Phi Pháp Chúng Tỳ Kheo

27/09/202509:23(Xem: 1524)
Phi Pháp Chúng Tỳ Kheo

Phat thuyet phap 7




Phi Pháp Chúng Tỳ Kheo

.......
Trong kinh A Na Di, một nhóm Tỳ kheo chưa thấy rõ con đường, lòng còn phân vân trong pháp hành của mình, dù được Thế tôn gợi ý, nhắc nhở nhưng vẫn còn ngơ ngác, lặng thinh, thiếu hẳn lập trường. Chỉ có một vị đại diện muốn được lắng nghe. Thế tôn liền nói vắn tắt như sau:

“Này các Tỳ kheo, những hạng chỉ nói lời hư vọng, không hiển thị sự chân thật, thiếu sự phân biệt, không rõ được hành vi, sự lưu bố và tuần tự thuyết pháp; khi muốn đoạn trừ sự xấu xa trong tâm ý người khác thì chẳng làm được, lúc bị cật vấn thì trở nên đuối lý. Thế tôn gọi hạng này không xứng lập trong hàng ngũ giáo pháp của ta, đó là chúng phi pháp.” Nói xong, Thế tôn bèn lui vào am thất, nghỉ ngơi.

Đây là những dòng đơn giản, vắn tắt mà Thế tôn đã nói ra trước nhóm Tỳ kheo sở học, sở hành còn nông cạn. Bởi họ chưa xác định được hướng đi như pháp, thuận nghĩa như các vị khác. Họ luôn cho mình đã tinh tường mọi lẽ, nào là “trí tuệ ta đã thông, sự thấy biết đã trọn vẹn.” Từ đó bao nhiêu mê mờ, vọng chấp càng đẩy họ ra xa với giáo pháp của Thế tôn.

Những hạng này dụng pháp diễn giải còn sơ vụng, chưa thông. Nói lời hư vọng, đi ngược với tinh thần giải thoát. Mọi lúc đều tỏ ra tự mãn, thiếu sự học hỏi và lắng nghe. Giữa hội chúng thì cứ huyên thuyên, mất đi năng lực tư duy phân biệt, nhằm hướng dẫn mọi người về chuẩn mực hành vi đạo đức. Dù người có rơi vào mê kiến, tà chấp thì hạng phi pháp này vẫn tỏ ra vô năng.

Phật dạy pháp cần lưu bố, giảng rộng thì hạng này sở học còn non, nên chưa thể khơi nguồn chánh ý để truyền dạy cho người đúng cách. Chúng phi pháp khác gì ngoại giáo. Dù mang pháp y, tọa cụ, sống đời tăng thân thì vẫn là ngoại giáo. Bất tuân lời Phật, không thuận giáo đoàn, thì chính là kẻ đang thuận dòng thế gian. Họ cứ mang chủ trương dị biệt của mình mà ban truyền, lưu bố; thế nhưng đi đến đâu còn chưa rõ, căn cơ hội chúng còn chưa minh thì lấy chi mà truyền, hiểu gì mà giáo. Thế tôn còn dạy, những kẻ này mỗi khi thế gian cật vấn thì hoàn toàn yếu lý, không biết cách trả lời, huống hồ là việc dạy mọi người tránh xa những điều xấu ác trong tâm thì họ còn ngồi yên như gỗ đá.

A Na Di là một Bà la môn ngoại đạo. Đến với Thế tôn lòng chưa đủ nhiệt thành, nên vẫn bị rơi vào tình huống mơ hồ, không nắm vững cốt lõi lời Phật. Tuy nhiên, mưa lâu cũng phải thấm đất. Nhờ vào các đệ tử cao minh của Thế tôn như ngài A Nan đã giúp diễn đạt chân lý thật khéo léo, chỉ rõ hướng tu tập thật minh tường mà cuối cùng những đệ tử thuộc dị giáo này cũng thấu triệt được con đường hướng thượng giải thoát.


Thích Thiện Lợi









Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/07/2012(Xem: 18144)
Phương Thức Thực Hành Hạnh Bồ Tát (Bodhicharyàvatàra) là Thi phẩm bằng tiếng Phạn của Tôn giả Tịch Thiên (Sàntideva) khi ngài tu học ở Học viện Phật giáo Nalandà, Ấn độ vào thế kỷ thứ bảy Tây lịch. Đây cũng là tác phẩm Tạng ngữ vô cùng quan trọng, áp dụng vào chương trình học tập cho các tu sĩ Tây Tạng.
04/04/2012(Xem: 5913)
Bồ-tát Quán Thế Âm vốn có tên tiếng Phạn là Avalokiteśvara. Đó là một vị Bồ-tát mà tại các nước Á châu ai cũng biết, vì Ngài có bổn nguyện từ bi cứu độ chúng sanh vô cùng rộng lớn. Trong tiếng Hán, Ngài còn được gọi với các tên như: Quán Tự Tại, Quán Thế Tự Tại, Quán Thế Âm Tự Tại, Quán Thế Tự, Khuy Âm, Hiện Âm Thanh, Quán Âm… Ngoài ra, còn gọi là Cứu Thế Bồ-tát, Cứu Thế Tịnh Thánh (Duh!-kharaksaka), hoặc Thí Vô Úy Giả (Abhayamdada), hoặc Thí Vô Úy Giả Liên Hoa Thủ (Padmapāni), Phổ Môn (Saman-tamukha), Đại Bi Thánh Giả (Mahākārunikamuni).
29/01/2012(Xem: 9988)
Bồ tát Quán Thế Âm, hình ảnh thân thiết gần gũi đối với mọi tầng lớp quần chúng, nhất là những người Á Đông. Nhiều người chưa quy y Tam Bảo, chưa trở thành Phật tử chính thức cũng thường xưng niệm danh hiệu và thỉnh tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ tát để phụng thờ, lễ bái hằng ngày trong nhà. Ở Việt Nam, hình ảnh Ngài còn ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa dân gian đến độ, chúng ta đi đâu, về đâu trên đất nước thân thương này cũng đều thấy tôn tượng Ngài.
13/01/2012(Xem: 12886)
Sau khi Mahà Moggallàna nhận được những lời giáo huấn do Đức Phật đích thân truyền dạy (ghi trong Anguttara Nika(ya VIII, 58), ngài liền vững tâm hành đạo với một quyết tâm bất thối.
07/10/2011(Xem: 4790)
Long Thọ cùng với Vô Trước, là hai bậc khai phá vĩ đại của truyền thống Đại thừa. Long Thọ tiếp nối và trao truyền những giáo huấn thậm thâm vi diệu của tính không...
14/09/2011(Xem: 8301)
Long Thọ Đại Sĩ, tiếng Phạn gọi là Nagarjuna, người dòng Phạm chí, ứng thế ở xứ Nam Thiên Trúc, sau Phật diệt độ bảy trăm năm. Tương truyền ngài sanh dưới cây A Châu Đà Na, cây này có năm trăm vị Long thần ở, lại nhờ Long Vương Bồ Tát mà thành đạo, nên lấy hiệu là Long Thọ.
14/09/2011(Xem: 4831)
Đời nhà Minh, niên hiệu Sùng Trinh thứ mười sáu, có Bồ Tát dùng phương tiện giáng thần ở Ngô môn, tự xưng là Giác Minh Diệu Hạnh, thường khuyên dạy về Phật pháp. Đến năm Thuận Trị thứ tư đời nhà Thanh, do nhân duyên trước, ngài lại giáng đàn, tùy cơ nói pháp, khai diễn về môn Tịnh độ. Trước tiên, Bồ tát dùng lời kệ khai thị rằng...
12/08/2011(Xem: 11561)
Hình ảnh của Bồ Tát Địa Tạng với khuôn mặt đôn hậu, từ ái, đầu đội mũ tỳ lư, tay cầm tích trượng là một hình ảnh luôn tỏa sáng trong tâm khảm của những người con Phật...
09/08/2011(Xem: 10351)
Tôn giả Xá Lợi Phất xuất thân từ giai cấp Bà la môn, nổi tiếng thông tuệ từ khi còn thơ ấu. Ngài là niềm tự hào, là hy vọng của gia đình, dòng tộc và nhất là mẹ ngài, bà Xá Lợi...
05/08/2011(Xem: 10278)
Sở dĩ Mục Kiền Liên đắc Thánh quả một cách nhanh chóng vì Ngài đã trải qua nhiều kiếp tu hành, cho nên trong hiện đời được gặp Phật...