Văn minh nhà Phật

20/03/201110:30(Xem: 15682)
Văn minh nhà Phật

VĂN MiNH NHÀ PHẬT
Tác giả: Đoàn Trung Còn soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính
NXB: Tôn giáo
Khổ sách: 14.5x20.5cm
Độ dày: 216 trang

1157

Tiểu tựa

Quyển sách này nhan đề là Đường qua xứ Phật, chính là chuyện ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh.

Văn minh nhà Phật đã làm cho tỏ rạng các nước phương Đông. Ta dầu quên nhưng sử sách vẫn còn. Sử sách dầu nát, nhưng những đền đài mỹ thuật ở Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên... cũng hãy còn. Đó là những bằng chứng rất rõ ràng vậy! Nay ta chớ bôn ba đi tìm đây đó mà không khỏi lầm to. Chỉ cần ngoảnh lại góc trời Đông Á thì tức thấy ánh sáng thật của ta, cũng như ta ngó thẳng vào tâm là thấy Phật, việc gì phải tìm kiếm đâu xa? Ngẫm lại, hơn hai ngàn năm trước, trong lúc người Âu Mỹ chưa có lịch sử rõ ràng, ngay ở nước Pháp người Gô-loa còn ở theo từng đoàn, đánh giết lẫn nhau và thờ đủ các thứ ác quỷ, hung thần, thì bên Đông Á con người sinh hoạt đã rất phồn thịnh, về chánh trị, về khoa học, về đạo đức, về mỹ thuật đều đã rất xuất sắc tài tình. Nhất là ở Ấn Độ, tinh thần nhà Phật soi sáng ra đến các nước ngoài. Cho nên ở Trung Hoa, Miến Điện và nhiều nước láng giềng đều có lắm vị cao tăng sang Ấn Độ để hành hương, chiêm bái và thỉnh kinh.

Trong các vị cao tăng Trung Hoa, ngài Huyền Trang là người có công nghiệp rất lớn, đã đi khắp các nơi viếng Phật tích, những cảnh chùa lớn, quan sát và nghiên cứu rất nhiều. Sau khi về nước Ngài bèn viết sách, dịch kinh. Chính ngài Huyền Trang đã đề xướng phong trào khảo cứu và phiên dịch các kinh điển trong ba tạng kinh điển. Ngài hợp tác với các vị cao tăng trong nước mà duyệt lại và dịch thêm kinh Phật. Công việc này tổ chức rất có quy mô, nề nếp, do ngài khởi xướng hồi thế kỷ thứ 7 và tiếp tục mãi qua các đời sau, gọi là phong trào Tân dịch. Kể từ đó, người nghiên cứu Phật giáo thường gọi các dịch giả và các kinh sách ra đời trước Ngài Huyền Trang là Cựu dịch.

Những nhà Cựu dịch phần đông là các vị sư truyền giáo người Thiên Trúc qua Trung Hoa. Tuy giỏi về việc tu học, thông thạo chữ Phạn, song lại không rành chữ Hán, tức là văn tự trước đây của Trung Hoa. Còn các nhà Tân dịch phần đông là các vị học Phật người Trung Hoa, có biết chữ Phạn và sẵn giỏi về văn chương nước nhà, nên tình nguyện đứng ra dự cuộc khảo cứu, bổ sung các danh từ Phật học và dịch thêm những kinh chữ Phạn chưa có bản chữ Hán.

Như thế, trong phái Tân dịch, ngài Huyền Trang là vị thủy tổ, người đi đầu trước hết vậy.

Lại nói về công nghiệp ngài Huyền Trang sang tận Ấn Độ mà thỉnh kinh nguyên bản chữ Phạn về Trung Hoa để dịch và truyền bá. Từ Trung Hoa sang đến các nơi có dấu tích Phật ở Ấn Độ, phải trải qua biết bao sự nguy nan cực nhọc, rừng núi mịt mù, núi non hiểm trở, sa mạc mênh mông... Bao phen tưởng Ngài phải bỏ mình. Nhưng có lẽ lòng tín ngưỡng cao đến cực điểm khiến cho Ngài đi đến nơi về đến chốn và hoàn thành được việc nghiên cứu rõ ràng. Nếu là người chưa thật thành tâm thì mong gì vượt qua khỏi những nơi đồng không đầy cát nóng, những núi non nguy hiểm, sương tuyết phủ giăng! Và nếu chẳng được sức gia hộ của chư Phật, thì trông gì thoát khỏi nanh vuốt của ác thú, sự tàn hại của độc trùng hoặc dao búa của bọn cường đồ!

Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ người đào giếng. Các dân tộc Á Đông ta hiểu được Phật giáo, đọc được ba tạng kinh, học được giáo lý từ bi và nương theo gương Phật, ấy là nhờ một phần lớn ở công lao của ngài Huyền Trang vậy. Ta biết ơn người mà không hiểu được sự tích xưa, ấy chẳng là thiếu sót lắm sao? Quyển sách này sẽ kể rõ những nổi gian nan thực sự đã trải qua trên đường của ngài Huyền Trang. Và ta nên ghi nhớ những điều thực tế ấy, còn hơn là chỉ biết đến qua truyện Tây Du Ký, là thứ tiểu thuyết bịa đặt ra, lắm điều phi lý, mơ hồ, chỉ làm hại đến lòng tín ngưỡng chân chính của một phần đông người trong xã hội ta lúc sau này.

Đoàn Trung Còn

Source: rongmotamhon
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/11/2025(Xem: 1899)
Dường như đều đặn gần 10 năm nay, từ khi học Đạo và nghe nhiều pháp thoại trong các bộ kinh Lăng Nghiêm và Diệu Pháp Liên Hoa và thường tụng niệm chú Đại Bi cũng như các câu chú đại linh mật thông dụng nhứt và nhắn gọn nhứt của Quán Thế Âm theo Mật Tông Tây Tạng là OM MANI PADME HÙM! (Án Ma Ni Bát Di Hồng!) của Phật Bà Tàrà, ứng Thân của Quán Thế Âm: (OM TÀRE TUTTÀRE TURE SVÀHÀ!) con thường nhủ rằng “trong tâm lý học sâu, con người dù trí tuệ đến đâu vẫn có khoảng trống của khổ đau và bất an. Quán Âm là biểu tượng của sự lắng nghe tuyệt đối, của năng lượng dịu lành giúp tâm người được an định.
27/09/2025(Xem: 1543)
Trong kinh A Na Di, một nhóm Tỳ kheo chưa thấy rõ con đường, lòng còn phân vân trong pháp hành của mình, dù được Thế tôn gợi ý, nhắc nhở nhưng vẫn còn ngơ ngác, lặng thinh, thiếu hẳn lập trường. Chỉ có một vị đại diện muốn được lắng nghe. Thế tôn liền nói vắn tắt như sau: “Này các Tỳ kheo, những hạng chỉ nói lời hư vọng, không hiển thị sự chân thật, thiếu sự phân biệt, không rõ được hành vi, sự lưu bố và tuần tự thuyết pháp; khi muốn đoạn trừ sự xấu xa trong tâm ý người khác thì chẳng làm được, lúc bị cật vấn thì trở nên đuối lý. Thế tôn gọi hạng này không xứng lập trong hàng ngũ giáo pháp của ta, đó là chúng phi pháp.” Nói xong, Thế tôn bèn lui vào am thất, nghỉ ngơi.
23/09/2025(Xem: 1704)
Có bốn hạnh tướng đẹp dành cho các sơ học Bồ tát. Đó là hạnh “Tự Chánh”, hạnh “Chánh Tha”, hạnh “Tùy Vấn” và hạch hỏi các “Sự Duyên” (Phẩm tứ tướng Niết Bàn) …… Có Tỳ kheo bảo, thà ôm đóng lửa mà chết, chứ không dám đứng trước Như Lai mà nói 12 bộ kinh. Chết như vậy thì tâm thể vẹn nguyên, tuyệt không để ma tâm quấy nhiễu, chỉ sinh oán kết, cột thêm dây.
21/09/2025(Xem: 1773)
Khi Phật giáo truyền đến phương Bắc, Trung Hoa là điểm quan trọng và chủ yếu của nhánh này. Sự phát triển của Phật giáo làm ảnh hưởng đến sự độc tôn của Nho – Lão, vì thế xảy ra những mâu thuẫn và xung đột không thể tránh được. Các pháp sư phải linh hoạt quyền biến phương tiện để hoằng hóa. Măc khác tín ngưỡng địa phương, văn hóa, nghệ thuật bản địa lại tác động đến Phật giáo. Các pháp sư phải linh hoạt chấp nhận sự giao thoa và cũng lợi dụng các yếu tố đó để dẫn dụ. Dần dà Phật giáo Bắc truyền mang màu sắc Trung Hoa rất đặc thù và khác biệt với dòng Nam truyền. Hai hình tượng rất đặc biệt trong Phật giáo Bắc truyền ấy chính là Quán Thế Âm Bồ Tát và Phật Di Lặc. Từ đây truyền rộng sang Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn…Mấy ngàn năm nay, hình tượng hai ngài phổ biến sâu rộng trong quần chúng, in sâu vào tâm thức mọi người…
22/10/2024(Xem: 3611)
Xuất xứ. Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm là tuyển tập 500 Danh Hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Mỗi danh hiệu tán dương một bản nguyện, hạnh tu, công đức, pháp môn, ứng thân, phương tiện, lời dạy, cảm ứng, xưng tán, hoặc oai lực của Bồ Tát, viết thành một câu khá dài. Hơn một nửa danh hiệu trích dẫn từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, còn lại dẫn từ nhiều Kinh khác. Do dẫn nhiều bản Kinh theo thứ tự trước sau nên có những câu tương tự, trong đó 2 câu “Thiên nhãn Chiếu kiến” và “Thiên thủ Hộ trì” lập lại 2 lần (câu 76-77).
20/10/2024(Xem: 3214)
Phải chăng trong thời đại công nghệ và tri thức phát triển? Niềm tin mạnh mẽ vào Bồ tát Quán Thế Âm Vẫn đặc biệt giữ được một giá trị tinh thần Nhưng đòi hỏi thêm hơn một cái nhìn thực tế và sâu sắc! Hãy luôn kiên nhẫn và lòng từ bi, dù cuộc sống có phức tạp hay thách thức !
02/09/2024(Xem: 9113)
Mời người về đây tu viện Quảng Đức Xứ Úc hiền hòa Thầy đã dựng xây Mái ấm tâm linh, chở che người con xa xứ Bao bàn tay Phật tử cùng chung xây dựng Quảng Đức, trái tim người bất diệt!
02/09/2024(Xem: 2920)
Có một câu danh ngôn nổi tiếng của John Milton trong tác phẩm *Paradise Lost* (Thiên Đường Đã Mất) nói về khái niệm thiên đường và địa ngục trong tâm trí con người: “The mind is its own place, and in itself can make a heaven of hell, a hell of heaven."* Tạm dịch:”Tâm trí là nơi của chính nó, và tự nó có thể biến thiên đường thành địa ngục, địa ngục thành thiên đường."* Câu này nhấn mạnh rằng chính tâm trí con người quyết định việc chúng ta sống trong hạnh phúc hay khổ đau, thiên đường hay địa ngục.
31/07/2024(Xem: 8435)
Quán Âm Bồ Tát Nhĩ căn viên thông Đại từ đại bi Diệu âm tự tánh
24/07/2024(Xem: 2072)
Nam Mô Bồ Tát Quan Âm Chứng tri tứ chúng đồng tâm kính thành An vị Bồ Tát duyên lành Hương hoa bánh trái tịnh thanh cúng dường Kính mong Bồ tát tưởng thương Độ cho nhân loại bớt vương khổ nàn Lời kinh khấn nguyện vang vang Mười hai đại nguyện Quan Âm độ đời