Phi Pháp Chúng Tỳ Kheo

27/09/202509:23(Xem: 1532)
Phi Pháp Chúng Tỳ Kheo

Phat thuyet phap 7




Phi Pháp Chúng Tỳ Kheo

.......
Trong kinh A Na Di, một nhóm Tỳ kheo chưa thấy rõ con đường, lòng còn phân vân trong pháp hành của mình, dù được Thế tôn gợi ý, nhắc nhở nhưng vẫn còn ngơ ngác, lặng thinh, thiếu hẳn lập trường. Chỉ có một vị đại diện muốn được lắng nghe. Thế tôn liền nói vắn tắt như sau:

“Này các Tỳ kheo, những hạng chỉ nói lời hư vọng, không hiển thị sự chân thật, thiếu sự phân biệt, không rõ được hành vi, sự lưu bố và tuần tự thuyết pháp; khi muốn đoạn trừ sự xấu xa trong tâm ý người khác thì chẳng làm được, lúc bị cật vấn thì trở nên đuối lý. Thế tôn gọi hạng này không xứng lập trong hàng ngũ giáo pháp của ta, đó là chúng phi pháp.” Nói xong, Thế tôn bèn lui vào am thất, nghỉ ngơi.

Đây là những dòng đơn giản, vắn tắt mà Thế tôn đã nói ra trước nhóm Tỳ kheo sở học, sở hành còn nông cạn. Bởi họ chưa xác định được hướng đi như pháp, thuận nghĩa như các vị khác. Họ luôn cho mình đã tinh tường mọi lẽ, nào là “trí tuệ ta đã thông, sự thấy biết đã trọn vẹn.” Từ đó bao nhiêu mê mờ, vọng chấp càng đẩy họ ra xa với giáo pháp của Thế tôn.

Những hạng này dụng pháp diễn giải còn sơ vụng, chưa thông. Nói lời hư vọng, đi ngược với tinh thần giải thoát. Mọi lúc đều tỏ ra tự mãn, thiếu sự học hỏi và lắng nghe. Giữa hội chúng thì cứ huyên thuyên, mất đi năng lực tư duy phân biệt, nhằm hướng dẫn mọi người về chuẩn mực hành vi đạo đức. Dù người có rơi vào mê kiến, tà chấp thì hạng phi pháp này vẫn tỏ ra vô năng.

Phật dạy pháp cần lưu bố, giảng rộng thì hạng này sở học còn non, nên chưa thể khơi nguồn chánh ý để truyền dạy cho người đúng cách. Chúng phi pháp khác gì ngoại giáo. Dù mang pháp y, tọa cụ, sống đời tăng thân thì vẫn là ngoại giáo. Bất tuân lời Phật, không thuận giáo đoàn, thì chính là kẻ đang thuận dòng thế gian. Họ cứ mang chủ trương dị biệt của mình mà ban truyền, lưu bố; thế nhưng đi đến đâu còn chưa rõ, căn cơ hội chúng còn chưa minh thì lấy chi mà truyền, hiểu gì mà giáo. Thế tôn còn dạy, những kẻ này mỗi khi thế gian cật vấn thì hoàn toàn yếu lý, không biết cách trả lời, huống hồ là việc dạy mọi người tránh xa những điều xấu ác trong tâm thì họ còn ngồi yên như gỗ đá.

A Na Di là một Bà la môn ngoại đạo. Đến với Thế tôn lòng chưa đủ nhiệt thành, nên vẫn bị rơi vào tình huống mơ hồ, không nắm vững cốt lõi lời Phật. Tuy nhiên, mưa lâu cũng phải thấm đất. Nhờ vào các đệ tử cao minh của Thế tôn như ngài A Nan đã giúp diễn đạt chân lý thật khéo léo, chỉ rõ hướng tu tập thật minh tường mà cuối cùng những đệ tử thuộc dị giáo này cũng thấu triệt được con đường hướng thượng giải thoát.


Thích Thiện Lợi









Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/03/2013(Xem: 6261)
Sự tích 16 vị La-hán được chép trong sách Pháp Trụ Ký. Sách này do vị Đại A-la-hán Nan Đề Mật Đa La (Nandimitra) trước thuật và Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang (600-664) dịch ra chữ Hán. Ngài Nan Đề Mật Đa La (còn có tên là Khánh Hữu) người Tích Lan, ra đời khoảng năm 800 năm sau Phật Niết bàn.
27/03/2013(Xem: 6040)
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát Rộng phát Tâm Từ Bi Công hạnh sâu như biển Quay ngược thuyền Từ
10/01/2013(Xem: 4611)
Ý nghĩa của Thỉnh Chuyển Pháp Luân hiểu được rồi, đặc biệt là thời buổi hiện đại khoa học kỹ thuật đang không ngừng tiến bộ, mạng Internet cũng không ngừng cải tiến, chúng ta tin tưởng khoảng 2-3 năm sau rất có thể nó sẽ thay thế truyền hình, mức độ tiện lợi, máy tính cỡ nhỏ, lớn bằng bàn tay như vầy có thể mang theo bên mình bất cứ lúc nào, có thể truy cập lên mạng trên toàn thế giới, chúng ta cần biết những công cụ tiên tiến này. Hôm qua, có một bạn đồng tu tặng tôi bản mục lục ở trên mạng Internet, tôi đã xem, vô cùng phong phú, rất nhiều tư liệu giảng kinh của pháp sư đều có trong đó, bạn thấy điều này tiện lợi biết bao, các bạn ở trong nhà, muốn học với pháp sư nào, bạn đều có thể học được cả.
10/01/2013(Xem: 4698)
Hạnh nguyện Phổ Hiền, tổng cộng có mười hạnh nguyện. Phần trước đã giảng cho quí vị bốn hạnh nguyện rồi. Mỗi một hạnh nguyện, chúng ta đều thường niệm. Ở trong nhà Phật, các tổ sư đại đức đem mười cương mục này sắp xếp vào thời khóa tụng sáng tối, cho nên mọi người đều niệm rất thuộc: Nhất giả lễ kính chư Phật, nhị giả xưng tán Như Lai, v.v… đều rất thuộc. Nhưng [nếu] không thực hiện, chỉ có niệm như vậy thì không có ý nghĩa gì cả, chỉ gieo trồng được thiện căn trong A Lại Da Thức.
11/12/2012(Xem: 6876)
Đức Tara nhanh chóng giúp bạn thành công trong việc đạt được hạnh phúc tối hậu của giác ngộ. Bạn nhận lãnh rất nhiều công đức tốt lành, hay nguyên nhân của hạnh phúc...
23/10/2012(Xem: 5464)
Có một thời gian Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên phụ trách trông coi việc dựng thiền-thất tại vườn Lộc-Dã; một hôm trong lúc Tôn-giả đang đi kinh hành trên khoảng đất trống, thì Ma-Vương hóa hình nhỏ xíu chui vào trong bụng của Tôn-giả, lúc đó Tôn-giả nghĩ rằng: “Quái lạ, hình như ta đã nuốt phải vật gì vào trong bụng? Ta nên nhập Như-kỳ tưởng-định để nhìn vào bụng xem là vật gì?”
11/10/2012(Xem: 15372)
Cũng vào lúc bấy giờ, Đại bồ tát Quan Tự Tại thâm nhập pháp tu Bát nhã ba la mật đa sâu xa, thấy năm uẩn đều không tự tánh. Sau Phật, Tâm Kinh dẫn chúng ta đến gặp Bồ tát Quan Tự Tại. Tiếng Tây Tạng gọi Bồ tát là jangchub sempa. Jangchub (Phạn: bodhi), có nghĩa là “giác ngộ”, và sempa (Phạn: sattvà), có nghĩa là “anh hùng” hay “người”. Gộp chung lại thì từ jangchub sempa có nghĩa là “vị anh hùng giác ngộ”. Trong chữ jangchub - “giác ngộ” - âm đầu tiên là ị ang ứng vào sự chiến thắng đoạn diệt mọi sức mạnh chướng ngại, còn âm thứ nhì, chub, có nghĩa là thành tựu trí tuệ viên mãn.
26/09/2012(Xem: 11189)
Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn thường được gọi đơn giản là phẩm Phổ Môn nghĩa là cánh cửa phổ biến, cánh cửa rộng mở cho mọi loài đi vào. Nhưng thâm nghĩa của Phổ Môn là tất cả mọi người trong thế gian này ai ai cũng đều được Bồ Tát Quán Thế Âm ở trong lòng của họ.
17/09/2012(Xem: 13102)
Một thanh niên hỏi tôi: “Có người nói Bồ tát Quan Âm không có thật, là tín ngưỡng của Bà La Môn phải không thưa thầy?”. Tôi cười đáp: “Bồ tát Quan Âm có thật hay không tùy thuộc vào hai điều kiện: 1.Niềm tin. 2.Tự mình nghiên cứu tìm hiểu...
11/09/2012(Xem: 4484)
1. Con xin mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống, niềm tin, hạnh phúc của mọi người và mọi loài. 2. Con xin mở rộng tầm hiểu biết, để có thể thấu rõ được gốc rễ khổ đau của mọi người, mọi loài mà tìm cách nâng đỡ và hộ trì. 3. Con xin nguyện từ bỏ những tập khí tham ái, hờn giận, trách móc, phê bình, chỉ trích và bạo động, để con có thể vui sống với mọi người và mọi loài.