong Đại phẩm(Mahā-vagga) thuộc Luật tạng (律藏) của Thượng tọa bộ (Theravāda, 上座部), đức Phật quy định Luật Sa-di-ni (Sāmaeravinayabao gồm: (i) Những điều cần học (Sikkhāpada), (ii) Hình phạt đối với Sa-di-ni (Daṇḍa-kamma) vi phạm “những điều cần học” và (iii) Tội trục xuất (Nāsanaga) được áp dụng đối với các Sa-di-ni phạm các tội sau đây: Giết người, trộm cắp, hành dâm, nói dối, uống rượu, phỉ báng Phật, phỉ báng giáo phápphỉ báng Tăng, tà kiến.

Sau khi đức Phật qua đời, nhằm giúp các vị Sa-di-ni trưởng thành về giới đức và trở thành người xuất gia hữu ích, các tổ sư của tông Luật đã bổ sung các quy định của Tỳ-kheo-ni trong Giới bổn Tỳ-kheo-ni (P. Pātimokkha, SPrātimoka, 戒本) vào Luật Sa-di-ni.

Các điều nên học đối với Sa-di-ni trong Thượng tọa bộ bao gồm: (i) Giữ trong sạch mười điều đạo đức Sa-di (sikkhāpada), (ii) 75 điều nên tuân thủ (Sekhiyadhamma, sekhiya-vatta, 應学法, ưng học pháp),[2] (iii) 14 điều thực hành (kiccavatta).

Mười bốn điều thực hành của Sa-di-ni bao gồm: (i) Đối với khách Tăng (āgantu-kavatta), (ii) Đối với người tu ở trụ xứ (āvāsikavatta), (iii) Đối với người tu di chuyển chỗ ở (gamikavatta), (iv) Chúc phúc lễ trai tăng (anumodanāvatta), (v) Đến trai đường (bhattagga-vatta), (vi) Đi khất thực (piṇḍacāri-kavatta), (vii) Ẩn cư trong rừng (āraññikavatta), (viii) Ở trong phòng (senāsanavatta), (ix) Ở nhà bếp (jantaghara-vatta), (x) Ở nhà vệ sinh (vaccakuṭivatta), (xi) Đối với bổn sư (upajjhā-yavatta), (xii) Đối với đệ tử xuất gia (saddhivihārikavatta), (xiii) Đối với thầy giáo thọ (ācariyavatta), (xiv) Thầy giáo thọ đối với môn sinh (antevāsikavatta).

Vào thế kỷ XVI, Đại sư Châu Hoằng (蓮池袾宏, 1535-1615),[3] của Trung Quốcdựa vào Luật tạng của các trường phái Luật Phật giáo trong Đại tạng kinh chữ Hán, nhất là các quy định về Sa-di-ni, vốn tương đương với 14 điều thực hành (kiccavatta)[4] của Sa-di-ni trong Đại phẩm(Mahā-vagga) của Luật tạng Thượng tọa bộ để biên tập thành “Luật nghi” (律仪) gồm 22 oai nghi, vốn là phần 2 trong quyển “Sa-di-ni luật nghi yếu lược (沙弥尼律仪要略)” dành cho Sa-di theo Luật Tứ phần (四分律), tức Luật Pháp tạng (Dharmagupta-vinaya, 法藏部戒律).

Mặc dù số lượng các oai nghi, cách đặt tựa đề, vị trí các quy định giữa Luật Sa-di-ni trong Thượng tọa bộ và Pháp tạng bộ có khác nhau nhưng trên tổng thể, nội dung phù hợp nhau, đề cao văn hóa ứng xử của người xuất gia trở nên lịch sựtrang nghiêmthanh thoát, chứ không đơn thuần là những điều không được làm.

Thầy chúc các Sa-di-ni tinh tấn học giớigiữ giới, học kinh điểnáp dụng trong cuộc sống để trong trung bình 5-10 năm xuất giatrở thành người chuyển hóa thành công nghiệp phàm và thói quen phàm, trở thành chân sưgiải thoát giữa đời thường, góp phần xây dựng xã hội an lạc và hòa bình.

Chùa Giác Ngộ,
Ngày rằm tháng 2 năm 2021
THÍCH NHẬT TỪ



[1] Thức-xoa-ma-na (式叉摩那), Hán dịch là học giới nữ (學戒女), chánh học nữ (正學女), học pháp nữ (學法女).

[2] Xem Giới bổn Tỳ-kheo của Luật Tứ phần của Thích Nhật Từ dịch (NXB. Hồng Đức, Hà Nội, 2021): Xem mục “Đối chiếu Giới Tỳ-kheo của Thượng tọa bộ với năm trường phái Luật Phật giáo,” đặc biệt là mục“Điều nên học” để hiểu rõ chi tiết của 75 điều nên học này.

[3] Ngài Châu Hoằng (袾宏) tự là Phật Huệ (佛慧), pháp hiệu Liên Trì (蓮池), thường được gọi là Đại sư Liên Trì (蓮池大師). Vì ngài hành đạo tại chùa Vân Thê (雲棲寺) nên ngài còn được biết đến là Vân Thê – Liên Trì (雲棲蓮池) hay Vân Thê – Châu Hoằng (雲棲株宏). Về tông phái, ngài Châu Hoằng là tổ sư đời thứ 8 của tông Tịnh độPhật giáo Trung Quốc. Năm 31 tuổi, sau khi làm lễ an táng cho thân mẫu, ngài quyết chí xuất gia với Hòa thượng Thiên Lý (天理和尚). Trong quá trình học đạo, ngài từng học Phật pháp với hai trưởng lão Biến Dung (遍融) và Tiếu Nham (笑巖). Các tác phẩm nổi tiếng của ngài gồm có: (i) Tự tri lục (自知錄), (ii) Truy môn hành lục (錙門崇), (iii) Trúc song tùy bút (竹窗随笔), (iv) Di-đà sớ sao (彌陀疏鈔), (v) Thiền tông ngữ lục (禪宗語錄), (vi) Thiền quan sách tấn (禪關策進). Ngài là người biên tập của Sa-di luật nghi yếu lược (沙彌律儀要略), tóm tắt về [giới] Sa-di và oai nghi [của Sa-di].

[4] Xem chi tiết của 14 pháp hành này từ sách của Giác Giới, Luật nghi Sa-di. Thành hội Phật giáo TP.HCM, 1997. Ấn bản vi tính có thể truy cập tại đây: https://www.budsas.org/uni/u-luat-sadi/sadi-nt-00.htm


pdf-icon
04-gioi-sa-di-ni-oai-nghi-va-luat-nghi-thich-nhat-tu-final-may30-2021












Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/201116:27(Xem: 3027)
Hết lòng trân quí và ghi nhớ ân đức sâu dầy của sư Sán Nhiên đã biên soạn và hiệu đính tập sách này, cũng như đã hoan hỷ cho phép Hội Thiện Đức ấn tống nhằm góp phần vào công cuộc hoằng hóa Phật pháp đem đến lợi lạc cho nhiều người. Hội Thiện Đức xin biết ơn sự ủng hộ tinh thần và tán thán sự phát tâm đóng góp tịnh tài của quý Phật tử và ân nhân cho công trình ấn tống này. Xin tri ân chị Thân Thục & anh Thân Phúc đánh máy tập sách; anh Thân Hòa trình bày sách bao gồm thiết kế bìa sách; anh Chúc Giới, anh Thiện Tánh, cùng anh Chúc Tùng cung cấp tài liệu và hình ảnh; Tâm Hân Huệ thỉnh ý sư Sán Nhiên; chị Tâm Thiện, chị Chơn Hạnh Bạch, chị Diệu Âm, Thân Hồng, cùng anh chị Lê Lộc (Lancaster, PA) phụ giúp sổ sách, liên lạc, và kêu gọi cho quỹ ấn tống.
06/12/202110:16(Xem: 381)
Ba bài kinh đầu tiên, Kinh Phạm Võng, Kinh Sa Môn Quả, và Kinh A Ma Trú, là những bài kinh quan trọng bậc nhất trong Trường Bộ Kinh. Bài kinh Phạm Võng giới thiệu 62 Tà Kiến của các ngoại đạo đương thời, gián tiếp đặt đạo Phật ra ngoài các tà thuyết trên, và xác minh lập trường của đức Phật đối với các vấn đề vũ trụ và nhân sinh. Kinh này cũng đề cập đến Giới của đức Phật, từ Tiểu Giới đến Đại Giới, gián tiếp so sánh đời sống xa hoa phù phiếm của các Sa Môn, Bà La Môn đương thời với đời sống giản dị giải thoát của đức Thế Tôn. Cũng chính trong bài kinh này, đức Phật nói, chỉ có kẻ vô văn phàm phu mới tán thán giới đức, còn bậc thiện trí thì tán thán trí đức của Ngài. Và chính nhờ vào trí đức, đức Phật đã tóm thâu hết thảy mọi tà thuyết hiện hữu trong đời và truy nguyên căn nhân cùng động lực của mọi tà thuyết.
20/02/201302:17(Xem: 5757)
Đạo Phật có mặt trên đất nước Việt-nam đã 20 thế kỉ. Quốc văn của Việt-nam với Hán văn của Trung-quốc lúc bấy giờ, có thể nói là cùng đúc chung một lò. Từ xưa đến nay, tất cả các sách giáo khoa Phật học tại Việt-nam đều dùng Hán hệ làm chủ yếu. Trước đây khoảng 5 năm, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh ở Đài-loan có tặng cho tôi một bộ sách giáo khoa Phật học bằng Hán văn, mang tên là “Phật Học Giáo Bản”, gồm 3 quyển, dành cho 3 trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao cấp. Bộ sách do cư sĩ Phương Luân (người Đài-loan) soạn.
29/03/201317:55(Xem: 6573)
Nguyên bộ Giới Đàn này đã ra đời không biết từ thời nào. Đến đời Tự Đức (1847 – 1881) năm thứ 34, có Ngài Tỳ kheo Phổ Tấn học thông kinh luật, thấy bộ Giới Đàn này còn thiếu văn Yết ma, nên Ngài bạch lên Tổ Vĩnh Nghiêm xin nghiên cứu bộ Huyền Ty và bộ Yết Ma Chỉ Nam thêm vào cho đủ để người sau dễ thực hành. Bộ sách này bằng chữ Hán, từ trước đến nay chưa ai phiên dịch ra Việt văn.
16/06/202108:11(Xem: 2327)
Thời gian như đến rồi đi, như trồi rồi hụp, thiên thu bất tận, không đợi chờ ai và cũng chẳng nghĩ đến ai. Cứ thế, nó đẩy lùi mọi sự vật về quá khứ và luôn vươn bắt mọi sự vật ở tương lai, mà hiện tại nó không bao giờ đứng yên một chỗ. Chuyển động. Dị thường. Thiên lưu. Thiên biến. Từ đó, con người cho nó như vô tình, như lãng quên, để rồi mất mát tất cả... Đến hôm nay, bỗng nghe tiếng nói của các bạn hữu, các nhà tri thức hữu tâm, có cái nhìn đích thực rằng: “Đạo Phật và Tuổi Trẻ.” “Phật Việt Trong Lòng Tộc Việt.” “Dòng Chảy của Phật Giáo Việt Nam” hay “Khởi Đi Từ Hôm Nay.” Tiếng vang từ những lời nói ấy, đánh động nhóm người chủ trương, đặt bút viết tâm tình này. Đạo Phật có mặt trên quê hương Việt Nam hai ngàn năm qua, đã chung lưng đấu cật theo vận nước lênh đênh, khi lên thác, lúc xuống ghềnh, luôn đồng hành với dân tộc. Khi vua Lê Đại Hành hỏi Thiền sư Pháp Thuận về vận nước như thế nào, dài ngắn, thịnh suy? Thì Thiền sư Pháp Thuận đã thấy được vận nước của quê hương mà
17/08/201410:35(Xem: 6783)
Thời gian làm việc của chúng ta bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong cuộc sống hằng ngày, cho dù là ta đang giữ bất cứ vị trí nào trong xã hội. Vì thế, qua công việc chúng ta không chỉ nhận được những giá trị vật chất bằng vào sức lao động của bản thân, mà còn có cả những giá trị tinh thần trong cuộc sống...
12/06/202119:20(Xem: 1252)
LỜI GIỚI THIỆU Trong sách quốc văn giáo khoa thư ngày trước đã kể mẫu chuyện như sau: Có một người đi du lịch nhiều nơi. Khi trở về nhà, kẻ quen người lạ, hàng xóm láng giềng đến thăm, hỏi rằng: - Ông đi du lịch nhiều nơi, vậy nơi nào theo ông đẹp hơn cả? Người kia không ngần ngại đáp ngay: - Chỉ có quê hương tôi là đẹp hơn cả! Mọi người không khỏi ngạc nhiên, nhưng càng ngạc nhiên mà càng suy gẫm thì mới thấy có lý. Ai đã du lịch nhiều nơi, ai đã sống lang thang phiêu bạt ở nước ngoài mới có dịp cảm thấy thấm thía "quê hương tôi là đẹp hơn cả", đẹp từ cọng rau, tấc đất, đẹp với những kỷ niệm vui buồn, đẹp cho tình người chưa trọn, đẹp vì nghĩa đạo phải hy sinh…
17/08/201411:05(Xem: 10152)
Ngài Nam Tuyền nói: “Tâm bình thường là đạo.” Chư vị Tổ sư dùng đến vô số phương tiện cũng không ngoài việc dẫn dắt người học đạt đến tâm bình thường này. Vì thế, thiền không phải là một lãnh vực siêu nhiên vượt ngoài phạm trù ý thức thông thường như nhiều người lầm tưởng, mà trái lại chính là sự soi rọi, chiếu sáng những trạng thái tâm thức hết sức bình thường mà mỗi người chúng ta đều đã và đang trải qua trong cuộc sống thường ngày.
13/01/202008:19(Xem: 1626)
Hai Thế Hệ Một Niềm Tin_Thích Từ Lực
16/01/202219:46(Xem: 260)
Hành hương và chiêm bái Phật tích Ấn Độ là nhân duyên hy hữu và là một ước mơ ngàn đời của người đệ tử Phật trên khắp năm châu bốn bể. Nay ước mơ đó đã đến với Tăng Ni và Phật tử Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu. Như chương trình đã sắp đặt trước cả năm, phái đoàn hành hương Ấn Độ gồm 51 người do Tu Viện Quảng Đức tổ chức đã lên đường đúng vào ngày 7-11 năm 2006. Phái đoàn do Đại Đức Phó Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức Thích Nguyên Tạng, Sư Cô Hạnh Nguyên và Đạo Hữu An Hậu Tony Thạch (Giám đốc công ty Triumph Tour) hướng dẫn cùng với 38 Phật tử từ Melbourne, 6 từ Sydney, 1 từ Perth và 5 đến từ Texas, Cali, Hoa Kỳ.
29/03/201319:52(Xem: 3695)
Hành Hương Miến Điện - Tích Lan 2013
17/08/201421:47(Xem: 10629)
Sự rèn luyện cốt lõi nhất trong Phật giáo, và cho chủ đề này trong bất kỳ con đường tâm linh nào đều là “phương tiện thiện xảo”, nhờ đó hành giả có khả năng chuyển hóa mọi khía cạnh cuộc sống hàng ngày của họ thành rèn luyện tâm linh. Rèn luyện tâm linh là những luyện tập làm giải thoát tâm thức khỏi sự bám chấp mãnh liệt và lực khao khát thúc đẩy của chúng ta. Sự rèn luyện tâm linh xoa dịu đau khổ tạo ra bởi quan điểm chật hẹp, cứng rắn và những cảm xúc hỗn loạn, thiêu đốt của chúng ta.
29/03/201317:34(Xem: 2999)
Có lẽ cũng không cần phải chờ đợi lâu để quý vị sẽ thấy là quyển sách bé nhỏ này là biểu trưng không biết bao nhiêu lần hơn cho lòng tin tưởng và quyết tâm của tác giả so với một quyển sách trước đây mang tựa đề là. Chúng ta hãy phẫn nộ ( "Indignez vous!" - quyển sách này của Stéphane Hessel đã được xuất bản vào tháng 10, năm 2010, và đã bán được 300 000 cuốn trong ba tháng đầu, 950 000 cuốn trong vòng 10 tuần l ễ sau đó, và con số bán đã lên hơn 4 triệu cuốn trong năm vừa qua và vẫn còn tiếp tục tăng đều.
22/07/202120:32(Xem: 1061)
Phật Giáo Việt Nam tại Tây Đức cho đến năm nay (1988) đã trải qua 10 năm hoạt động trong các lãnh vực Tôn Giáo, Văn Hóa và Xã Hội cho người Việt Nam cũng như người Đức; nên muốn ghi lại những sinh hoạt này và đã sắp xếp thành một quyển sách với nhan đề là "Hình ảnh 10 năm sinh hoạt của Phật Giáo Việt Nam tại Tây Đức".
21/05/201920:08(Xem: 2618)
Thưa đại chúng, hôm nay là ngày 10 tháng 12 năm 2000, tức là ngày 15 tháng 11 năm Canh Thìn, tại Đại Hùng Bảo Điện, chùa Phước Duyên, tất cả chúng ta đều có mặt để cầu nguyện Tam Bảo chứng minh cho đời sống lứa đôi của hai Phật tử Quốc An và Ngọc Diệp. Thưa Đại Chúng, Cùng hai con quý mến!
29/03/201319:14(Xem: 4515)
Phó Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã viên tịch vào lúc 06 giờ 20 sáng 5-12-2012 tại Chùa Pháp Luân, thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.
15/11/202105:07(Xem: 541)
Hòa Thượng Hộ Pháp toàn tập: Tâm Từ_Hòa Thượng Hộ Pháp Pháp Nhẫn Nại_Hòa Thượng Hộ Pháp Pháp Hành Thiền Định_Hòa Thượng Hộ Pháp Pháp Hành Thiền Tuệ_Hòa Thượng Hộ Pháp Tìm Hiểu Phước Bố Thí_Hòa Thượng Hộ Pháp Vòng Sanh Tử Luân Hồi_Hòa Thượng Hộ Pháp Tìm Hiểu Phước Bố Thí_Hòa Thượng Hộ Pháp Nghiệp và Kết quả của Nghiệp_Hòa Thượng Hộ Pháp Vi Diệu Pháp Hiện Thực Trong Cuộc Sống_Hòa Thượng Hộ Pháp
29/03/201320:57(Xem: 4965)
Đức Đại Lão Hòa thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn Chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên. . .
21/02/201322:36(Xem: 8682)
Hòa thượng húy là Trần Hữu Phước, pháp danh Thích Thanh Từ, sau đổi lại húy là Trần Thanh Từ. Sinh ngày 24 tháng 07 năm Giáp Tý (1924), tại ấp Tích Khánh, làng Tích Thiện, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Vĩnh Long). Thân phụ của Hòa thượng húy Trần Văn Mão, từ nhỏ theo nghiệp Nho, giữ nếp sống thanh bần. Cụ ông theo đạo Cao Đài, lập gia đình hơi muộn. Thân mẫu của Hòa thượng húy Nguyễn Thị Đủ quê làng Thiện Mỹ, dòng thanh bạch, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Cụ bà chân chất hiền lành, suốt đời tận tụy hi sinh vì chồng vì con.
08/04/201316:42(Xem: 7486)
Xin quí vị bấm vào xem PDF