Hương tháng tư

16/02/201115:25(Xem: 6504)
Hương tháng tư

BÓNG TRÚC BÊN THỀM
Tâm Chơn

Hương tháng tư

Âm lịch, ngày mai là tháng tư. Tôi vẫn thường để ý đến tháng tư theo cách của riêng mình. Tháng của những cơn mưa đầu mùa thưa thớt và bất chợt luôn cố hết sức làm dịu mát cái nóng bức của nắng hè. Tháng của chùm phượng vĩ đỏ rực một góc trời vô tư lự. Tháng của những làng sen trở mình thức dậy tỏa hương sau mấy tháng ngủ vùi trong lớp bùn khô. Tháng của Đại lễ mừng Phật đản sanh. Tháng của hàng Tu sĩ Phật giáo bước vào mùa An cư kiết hạ.

Và, ngày mai là tháng tư - mùa Phật đản.

Kinh sử truyền rằng, vào một ngày trăng tròn tháng tư âm lịch, cách nay 2633 năm, tại vườn Lâm Tỳ Ni, thành Ca Tỳ La Vệ, miền Bắc Ấn Độ, nay thuộc xứ Nepal, “một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường đã xuất hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và loài Người”. (kinh A Hàm)

Chúng sanh ấy, con người phi thường ấy chính là Thái tử Sĩ Đạt Ta, sau xuất gia tu hành thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

Thái tử được sinh ra và lớn lên trong tình thương yêu, trìu mến “đặc biệt” của phụ vương Tịnh Phạn. Thế nhưng, tất cả những gì mà thế gian cho là hạnh phúc nhất cũng chẳng hề lung lạc được chí nguyện xuất trần vốn tiềm ẩn trong trái tim từ bi của Thái tử.

Để rồi, niềm thao thức vì nỗi khổ sanh già bệnh chết của loài người, tâm khắc khoải bởi thương nhân thế đắm chìm trong vô minh điên đảo, Thái tử đã vượt thành ra đi tìm chân lý.

Trải qua 5 năm tầm sư học đạo, 6 năm tu khổ hạnh nơi chốn rừng già, Thái tử nhận ra rằng các phương pháp đó vẫn còn luẩn quẩn trong vòng sanh tử luân hồi, không đưa đến giải thoát.

Thế là Thái tử từ bỏ các phương pháp ấy và một mình thực hành theo con đường tu tập riêng. Một hôm, dưới cội Bồ-đề, sau 49 ngày đêm tham thiền nhập định, Thái tử đã chứng ngộ chân lý tối thượng, trở thành đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc Toàn giác.

Kể từ đó, trên bước đường hoằng pháp độ sanh không hề mệt mỏi, Ngài đã hóa độ đủ mọi thành phần trong xã hội. Từ các vị Bà La Môn, vua chúa đến thứ dân, giàu sang phú quý đến cùng đinh nghèo khổ, ngay cả hạng gái giang hồ, những tên cướp… tất cả đều được Ngài giáo hóa, không phân biệt.

Nói chung, những ai hữu duyên gặp Phật đều được thấm nhuần giáo pháp của Ngài mà tỏ ngộ, chứng đạt các quả vị Thanh văn là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán.

Còn chúng ta ngày nay thì sao?

“Phật tại thế thời ngã trầm luân
Kim đắc nhân thân Phật diệt độ
Áo não tự thân đa nghiệp chướng
Bất kiến Như Lai kim sắc thân.”


(Khi Phật ở đời con chìm đắm
Nay được thân người Phật diệt độ
Buồn thay thân này nhiều nghiệp chướng
Chẳng thấy thân vàng đấng Như Lai.)

Tuy nhiên, dù đức Phật 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp đã Niết-bàn nhưng pháp Phật nhiệm mầu muôn đời vẫn lung linh tỏa sáng. Chỉ e chúng ta chưa đủ duyên tiếp nhận, hoặc giả hững hờ, không thật tâm đi đúng lộ trình của đức Thế Tôn nên ngàn kiếp mãi loanh quanh trong màn đêm tăm tối!

Sự xuất hiện của đức Phật trên thế gian này là một phúc duyên lớn lao của nhân loại. Bởi sự ra đời của Ngài, cũng như Chư Phật ba đời, đều chỉ vì đại nguyện “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến” (kinh Pháp Hoa). Đều vì mục đích là chỉ bày cho chúng sinh thấy rõ và thể nhập được Tri kiến Phật nơi mình, khiến cho chúng sanh nhờ đó mà thoát khỏi khổ đau sanh tử, vui cảnh Niết-bàn tịch lạc ...

“Hạnh phúc thay, đức Phật đản sinh
Hạnh phúc thay, giáo pháp cao minh
Hạnh phúc thay, Tăng già hòa hợp
Hạnh phúc thay, tứ chúng đồng tu”.
(Kinh Pháp Cú, kệ số 194)

Và hạnh phúc thay, hằng năm vào những ngày tháng tư âm lịch, ở khắp mọi nơi, những người con Phật đều cùng hân hoan, trang trọng cử hành đại lễ kỷ niệm mừng ngày khánh đản đức Từ phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, cũng là để ôn lại lời Phật dạy và tỏ tấc lòng thành tri ân đức Phật đã mang thông điệp tình thương và hạnh phúc đến cho nhân loại.

Bất chợt, tôi lại muốn nhắc đến kỷ niệm một thời thơ ấu. Ừ, thì cũng nhờ những buổi tối lên chùa coi tập văn nghệ mừng Phật đản mà tôi mới dạn dĩ đến với đạo. Chứ thiệt lòng mà nói, nhà ở gần chùa, thích tụng kinh nhưng có bao giờ dám đi chùa một mình đâu? Tối tối, tôi chỉ qua nhà cô Ba hàng xóm tụng kinh thôi. Mỗi tháng 2 kỳ, nếu có lên chùa sám hối thì tôi đi chung với tụi bạn. Lần nào cũng vậy, khi vào chánh điện, thì y như rằng tôi luôn ngồi ngay vị trí quen thuộc của mình nơi góc khuất bên Đại hồng chung. Đến lúc tham gia sinh hoạt Gia đình Phật tử, tới lui chùa thường xuyên hơn thì tánh nhút nhát trong tôi mới tan biến dần.

Tôi còn nhớ, cũng sau mùa Phật đản năm ấy, tôi được quy y trở thành một Phật tử… Ôi! Mới đó mà đã hơn 20 năm.

Rồi những tháng tư đi qua, những tháng tư lại về…

Tôi lại lặng yên ngắm nhìn bầu trời vằng vặc ánh trăng mùa Phật đản, nghe hương tháng tư khe khẽ rót bên thềm.

Ô hay! Chẳng có tháng ngày, thôi những xuân hạ thu đông, đức Phật giáng sinh trong từng tâm niệm thiện lành của mỗi chúng ta.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 4418)
Bà Mẹ ấy là vợ tôi, và cũng nhờ Bà đau mà tôi bắt đầu ăn chay trường được 10 năm rồi. Tôi còn nhớ ngày xưa, hồi tôi còn là học sinh trung học, mẹ tôi nấu cơm tháng cho các bạn tôi từ Quảng Trị, Quảng Nam, Ðà Nẳng đến Huế học . . .
10/04/2013(Xem: 4267)
Tôi không có nhiều kỷ niệm với cô Kim Ngọc trên bình diện hoạt động nghệ thuật sân khấu xã hội .Nhưng ở khía cạnh nghệ thuật sân khấu Phật giáo thì một vài kỷ niệm cũng nói lên được nhiều điều.
10/04/2013(Xem: 5157)
Học Phật, nếu thấu rõ đường đi, thấy rõ kết quả thì mình vui nhiều lắm. Còn nếu mờ mịt thì sống thấy khổ, tu hành cũng dễ chao đảo, dễ mất niềm tin, mất nguồn vui. Vãng sanh là sống mà đi vãng sanh, vui vẻ cho mình, vui vẻ lớn lao cho gia đình.
10/04/2013(Xem: 4084)
Trong kinh Du Hành có chuyện một chú sa di đem tin tới cho đức Thế Tôn là thầy Xá Lợi Phất mới qua đời. Vị sa di đó tên là Cunda (Thuần Đà). Hồi đó Bụt đang ở miền Bắc sông Hằng tại thành phố Vaisali.
10/04/2013(Xem: 4061)
Cư sĩ Peter Kedge, 47 tuổi, một kỹ sư người Anh, đã trải qua mười sáu năm trong ngành kinh doanh. Hiện nay ông là Tổng giám đốc điều hành một công ty đa quốc gia ở Hồng Kông, một công việc mà ông bắt đầu với hai bàn tay không từ năm 1980.
10/04/2013(Xem: 4800)
Đây là câu kết bài thơ không đề của Liên Ẩn Thiền Sư. Nội dung bài thơ rất đơn giản, ngôn từ mộc mạc, thân thương như những lời nhắc nhở của thầy với trò, của cha mẹ với con cái, của bằng hữu với thân quen ....
10/04/2013(Xem: 4860)
Sau thời công phu sớm nay, bà Tám thắp thêm nén hương thơm trên bàn thờ Phật sau đó bà thắp hương bàn thờ ông bà. Bà chế trà sen ra ly và đặt lên bàn thờ ông Tám, thuở còn sanh tiền ông Tám rất thích uống trà sen vào buổi sáng, sau nầy dù ông đã mất bà vẫn giữ lệ cũ, pha trà cho mọi buổi sáng.
10/04/2013(Xem: 4794)
Trong tất thảy các tôn giáo, không tôn giáo nào dạy con người vừa phải sống, phải xây dựng cho cuộc sống tốt đẹp lại vừa phải từ chối nó, coi nó như áng phù vân, như hình bóng hư ảo chập chờn trên vách hang động, như ốc đảo lộng lẫy hiện lên trong trí tưởng tượng của kẻ lữ hành nơi sa mạc.
10/04/2013(Xem: 3983)
"Là một người đồng tính luyến ái mắc bệnh Aids (Sida), tôi có nhiều thời gian để chấp nhận hoàn cảnh bi đát của mình. Nhưng khi nói chuyện với Sư cô về vấn đề chết và hấp hối, tôi cảm thấy mình có một nhận thức sâu sắc về cuộc sống và chấp nhận căn bệnh quái ác này.