Đuổi theo ánh sáng

19/03/202608:20(Xem: 520)
Đuổi theo ánh sáng


great stupa

ĐUỔI THEO ÁNH SÁNG

Những tia nắng đầu ngày lấp lánh trong trẻo như pha lê, vườn cây hớn hở tắm trong ánh nắng tươi mát, từng phiến lá hả hê nhả dưỡng khí vào đất trời. Màu xanh cây lá mát mắt, mát dịu cả tâm hồn. Màu xanh chắt ra từ nguồn nước mẹ thiên nhiên, từ năng lượng ấm áp của nắng gió để rồi chuyển thành năng lượng sống của vô số chiếc lá. Thần ánh sáng Helios trên chiếc xe kéo bởi những con ngựa có bờm lửa lướt qua bầu trời. Ánh sáng tràn ngập cả không gian khiến cho gã người phải mở mắt ra.

Trải qua một đêm dài, gã người ngủ say nhưng mộng mị vẫn diễn ra mà không sao kiềm chế được. Mộng mị vốn là một phần của đời sống gã người, đừng nói chi lúc ngủ, ngay cả lúc thức gã ta vẫn cứ sống trong mộng kia mà. Gã người thức dậy để chuẩn bị cho một ngày mới, nói là mới nhưng chẳng có chi mới, ngày nào gã cũng thực hiện bấy nhiêu việc đó, lao lực cày kiếm tiền mưu sinh, nuôi thân, nuôi gia đình và nuôi cả những cơn mộng mị vô cùng tận.

Một ngày mới của gã người dù ở đồng quê quần quật với trâu bò, ruộng nương, bờ bãi… Ánh sáng đầu ngày còn mát mẻ với gã ta nhưng khi đến giấc trưa và xế chiều thì trở thành một cực hình. Ánh nắng thiêu đốt cháy đen da thịt, cả thân hình còm cõi quắt queo. Đời dù khổ thế nhưng không thể bỏ được, nếu bỏ làm thì đời còn thê thảm hơn, không chỉ mình gã ta mà còn cả gia đình hắn và cả cái xã hội này. Bởi vậy mà ngày qua ngày, tháng năm nối nhau, đời từng đời… gã người cứ quần quật với ruộng nương bờ bãi, mồ hôi gã ta rơi xuống và đôi khi cả nước mắt nữa đã biến thành dưỡng chất nuôi dưỡng mùa màng.

Gã người ở đô thị lại khổ kiểu khác, khi ánh nắng ban mai còn chưa đủ phủ ngập phố phường thì gã ta đã lục tục kéo nhau ra đường. Những công xưởng, nhà máy nuốt hết bọn họ vào trong. Gã người ở chốn thành đô quần quật dưới ánh sáng nhân tạo của đèn neon. Ngày dài lắm và ngày nối tiếp ngày, bọn họ chẳng mấy khi được tắm mình trong ánh sáng ban mai. Bọn họ không bị thiêu đốt bởi ánh nắng trưa hay xế chiều nhưng lại bị sức nóng từ máy móc làm cho kiệt quệ. Sức nóng từ máy móc còn nghiệt ngã hơn, vắt kiệt sức lực của bọn họ, khi về đến nhà thì rã rời cả thân tâm. Khi ánh hoàng hôn nhập nhoạng vướng vất trên phố phường, những gã người nơi đô thị lại hùng hục chạy về như thể bị những tia nắng cuối ngày đuổi dí sau lưng.

**

Ban trưa, thần ánh sáng lên đến cung hoàng đạo, bấy giờ là lúc toàn bộ ánh sáng của thần tung hết xuống trần gian. Mặt đất, mặt đường, mái nhà… hắt trả trở lại cái nhiệt độ mà nó tích trữ được. Gã người nơi đồng quê vắng vẻ hay rộn ràng tấp nập nơi phố thị đều quay cuồng với công việc không ngừng nghỉ. Rồi bọn người tranh đấu vì thị phi, vì ý thức hệ, vì quyền lực và quyền lợi… Bọn người tranh đoạt bằng mọi giá mà bọn họ lại quên rằng chẳng mấy chốc nữa thôi bọn họ cũng như ánh nắng chiều tàn tạ và bọn họ sẽ già nua. Còn lúc màn đêm phủ lên mặt đất thì thân xác họ sẽ vùi vào lòng đất, những thứ họ tranh đoạt bỏ lại, thật chẳng có ý nghĩa gì, sanh chẳng mang đến, chết chẳng đem đi. Cái mà gã người đem theo chỉ là kết quả của những việc thiện ác đã làm.

Thần ánh sáng phóng cỗ xe vun vút bay qua bầu trời, ánh sáng trong trẻo tươi mát ban mai chuyển thành ánh nắng gay gắt buổi trưa và cuối ngày là nắng quái xế chiều. Tia nắng như mũi dùi xoáy vào da thịt gã người. Gã người trên ruộng đồng dù có che chắn bằng mũ nón áo quần vẫn không ngăn được vô số mũi kim ánh sáng châm chích thân thể. Gã người vất vả mưu sinh trên đường phố cũng thế. Gã người nơi đồng quê ấy thế mà còn có những phút giây ngồi dưới cội cây hưởng ngọn gió đồng mang hơi nước mát rượi. Còn gã người nơi phố thị không chỉ bị nắng quái thiêu đốt mà còn bị hành hạ bởi tiếng ồn kinh khủng của xe cộ, khói bụi ô nhiễm phố phường. Nắng quái xế chiều báo hiệu ngày dần tàn, thần ánh sáng sẽ đi qua khỏi thế gian này và điều này cũng là thông điệp mà thần ánh sáng nhắn gửi: “Các người đã vào giai đoạn cuối rồi đấy! rồi đây các người sẽ chẳng còn gặp lại ta, không còn ánh sáng long lanh ban mai mà ngay cả nắng gắt giấc trưa hay nắng quái xế chiều cũng không nốt. Các người sẽ đi vào lãnh địa của lão thần chết Hades”. Thông điệp của thần ánh sáng gửi đến gã người từ thuở khai thiên lập địa đến giờ nhưng dường như gã người không hiểu, chẳng nhận biết, vì vậy mà gã người mải mê tranh đoạt, say máu truy sát tru diệt suốt từ buổi hồng hoang đến giờ. Cũng có một số ít nhận ra thông điệp và vì vậy mà những vị ấy buông bỏ tất cả những ràng buộc của con người để đi vào lãnh địa bất diệt vô sanh.

Nắng quái xế chiều thiêu đốt gã người cho dù gã ta ở chốn đồng quê hay giữa phố phường náo nhiệt. Lửa từ cỗ xe của thần ánh sáng Helios thiêu đốt thân thể thì gã người còn nhận biết nhưng còn lửa trong tâm thiêu đốt gã người cả ngày lẫn đêm thì gã ta không hề hay biết. Khi thần ánh sáng bay qua khỏi bầu trời, màn đêm đen kịt nhưng tâm gã người vẫn cháy bỏng, vẫn riết róng với sức nóng cùng cực của tham dục và sân hận. Với sức nóng thiêu đốt này thì gã người chẳng thể trốn nơi nào được, đừng nói chi đồng quê yên ả hay phố hội hào hoa, ngay cả trên mây, trong nước, núi cao, rừng thẳm… cũng đều không thể trốn được cái nóng thiêu đốt khốn khổ này!

Cỗ xe thần ánh sáng lao thêm một quãng nữa là ráng đỏ hoàng hôn vắt qua bầu trời, khói sương bắt đầu lan tỏa, mặt đất đã nhập nhoạng rồi. Gã người cuối ngày rã rượi thân xác, tâm hồn mệt mề bải hoải. Gã người đuổi theo thần ánh sáng suốt một ngày, trọn cuộc đời, giờ thì cũng đã bước gần đến lãnh địa lão thần chết Hades. Hoàng hôn đẹp lắm chứ, cái đẹp lãng mạn hay thê lương cũng còn tùy tâm trí của gã người. Hoàng hôn với thần ánh sáng thì chẳng có ý nghĩa gì nhưng với gã người là cả một đề tài lớn xưa nay. Gã người ngày xưa đã từng hỏi: “Hương quan hà xứ thị?”*. Gã người lưu lạc ngoài mười ngàn dặm đã đành, ngay cả gã người sống cả đời nơi hương quê cố quận chưa từng ra khỏi lũy tre làng cũng buồn da diết trong chiều hôm. Đời gã người kể cũng buồn thật đấy, dù có hoan hỷ trong nắng sớm ban mai nhưng được bao nhiêu? Phần lớn vẫn bị khổ đau trong sự thiêu đốt của nắng lửa buổi trưa, nắng quái xế chiều và cái nóng thiêu đốt bất kể ngày đêm là lửa dục bên trong.

Hoàng hôn đỏ lựng nơi chân trời, trên bến nước, trên thành đô… đẹp lắm chứ! Nhưng làm sao ngăn được nỗi buồn hiu hắt khi bóng xế của cuộc đời? Thân xác này rồi đây sẽ tan vào cát bụi. Đôi mắt này đã một đời yêu ánh sáng sẽ chìm vào bóng đen. Tai này thích âm thanh cuộc sống do ánh sáng mang lại. Mũi này thương mùi đời do ánh sáng kích thích muôn loài sinh ra. Lưỡi này nếm trải bao nhiêu vị cũng bởi ánh sáng khiến muôn vật tựu thành. Thân này xúc chạm với ánh sáng, với hạnh phúc và khổ đau cũng nhờ ánh sáng kiến tạo. Tâm ý này thụ hưởng và tưởng tượng với vô tận dù có ánh sáng hay là giữa màn đêm. Buổi hoàng hôn, thần ánh sáng sắp rời bầu trời và khi gã người sắp rời khỏi thế gian. Lãnh địa thần bóng đêm chờ đón gã người và chỉ nhận lấy những thiện quả hay ác quả của gã ta. Của cải vật chất chẳng có nghĩa lý gì, sắc đẹp dục lạc càng vô dụng, danh tiếng với địa vị bỏ đi, ăn uống chơi bời hay ngủ nghỉ cũng chẳng thể được. Kể cũng tội cho gã người, ngày từng ngày tranh đoạt từ bình minh cho đến hoàng hôn, ngày đêm mộng mị không dứt. Đời từng đời mưu sự để rồi khi bước vào lãnh địa thần bóng đêm mà huyễn mộng không tan. Đời gã người dằng dặc trong mộng mị, triền miên trong mộng mị, vất vả trong mộng mị kể cũng đáng thương mà cũng đáng trách làm sao! Gã người không nhận ra thông điệp mà thần ánh sáng nhắn gửi tự bao đời. Gã người dù muốn hay không cũng bỏ lại tất cả khi bước chân vào thế giới thần Hades, chỉ có chút thiện quả hay ác quả là thứ không rời bỏ gã người và những thứ ấy sẽ tiếp tục nảy nở cho ngày kế tiếp và đời tiếp theo.

Bình minh lại lên với những tia sáng mới, cây lá lại xanh thổi dưỡng khí vào đất trời. Gã người lại chạy đua với thần ánh sáng từ bình minh cho đến hoàng hôn. Nhờ chút thiện quả mà gã người hưởng được phút giây ngắn ngủi an vui trong tia sáng ban mai và rồi lại ngơ ngác hỏi “Hương quan hà xứ thị?” khi hoàng hôn ngã bóng. Câu hỏi muôn thuở, biết hỏi ai, ai hỏi bây giờ?

Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 03/26

* Câu thơ trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu (đời Đường)




hoa_mai_2

VỌNG XUÂN

Những cơn mưa sụt sùi đã chấm dứt, những trận bão giông quằn quật rồi cũng qua đi, những dòng nước xả hồ cuồn cuộn cũng đã vơi. Bầu trời tháng chạp trở lại trong xanh với vô vàn mây trắng lững lờ bay.

Bao đau thương mất mát lắng xuống, những con người tả tơi kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần dần nguôi ngoai…Mọi người tiếp tục cuộc mưu sinh. Tháng chạp lại về, trẻ già, nam nữ bộn bề với nhiều công việc chuẩn bị đón xuân sang.

Vườn mai sống sót qua mùa lũ đang được chăm sóc tỉa tót để một mai xuân sang lại tươi hoa thắm nhụy hiển hiện sắc vàng hân hoan

Ruộng vườn tan nát sau mấy bận xả hồ, xả đập nay mọi người ra sức vun bồi, cày cấy, gieo trồng để mùa xuân về có được bát cơm, có bánh chưng, bánh tét…

Mùa xuân xưa đã đến, mùa xuân này đang đến, mùa xuân sau sẽ đến. Người có khổ đau hay hạnh phúc thì xuân vẫn cứ là xuân. Xuân của đất trời và xuân cũng ở trong lòng người. Người vọng xuân, nuôi dưỡng sắc xuân từ muôn đời và sẽ mãi như thế. Giữa khổ đau vô vàn vẫn thấy “mùa xuân miên trường” dù phía trước hay phía sau. Còn vọng xuân là sống còn. Những thế lực xấu, tàn độc có thể hại người, hại nước non, hại thiên nhiên nhưng không thể nào diệt được vọng xuân, xuân vọng trong tâm thức con người.

“Mùa xuân ơi, ta nghe mùa xuân hát…”lời ca của con người hay lời của mùa xuân? Ta không phân biệt được, người có biết chăng? Tiếng xuân vọng trong nắng gió, thanh xuân trong nước chảy mây bay, hương xuân ẩn trong nhụy ủ hoa khai, vị xuân đượm ngọt ngào trong trái sai quả trĩu.  Mùa xuân biếc lá thắm cây. Xuân vô hình tướng vẫn chạm được vào cả thân tâm người. Pháp xuân tự nhiên như thế, ai cũng có thể cảm nhận được xuân, thọ hưởng xuân cho dù là ngu muội hay trí thức, bần hèn hay giàu sang. Pháp xuân chan hòa ai cũng có trong lòng dù hạng cùng đinh khố rách áo ôm hay hàng cực phẩm nhân gian. Pháp xuân xuyên suốt ba đời bàng bạc khắp mười phương. Bởi vậy người cực hiền hay kẻ thậm ác cũng đều có cơ hội “đắc” như nhau, chỉ phụ thuộc ở mức độ sâu cạn của tỉnh mê. Có lẽ vì vậy mà đức Phật mới bảo “ai cũng có Phật tánh” tức là ai cũng có thể thức tỉnh, giác ngộ và ngài còn nói “ai cũng có thể thành Phật” điều này cũng giống như ai cũng có thể “đắc” được pháp xuân.

Tháng chạp về, xuân đã ngấp nghé bên thềm mặc cho khí vị xuân bây giờ đã khác xuân xưa. Những lò rim mứt cổ truyền giảm đi rất nhiều, mùi thơm của nước đường sênh, của gừng không còn bay trong gió. Đời sống con người bây giờ khá hơn không còn cái cảnh chờ xuân đến để được mặc áo mới. Mọi vật, mọi việc ở thế gian này thay đổi không ngừng nghỉ, thay đổi trong từng phút giây…Ấy vậy mà đời lại có những con người, những băng nhóm cứ mãi khư khư không chịu thay đổi, mãi ôm giữ quyền lực và quyền lợi không chịu thức thời với thời cuộc đã đổi thay; đã thế lại còn ngu muội đại ngôn “muôn đời, sống mãi, đỉnh cao, vĩ đại…”. Thậm chí còn vô minh đến độ đặt băng nhóm đảng phái lên trên trước mùa xuân. Làm sao có thể được? làm sao cấm cố được thời gian? ấy là sự hoang tưởng vô minh đáng thương thay!

Xuân đến, xuân đi nhưng xuân vĩnh viễn  xuân. Người đến người đi người dù thông minh hay đần độn. Người vẫn là người, thông minh hay đần độn phải chăng chỉ là nghiệp, là nhân quả xoay vần? Người đến người đi, người thăng đọa chứ mùa xuân vẫn nguyên xuân như tự thuở nào.

Tháng chạp vào xuân ấy là cố quận. Đất trời ngoại phương mới giữa mùa đông. Vườn ta sáng nay nở đóa thủy tiên vàng rực rỡ, một đóa thủy tiên sớm lạc loài nhưng mang đầy đủ hương sắc dấu hiệu của mùa xuân phía trước, là vọng xuân của đất trời nhưng đâu dễ mấy ai hay.

Người rời xa cố quận, dù ra đi với bất cứ lý do gì cũng đều mang theo vọng xuân trong tâm tưởng. Làm sao xóa được cái hình ảnh ký ức xuân xưa với mai vàng đào đỏ, bánh chưng bánh tét, tà áo dài…làm sao xóa được ký ức trong tiềm thức âm thanh xuân rộn ràng với tràng pháo chuột lẹt đẹt, đì đùng bởi pháo đại, thì thùng tiếng trống xuân…

Tính từ mốc đầu công nguyên đến nay thì loài người đón được 2026 mùa xuân, nếu tính xa hơn nữa thì cũng cỡ 4000 hay 5000 ngàn mùa xuân… Những con số này vô cùng nhỏ nhoi so với dòng thời gian vô thủy vô chung, vũ trụ vô cùng tận…

Một kiếp người đón chừng 100 mùa xuân, con số tí ti so với vô số kiếp luân hồi. Thế mới biết xuân của đời người so với xuân của đất trời chẳng khác gì hạt bụi giọt sương giữa thiên nhiên bao la vô biên tế.

Mấy ngàn mùa xuân nhân loại có biết bao trận binh đao khói lửa. Con người truy sát tru diệt lẫn nhau. Những đế quốc lớn xâm lăng nước nhỏ, bao nhiêu quốc gia hình thành và diệt vong… nhưng mùa xuân vẫn nguyên xuân.

Xuân là mới mẻ, tươi trẻ nhưng có những con người, những thế lực cũ kỹ không sao tưởng được! Cũ kỹ vì sự tham lam, vì sự vô minh mà tự cuộn mình trong cái kén lợi quyền nên không thể cảm nhận được sức xuân tươi trẻ, sự đổi mới của vọng xuân, không hưởng được sắc xuân và càng không thể biết pháp xuân. Bọn họ đang tâm hủy hoại xuân thiên nhiên, phá hoại xuân con người. Bọn họ dùng quyền lực tàn phá mùa xuân, khói lửa đạn bom ngút trời, thịt nát xương tan, gây ra bao nhiêu thảm họa cho con người cũng như muôn loài và thiên nhiên. Có một điều là những kẻ xấu, những thế lực ác không biết rằng: người có thể giết, nước có thể diệt nhưng mùa xuân không thể diệt, vọng xuân không thể mất, pháp xuân vẫn hiển hiện trong trời đất mỗi độ mùa lên.

Mùa xuân vẫn vĩnh viễn với khí xuân tươi tắn, sắc xuân rạng rỡ, thanh xuân rộn ràng, hương xuân thoang thoảng, vị xuân ngọt ngào, xuân xúc chạm êm đềm, pháp xuân xuyên suốt ba đời bát ngát khắp mười phương.

Lãng Thanh

Ất Lăng thành, 0226



xuan di lac


NGÀY XUÂN VỚI
THIỆN PHÁP VÀ ÁC PHÁP

 

Mùa xuân trẩy hội, người người nô nức lên chùa lễ Phật đầu năm. Những tà áo dài thướt tha, hoa mai vàng rực rỡ, hoa đào thắm hồng hào, cây lá đâm chồi nảy lộc cớ sao lòng bâng khuâng có chút gì đó lợn cợn đầy nghi vấn mà không biết nói cùng ai. Dẫu có nói cũng chẳng có lời nào cho thao đáng.

Lồng đèn đỏ và các biểu tượng may mắn của Tàu giăng mắc khắp nơi, chùa hải ngoại, chùa quốc nội… nơi nào cũng thấy lồng đèn đỏ, tự dưng nhớ phim Tàu “Cao Lương Đỏ”, “Lồng đèn đỏ treo cao”… Đành rằng văn hóa có sự giao thoa, hơn nữa người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa, chính trị Trung Hoa nhiều ngàn năm nên... Tuy nhiên với chùa chiền, với những người có sức ảnh hưởng đến quần chúng và xã hội thì nên tiếp thu có lựa chọn, chứ cứ thấy “xanh xanh đỏ đỏ cho lũ nhỏ nó ham” mà đua theo thì còn gì bản sắc văn hóa riêng của mình!

May vẫn còn những ngôi chùa vốn in đậm dấu ấn của các vị chân tu tiếp tục độc hành đi theo con đường cao rộng của ngài thượng Tuệ đại Sỹ, vẫn giữ được nét văn hóa Việt, quan trọng hơn nữa là vẫn giữ vững chánh pháp trước cơn lốc kim tiền, danh văn lợi dưỡng. Những ngôi chùa này đơn sơ mộc mạc vốn như cái hồn dân tộc. Ngọn đèn chánh pháp leo lét cháy tỏa ánh sáng giữa đêm trường. Ánh sáng chánh pháp không bị bóp méo, biến dạng, màu mè theo cái lối “phù thịnh chẳng phù suy” của thói đòi.

Chánh pháp là ánh sáng, ánh sáng bình đẳng chiếu. Ánh sáng bình đẳng độ. Ánh sáng không phân biệt, vốn chan hòa nhưng không thể uốn cong để chui vào ngóc ngách khúc khủy. Ánh sáng không thể nhuộm màu để chìu lòng những thế lực chính trị thế tục. Ánh sáng càng không phân chia địch – ta, trí – ngu, sang – hèn, bên này – bên kia…Cảm thụ và thọ nhận được bao nhiêu lợi ích của ánh sang tùy thuộc vào chính con người chúng ta. Thanh tịnh một phần thì lợi ích một phần, càng thanh tịnh thì càng lợi ích lớn. Nếu đem lòng lợi dụng ánh sáng để phục vụ mục đích chính trị thế tục thì chẳng thể nhận được lợi ích từs ánh sáng chánh pháp. Ánh sáng chánh pháp vốn bình đẳng, thanh tịnh, tỉnh thức… không thể hư hoại, không thể phá vỡ hay trộm cắp được.

Mùa xuân lên chùa lễ Phật là chuyện bao đời nay, là nếp sống và văn hóa của dân tộc. Nào chỉ có tộc Việt, người Hàn, Hoa, Nhật, Thái, Miên, Lào… cũng thế, tuy nhiên thời điểm mùa xuân thì tùy quốc độ mà có sự khác biệt. Lên chùa lễ Phật em cầu gì? cầu sức khỏe, cầu phát tài? cầu thăng quan tiến chức? cầu gia đạo bình an? Vậy thì không được rồi em ơi! Phật và Bồ Tát không thể làm thỏa mãn những cái cầu này, việc này là việc của con người. Cầu Phật thế này thì không thấy được ánh sáng chánh pháp rồi! nhưng biết làm sao đây? Khi mà hầu hết mọi người đều cầu như thế! Chưa kể những việc hái lộc vặt sạch hoa lá quanh chùa, đốt nhang mù mịt như khói máy dầu phun ra, những cây nhang to như khúc củi, rồi những việc xin xăm, bói toán, cúng sao, giải hạn, phát lộc… như thế này thì mình tự cuộn mình trong cái kén, tự bọc mình trong cái vỏ vô minh mà từ chối nhận ánh sáng chánh pháp.

Việc này đã lâu, người đã mê, ngay cả các chùa cũng tích cực đẩy mạnh việc mê này! Thậm chí giờ có nhiều chùa tư, chùa quốc doanh biến thành cơ sở kinh doanh, buôn thần bán thánh, thương mại hóa đức tin. Cái lợi vật chất vô cùng to lớn, tiền bạc nhiều vô kể, quan gia ủng hộ hết mình. Những việc này đã che chắn ánh sáng chánh pháp, làm sai lệch đức tin, làm cho người mê càng mê hơn. Những việc này không khác gì đem viên bi ve chai bảo là ngọc châu. Ánh sáng chánh pháp không thể khởi dụng. Chùa không có ánh sáng chánh pháp là mối nguy to lớn, sự tai hại lâu dài về sau. Người càng mê, càng cuồng thì càng lạc lối.

Ngày xuân lên chùa lễ Phật, những ngôi chùa lộng lẫy vàng son, những pho tượng to lớn kỳ vĩ, chuông trống rền rang, sắc màu lòe loẹt, lồng đèn đỏ treo rợp trời…nhưng tuyệt nhiên không có ánh sáng chánh pháp. Những ông tăng vênh váo đi xe sang, xun xoe hầu cận quan gia, hỉ hả với những món tiền cúng dường to lớn, đăng đàn nói xàm…thì làm sao khêu được ngọn đèn chánh pháp! Mùa xuân hương hoa ngao ngạt, lòng người phơi phới nhưng ánh sáng chánh pháp bị che chắn thật tiếc lắm thay.

Mùa xuân lên chùa lễ Phật, ngày rằm, mùng một lên chùa lễ Phật…Ta thì thầm đọc bốn câu kinh Pháp Cú:” Chư ác mạc tác/chúng thiện phụng hành/tự tịnh kỳ ý/thị chư Phật giáo”. Ta cầu gì? Duy lòng thương cha nhớ mẹ nên mới cầu Phật gia hộ cha mẹ khỏe mạnh, an lạc, đời đời gặp ánh sáng chánh pháp. Cầu Phật thế này thỏa lòng thương cha nhớ mẹ cũng là để sóng từ trường tích cực lan tỏa, là để quay về nương tựa tam bảo.

Này em! Sự thật thì cầu không được mà không cầu cũng được khi phước đức mình có. Còn giả như vô phước, quá khứ không làm phước thiện thì giờ có cầu cách mấy cũng không được vì không thể nấu cát thành cơm, mài gạch thàng kiếng.

Này em! Không làm các điều ác, thế nào là ác? Với người thế gian thì đốt nhà, giết người, cướp của là ác, điều này dĩ nhiên rồi nhưng với nhà Phật thì không chỉ có thế. Nhà Phật dạy còn sâu hơn, rộng hơn: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, uống rượu, tham, sân, si, mạn, nghi… đều là ác cả. Ác pháp nhiều lắm, đôi khi có những việc mà người đời không cho là ác vì không nhìn thấy hậu quả xấu của nó. Họ lý luận việc ấy chẳng ảnh hưởng đến ai, chẳng hạn tôi làm ra tiền, tôi dùng tiền tôi để mua dâm, đánh bạc, uống rượu…đâu ảnh hưởng gì đến ai! Thật sự không phải vậy, ảnh hưởng nhiều người lắm chứ, ảnh hưởng đến chính bản thân mình. Mọi người sống trong xã hội vốn tác động qua lại lẫn nhau, việc ác hay việc thiện đều có ảnh hưởng liên đới với nhau, lan tỏa rộng ra vì thế không làm các điều ác là đem lại phước đức cho chính mình mà còn ảnh hưởng tốt đến xa gần. Tất cả những gì trái ngược với ngũ giới thập thiện đều là ác pháp!

Này em! Làm tất cả các điều lành, thế nào là thiện lành? Không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, tham, san, si, mạn, nghi… đều là thiện lành. Làm tất cả những việc đem lại an lạc cho chính mình và người là thiện lành. Làm tất cả những việc lợi người, lợi vật là lành. Làm tất cả những việc đem lại sự thanh tịnh là lành. Tất cả những suy nghĩ, nói năng, hành động nào mà đem lại lợi ích tinh thần hay vật chất cho con người và muôn loài thì là thiện lành. Các thiện pháp cũng nhiều vô số, một lời nói động viên, một hành động chìa tay ra trong lúc người khác khốn cùng đều đem lại an vui cho người và vật. Theo ánh sáng chánh pháp, khuếch trương ánh sáng chánh pháp, cổ vũ ánh sáng chánh pháp thì cực thiện lành, là tối thiện pháp. Mình thực hiện ngũ giới thập thiện ấy chính là làm tất cả điều lành vậy.

Này em! Giữ tâm ý trong sạch, thế nào là trong sạch? Tâm ý mình như ngựa hoang chạy rông ngoài đồng, như khỉ chuyền trên cành, luôn loạn động. Tâm ý mình và người hầu hết đều trụ vào những việc: tiền của, ăn uống, sắc dục, danh tiếng, ngủ nghỉ chơi bời. Tâm chúng ta trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc…Chúng ta toàn nghĩ và tìm cách thỏa mãn những ham muốn này, vì thế nên tâm nhiễm ô. Vì những món ngũ dục lục trần mà chúng ta khổ và mãi mãi luân hồi. Tâm Ý nhiễm ô thì khó có thể nghĩ về ánh sáng chánh pháp, khó có chỗ cho thanh tịnh, bình đẳng, tỉnh thức…Muốn thanh tịnh tâm ý thì phải không làm các điều ác, làm các điều lành, tức là ngũ giới thập thiện. Tuy nhiên vì chúng ta đã nhiễm ô lâu rồi nên không thể làm ngay một lúc được, chỉ có thể mỗi ngày một chút. Thanh tịnnh tâm ý cực khó chứ chẳng phải chơi, nói dễ làm khó, khó cũng phải làm. Trong thời buổi nhiễu nhương, đạo đời suy vi, xã hội kim tiền, con người mê đắm chủ nghĩa vật chất…Mình ở trong guồng quay này nhưng mình là con Phật thì cố gắng thanh tịnh từng tí, thạnh tịnh một phần thì lợi ích một phần. Giống như mình mỗi ngày thêm một chút nước tinh khiết vào tô nước muối, độ mặn sẽ từ từ giảm bớt, đến một ngày sẽ trở thành tô nước thanh khiết. Cái tâm nhiễm ô mà mỗi ngày chuyển hóa thì sẽ có lúc sáng ra. Trong nhà Phật cái tâm quan trọng lắm em ơi!Tâm thế nào thì ta nói và làm theo thế ấy, “Nhất thiết duy tâm tạo” là vậy! “tâm chủ tể, tâm tạo tác” là vậy!

Bài kinh Pháp Cú chỉ bốn câu mười sáu chữ dễ nhớ, dễ thuộc nhưng đây là bản hoài của chư Phật ba đời mười phương chứ không riêng gì đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đọc qua dễ là vậy nhưng để làm được là cả một quá trình dài lâu với sự cố gắng nỗ lực hết mình

Mùa xuân lên chùa lễ Phật, bất cứ lúc nào lên chùa lễ Phật, thậm chí lúc làm việc ta cũng cứ thì thầm bài kinh này.

Em ơi, hãy thì thầm cùng ta, hãy cố gắng dù chút chút: Không làm các điều ác, Làm tất cả các điều lành, giữ tâm ý trong sach, làm được chút nào hay chút đó, hãy luôn luôn ghi nhớ vậy nha em. Ta không cầu gì, chỉ cầu mọi người cùng thì thầm bài kinh này, cùng cố gắng thực hiện với khả năng của mình. Có vậy thì mùa xuân trọn vẹn đẹp. Ánh sáng chánh pháp sẽ soi sáng mùa xuân, soi sáng thế gian này.

Lãng Thanh

Ất Lăng thành, 0326

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/12/2021(Xem: 13299)
Từ xưa, thi ca là nguồn cảm hứng của bao văn nhân thi sĩ. Xúc cảnh sanh thơ, phơi bày những tâm sự, gởi gắm tất cả những tâm tình rạt rào chứa đựng những bi thiết, những hoạt cảnh của những xã hội đương thời mà tác giả hiện sống. Những cảm tác ấy, dệt thành đủ màu sắc hương vị. Nó xuất phát từ những tâm hồn cao thượng tự chứng, hay những tâm hồn bình thường mang nặng mặc cảm tự tôn, tự ty, hoặc bất mãn theo từng nếp nghĩ. Tất cả, đều tùy theo quan điểm của mỗi thi nhân. Song cho dù diễn tả dưới bất cứ dạng thức nào chăng nữa, tựu trung, cũng nhằm nói lên chiều hướng xây dựng xã hội, làm đẹp con người và cuộc đời. Mọi sắc thái hiện tượng của vũ trụ như: mây, nước, trăng, sao, núi non, chim kêu, suối chảy v.v…đều là những gợi cảnh nồng nàn mà thi nhân đã gởi lòng hòa điệu.
27/11/2021(Xem: 4722)
Những rộn ràng họp hội mấy giờ trước đã lắng xuống. Tiếng nói, giọng cười ai đó, đã tan vào hư không. Người thân, người sơ, từng gặp, chưa từng gặp, nhìn nhau chào mừng, nói đôi câu, rồi cuối cùng cũng vẫy tay tạm biệt, chia xa. Không còn ai. Trăng khuya soi rạng vườn sau. Những cánh hồng từ các bồn hoa vươn dậy như được tắm gội dưới ánh sáng dìu dịu, tịnh yên. Một mình ngắm hoa dưới trăng. Một mình ngắm trăng trên hoa. Bất chợt, trong một thoáng nhìn mờ ảo, ánh trăng như vỡ thành những bụi tuyết, lãng đãng rơi trên những cánh hoa dưới sương đêm lóng lánh[1].
25/11/2021(Xem: 16668)
1-Linh giác thường minh, xua tan màn hôn ám, dìu chúng sanh lên thuyền Bát Nhã -Bửu quang phổ diệu, chiếu khắp chốn trầm luân, dắt muôn loại hướng cõi Niết Bàn 2--Huyền Huệ ngời soi quét sạch mê lầm, thẳng qua bến giác -Quang Tâm tỏa chiếu xua tan tục luỵ, hoà nhập nguồn chơn 3--Thanh đức minh minh phổ chiếu khổ luân hồi giác ngạn -Tâm nhiên hạo hạo đồng quy chơn cảnh xuất mê đồ
15/11/2021(Xem: 8059)
Là người thâm tín Phật, cung kính phụng thờ Tam Bảo, thì luôn có một đức tin kiên cố rằng: Dù ở bất cứ thời gian nào, không gian nào vẫn luôn có chân thân các bậc thượng nhân hóa thân hành hoạt cứu nhân độ thế. Các Ngài luôn có mặt giữa cuộc đời để nâng đỡ chúng sanh vạn loại. Vững chải đức tin như thế nên mỗi khi về chùa Phi Lai (hoặc Phi Lai Hòa Thịnh hoặc Phi Lai Biên Hòa, tôi luôn thấy hình bóng chân nhân trưởng lão Tâm Nguyện – Thiện Tu -Thượng DIỆU Hạ TÂM hiện hữu mồn một ở đó. Tôi thấy rất rõ từng bước chân như hoa sen nở Ngài bước đi, như lắng nghe từng tiếng từng lời ngài đang dạy bảo, khuyên lơn, khuyến khích Phật tử chúng ta nuôi dưỡng tâm bồ đề mỗi ngày mỗi lớn hơn lên, từng ngày từng kiên cố hơn. Từ đó tôi thấy : Ngài như chưa từng đến nên Ngài cũng đã chẳng ra đi. Ngài là hiện thân bậc thạc đức “Tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng . Bất cứ lúc nào Ngài cũng đang có mặt, hiện trú nơi cả hai ngôi chùa Phi Lai Hòa Thịnh Phú Yên và Phi Lai TP Biên Hòa…
08/11/2021(Xem: 22285)
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh. Ông là một dược sĩ & Cao Học Dược, Cao Học Triết Học Tây Phương -nguyên giảng sư về các bộ môn Triết Học, Tâm Lý Học tại Đại Học Văn Khoa, Vạn Hạnh và Minh Đức. Ông đã xuất bản khoảng 11 tập thơ trong đó có dịch thơ Ả Rập và Thơ Thiền cùng một số sách nghiên cứu lịch sử và triết học. Hiền Như Bụt dày 444 trang xuất bản năm 2020, bao gồm một chương Tổng Quát và sáu chương với những chủ đề: Phật Pháp Trị Liệu Pháp, Đạo Bụt và Khoa Học Vật Lý, Bóng Phật Trong Văn Học, Tư Tưởng Tam Giáo, Đạo Bụt Canh Tân và Chuỗi Ngọc Kinh Phật.
06/11/2021(Xem: 27812)
Kinh Hoa Nghiêm là tên gọi tắt của bộ ‘Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh’ do Ngài Long Thọ Bồ tát viết ra vào thế kỷ thứ 2, tức khoảng 600 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt. Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có nghĩa là đóa hoa tuyệt đẹp, thanh khiết. Phần Hán tự đã được dịch ra từ thế kỷ thứ 5, dưới ba hệ thống Bát Nhã (40 quyển), Giác Hiền (60 quyển) và Nan Đà (80 quyển) . Nhập-Pháp-Giới (Gandavyuha) là phẩm thứ 39 trong số 40 phẩm, cũng là phẩm dài nhất, tiêu biểu cho giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm nói riêng và Phật giáo Đại thừa nói chung, diễn tả con đường cầu đạo của ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 52 vị Thiện Tri Thức dưới nhiều hình tướng, khởi đầu là ngài Văn Thù Sư Lợi, chư Thiên, Dạ thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Đức Phật Di Lặc..., và cuối cùng là Ngài Phổ Hiền.
06/11/2021(Xem: 14238)
Chép lời kinh mượn khuôn trăng làm giấy, Cõi diêm phù đất vẽ dấu chân xưa Đức ân Người sóng vỗ pháp âm đưa Quy thân mạng mười phương con đảnh lễ.
26/10/2021(Xem: 7086)
Nhìn chung, đại dịch đang dịu bớt tại Hoa Kỳ và quê nhà. Chưa bao giờ pháp ấn vô thường hiển lộ mãnh liệt như thời gian qua. Chưa bao giờ Khổ Đế hiển hiện minh bạch như thế, ngay trước mắt và ngay bên tai của mọi người đời thường. Có những người buổi sáng mới gặp, tới buổi chiều được tin họ đã nhập viện và không bao giờ có cơ hội gặp lại nữa. Cảm xúc đó đã được nhân loại trải nghiệm trên khắp thế giới, không riêng tại quốc độ nào. Bài viết này xin phép để nói một kinh nghiệm riêng (và có lẽ cũng là kinh nghiệm của rất nhiều người): đọc Kinh Phật trong mùa dịch, với cảm xúc rằng có thể đêm nay sẽ lìa đời. Do vậy, bài viết này cũng để Tạ Ơn Kinh Phật. Nơi đây chỉ là vài ý riêng, người viết hoàn toàn không có thẩm quyền gì về Phật học.
25/10/2021(Xem: 4076)
Mây qua trời. Có khi trắng, có khi đen. Có khi tụ, có khi tán. Ngưng tụ mà thực ra là chuyển động liên tục; tán thất mà thực không mất đi đâu. Vận hành tự tại, biến hóa vô số hình thù, rồi tan biến, rồi kết tụ trong một hình thể khác, hiện hữu nơi một không gian khác. Đến-đi cùng khắp, đông tây, nam bắc, phương trên hay phương dưới, không nơi nào mà không có mặt. Từ vô cùng quá khứ đến hiện tại và vô tận tương lai, trông như giống mà thực không giống, trông như cũ mà thực không cũ. Luôn mới mẻ tinh khôi trong từng giây phút. Đêm lẫn ngày, vẫn thường sinh-diệt, chuyển biến không ngừng. Tùy duyên ứng hiện, nơi đâu rồi cũng thuận hợp, chan hòa.
04/10/2021(Xem: 6382)
Trong những gì tôi được đọc và được nghe kể, hình như nhà thơ Bùi Giáng không còn tham sân si, hay nếu còn, thì rất là ít. Không rõ có ai chứng kiến lúc nào Bùi Giáng khởi tâm tham sân si hay không. Rất nhiều người đã thân cận, đã chứng kiến đời thường của nhà thơ họ Bùi và đều nhận thấy nhà thơ như là người của cõi khác, người bay trên mây, người lạc tới thế gian này, như dường không còn chút nào tham sân si; hay chỉ còn, nếu có, thì rất ít.