Khi Thầy Sai Chánh Pháp

12/03/202618:41(Xem: 1115)
Khi Thầy Sai Chánh Pháp


Phat thuyet phap 1a


Khi Thầy Sai Chánh Pháp

Nguyên Giác

Thỉnh thoảng, các mạng xã hội của cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước lại nổi lên sóng gió về chuyện các nhà sư nói sai Chánh pháp, hay sống không phù hợp với Chánh pháp. Chuyện đó bây giờ xảy ra thường hơn, tới nổi rất nhiều người trong chúng ta lại cố ý bỏ qua, hy vọng chuyện này sẽ sớm được quên. Tuy nhiên, khi bên cạnh nhà sư xuất hiện thêm một phụ nữ, chuyện lại tăng thêm một bậc sôi nổi để trở thành các phim bộ kiểu mới. Tình, tiền... Biết làm sao bây giờ? Không lẽ chúng ta cứ mãi lặp lại lời dạy rằng hãy y Pháp, chứ đừng y nhơn. Rằng hãy nương dựa vào Pháp, chứ đừng nương dựa theo người...

Đức Phật ngày xưa trong Kinh SN 47.9 cũng đã nói như thế. Không chỉ nói như thế, Đức Phật còn nói mạnh hơn nữa, rằng chúng sinh cũng đừng mong mỏi gì nơi Đức Phật nữa, nguyên văn rằng “chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta...” mà mỗi người hãy trở thành một hòn đảo tự thân. Thậm chí, Đức Phật nói mạnh hơn nữa, rằng Ngài cũng kêu gọi đừng “ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo...” Nghĩa là, Đức Phật xua hết mọi người ra xa, rằng đừng theo sát bên ngài, rằng hãy về góc rừng mà tu đi, rằng người cầm đầu chính là tự thân quý vị khi sống theo Chánh pháp, chứ không phải một ông thầy nào tự khoe đã tu tới tầng thiền thứ chín hay thứ mười chín...

Nghĩa là, Phật tử khi đến với một vị thầy chỉ nên nhằm để được học, hiểu và tu theo Chánh pháp. Trường hợp thấy vị thầy không giữ giới hay giảng sai Chánh pháp, thì Phật tử nên tránh xa họ. Các học giả Phật giáo chân chánh đã liên tục nói rằng đừng có ai níu theo vạt áo của một vị thầy nào đó bởi vì có thể bị thầy dẫn dụ vào những mê lộ chi đó.

Vậy mà thời này có rất nhiều nhà sư và cư sĩ tự cho mình là bậc giác ngộ, là vô thượng sư, là giáo chủ, là đại thiền sư để rồi dựng lập các giáo phái mới lạ. Trrong khi đó, cũng có những người mưu mô khai thác tiền, tình, và đủ thứ chuyện gian ác. Điều nguy hiểm nhất của các trò cửa quỷ nhà ma đó là: Chánh pháp bị đẩy lui vào các trang sách cổ, và hiển lộ trên sân khấu là các kịch sĩ mang mặt nạ tà kiến. Bi thảm là: những người tin vào các vị thầy nói sai, sống sai, và đi sai Chánh pháp đó biết bao giờ mới tỉnh ngộ được.

Đức Phật sống rất từ ái, không hề quan liêu, quan cách. Ngài luôn luôn nghĩ tới lợi ích cho chúng sinh trước. Chúng ta trích Kinh SN 47.9 qua bản dịch của Thầy Minh Châu nơi đây, sẽ thấy Đức Phật không muốn ai theo Đức Phật, mà chỉ muốn mọi người hãy theo Chánh pháp và hãy theo sống như hòn đảo chính mình, trích:

 

“...Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, không có than vãn. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Thật không tương xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành (jìvitasankhàra) và sống”. Rồi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống.....

....Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:

—Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.

—Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ānanda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ānanda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo Sư còn nắm tay. Này Ānanda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo, hay: Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ānanda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ānanda, Như Lai không có nghĩ rằng: “Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”, hay “Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta”, thời này Ānanda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? [...] Vậy này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác.... (1)

 

Có cách nào nhận ra một vị thầy dỏm, trong trường hợp thầy này học giỏi, thuộc nhiều kinh và thuyết pháp xuất sắc hay không? Có trường hợp như thế: trong Tích Truyện Pháp Cú số 19, kể rằng người học giả thuộc nhiều kinh, thuyết pháp xuất sắc mà không tu hành thì vẫn phải gọi là thầy dỏm. Kinh Pháp Cú 19, bản dịch Thầy Minh Châu là:

19- "Nếu người nói nhiều kinh,

Không hành trì, phóng dật;

Như kẻ chăn bò người,

Không phần Sa môn hạnh."

Truyện tích này kể rằng, ngày xưa, có hai vị sư xuất thân từ gia đình quý tộc, đều là bạn của nhau. Một người học thuộc lòng toàn bộ kinh điển Phật giáo và rất giỏi tụng đọc cũng như thuyết giảng kinh điển. Vị này chưa hề chứng quả gì vì không có thì giờ tu hành, nhưng đã làm thầy dạy cho năm trăm vị Tỳ kheo và trở thành người hướng dẫn cho mười tám nhóm Tỳ kheo. Ngược lại, vị Tỳ kheo kia sống ẩn dật, siêng năng và nhiệt thành tu tập Thiền quán, đã đạt được quả vị A La Hán.

Một lần nọ, khi vị Tỳ kheo thứ hai đến bày tỏ lòng tôn kính Đức Phật tại tu viện Jetavana, hai vị sư gặp nhau. Vị giảng sư nổi tiếng không biết rằng nhà sư bạn mình đã trở thành A La Hán, nên coi thường người kia, nghĩ rằng vị sư già ưa ẩn dật kia biết rất ít về kinh điển. Vì vậy, nhà sư học giả nghĩ đến việc đặt câu hỏi cho nhà sư kia, để làm cho người đó xấu hổ. Đức Phật biết về ý định bất thiện của vị học giả đó, và Ngài cũng biết rằng, do gây phiền hà cho một đệ tử cao quý như vậy, vị học giả ấy sẽ tái sinh vào cõi thấp hơn.

Vì vậy, vì lòng từ bi, Đức Phật đã đến thăm hai nhà sư để ngăn vị học giả kia chất vấn vị tỳ kheo còn lại. Chính Đức Phật đã chất vấn. Ngài đặt câu hỏi về thiền định và khổ hạnh cho vị sư học giả, và dù thuộc nhiều bộ kinh Nikaya nhưng vị sư học giả không thể trả lời được vì vị sư chưa thực hành những gì mình đã dạy. Trong khi đó, vị sư kém nổi tiếng kia, nhờ đã thực hành Chánh pháp và đạt được quả vị A La Hán nên đã trả lời tất cả các câu hỏi của Đức Phật.

Đức Phật khen ngợi người đã thực hành Chánh pháp, nhưng không một lời khen ngợi nào dành cho vị sư học giả. Các đệ tử không hiểu tại sao Đức Phật lại khen ngợi vị sư ngó vẻ quê mùa mà không khen ngợi vị thầy uyên bác của họ. Vì vậy, Đức Phật đã giải thích cho họ. Rằng học giả biết nhiều nhưng không thực hành theo Chánh pháp giống như người chăn bò, trông nom bò để kiếm tiền công, trong khi người thực hành theo Chánh pháp giống như người chủ được hưởng năm loại sản phẩm từ đàn bò.

Như thế, nhóm 500 người học trò của nhà sư học giả còn may mắn vì được tham dự Pháp hội mà trong đó Đức Phật đặt câu hỏi cho hai vị thầy --- một vị học mà không hành, và một vị tu hành thâm sâu cho dù không thuộc nhiều kinh điển. Chúng ta thời này không có may mắn dự các Pháp hội như thế. Cho nên, đành phải tự mình đặt các câu hỏi để tự đo lường các vị thầy của mình, xem các thầy có tu hành thực sự hay không, hay chỉ nói mà không tu, hay đã nói sai và tu cũng sai...

Chúng ta cũng nên nhớ rằng khi theo một vị thầy dạy sai, có thể cả thầy và trò chúng ta sẽ cùng rủ nhau vào địa ngục. Như trường hợp ngài Angulimala, khi còn là một thanh niên, đã chọn nhầm thầy, may sau được đích thân Đức Phật cứu. Khi ngài Angulimala còn tên là  Ahimsaka đã được vị thầy Bà La Môn dạy pháp thuật, dạy phải giết một ngàn người, chặt ngón tay của họ xâu chuỗi cho đủ một ngàn ngón tay rồi sẽ họp phép. Nếu không có cơ duyên Đức Phật cứu, thì con đường của cậu du sĩ Ahimsaka chắc chắn là theo bà La Môn ngoại đạo kia vào địa ngục vì sát nghiệp.

Hay như trường hợp Devadatta (Đề Bà Đạt Đa), tu tới tứ thiền, chứng đắc nhiều pháp thần thông, nhưng vì kiêu ngạo muốn làm giáo chủ nên đã phạm đủ thứ tội, kể cả tội phá hòa hợp tăng, và kết quả hiển lộ trước mắt nhiều người chứng kiến: đất sụp lở, mở ra hang tối, hút toàn thân Devadatta xuống địa ngục.

Bạn hãy suy nghĩ, khi một người thời nay gặp một vị sư tài giỏi như Devadatta, có nhiều pháp thần thông, hẳn là người đó sẽ tin nhầm lẫn rằng đó là một thánh tăng. Thời xưa cũng thế. Devadatta đã sử dụng sức mạnh siêu nhiên để thao túng Hoàng tử Ajatashatru, cuối cùng xúi giục hoàng tử giết cha là Vua Bimbisara.

Tội nặng cũng là phá hòa hợp tăng: Devadatta đã cố gắng tạo ra sự chia rẽ trong Tăng đoàn bằng cách dẫn dắt sai lạc những vị sư mới thọ giới chưa hoàn toàn hiểu rõ Phật pháp. Devadatta cũng từng cố gắng ám sát Đức Phật bằng cách lăn một tảng đá xuống núi, nhưng cuối cùng chỉ làm bị thương ngón chân của Đức Phật.

Kinh Phật cảnh báo rằng một người thầy bất thiện hoặc ngu dốt giống như một "thuyền trưởng tồi" hoặc một "con rắn độc". Nếu một người thầy không thể truyền đạt Phật pháp đúng đắn, họ sẽ "cắn" học trò của mình bằng những lời khuyên sai lầm, dẫn cả bản thân và những người theo họ đến đau khổ và "cái chết mà không hiểu được Phật pháp".

Nói ngắn gọn, người tu chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức, luôn luôn nương dựa vào Chánh pháp, tự mình là hòn đảo tự thân. Chúng ta nên nhìn vị thầy như người dạy chúng ta bước vào Chánh pháp, nhưng hãy luôn luôn cảnh giác rằng vị thầy mình có thể đang phạm giới, có thể chưa chịu tinh tấn tu hành, có thể chưa hiểu rõ kinh điển, có thể đang dạy sai Chánh pháp, có thể đang muốn dẫn chúng ta vào một phim bộ tham sân si nào đó...

Hãy nhớ, Đức Phật dặn dò rất kỹ lưỡng, rằng chúng sinh đừng mong mỏi gì nơi Đức Phật nữa, mà “hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác...

Chúng ta yêu thương thầy như yêu thương cha mẹ... nhưng hãy luôn luôn nhớ lời Đức Phật dạy rằng “đừng mong mỏi gì nơi Đức Phật nữa” huống gì là mong mỏi nơi các vị thầy. Nếu vị thầy không giữ được chức năng ngón tay chỉ trăng, chúng ta hãy ngưng lại, chớ đi theo, và đừng có nắm theo vạt áo thầy nữa.

 

GHI CHÚ:

(1) Kinh SN 47.9: https://suttacentral.net/sn47.9/vi/minh_chau

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/11/2017(Xem: 40266)
Cách Đọc Tên và Phát Âm 23 Chữ Cái, Hiện nay tại Việt Nam cách gọi tên và cách phát âm 23 mẫu tự tiếng Việt vô cùng lộn xộn. Thí dụ: Trên chương trình Thời Sự Quốc Phòng, thiết vận xa M.113 có cô đọc: em mờ 113. Có cô đọc mờ 113. -Chữ N có nơi đọc: en nờ (âm nờ hơi nhẹ). Có nơi đọc nờ.
12/10/2017(Xem: 21689)
Viết về anh Bùi Giáng là một việc làm cần lòng can đảm. Thậm chí cần rất nhiều can đảm, có khi phải nói nôm na là liều mạng mới dám viết. Những người có thời gần gũi và thương mến anh ai cũng có lần cảm nhận điều đó. Anh thích người ta đọc sách anh, thưởng thức thơ văn anh, nghiền ngẫm tư tưởng của anh. Nhưng ngược lại anh hay nổi nóng nếu ai hiểu sai ý anh. Anh rất giận khi có ai viết sai một chữ, kể cả sai một dấu phẩy, những câu thơ của anh. Có rất nhiều khi anh cho đó là một sự xuyên tạc có hậu ý. Dù sao, anh và tôi đã từng sống chung gần ba năm trời ở Vạn Hạnh chả lẽ không có gì để nói, lâu nay tuy rất muốn viết nhưng tôi vẫn cố tránh, cho đến khi có người nhắc.
13/08/2017(Xem: 9858)
Cách đây ít lâu, một nhóm Phật tử tại Hà Nội sang Đài Loan đảnh lễ Pháp sư Tịnh Không, được ngài ban cho một bộ sách gồm 7 quyển, ân cần dặn dò nên tìm người dịch sang tiếng Việt để lưu hành rộng rãi. Bộ sách ấy có tên là Thánh học căn chi căn (聖學根之根), với ý nghĩa là những nền tảng căn bản nhất trong cái học được các bậc thánh nhân từ xưa truyền lại. Sách do cư sĩ Nhân Duyên Sinh tuyển soạn từ kinh sách của cả Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo, nhằm mục đích hình thành một bộ sách giáo khoa thích hợp và bổ ích nhất cho các em ở độ tuổi thiếu niên, nhi đồng.
30/07/2017(Xem: 8212)
Có cách nào nói ngắn gọn về tuyển tập “Đạo Phật: Đất Nước, Cuộc Sống & Tâm Linh” của tác giả Đào Văn Bình? Hình như không thể nói kiểu đơn giản cho dễ nhớ, vì sức quyến rũ rất lạ kỳ; nơi đây độc giả khi mới đọc qua vài trang là sẽ được thu hút vào một thế giới rất riêng –văn phong rất cư sĩ như một Bồ tát vào đời, rất yêu nước đằm thắm để quên những nỗi đau tư riêng, rất thâm sâu như nhìn suốt hết những uẩn khuất trong lòng người, và rất ẩn mật trong một cõi tâm linh ẩn sĩ.
24/07/2017(Xem: 9062)
Hải Vân hải môn lữ thứ là bài thơ của vua Lê Thánh Tông được sáng tác trong chiến dịch Bình Chiêm vĩ đại năm 1470 khi nhà vua kéo quân ngang qua vịnh Đà Nẵng. Lê Thánh Tông (1442 -1497 ) tên thật là Tư Thành, lên ngôi vua năm 1460, mười năm đầu lấy niên hiệu là Quang Thuận, sau đổi niên hiệu là Hồng Đức. Ba mươi tám năm trị vì, với trí tuệ sáng suốt và đức độ của mình ông đã đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển đất nước trên nhiều lĩnh vực : chính trị, quân sự, kinh tế ,giáo dục, văn học, nghệ thuật v.v..và dựng lên một vương triều thịnh vượng nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.
20/07/2017(Xem: 40666)
Do duyên lành thù thắng, được Chư Tôn Đức cùng Thiện-hữu Tri-thức gần xa hết lòng hỗ trợ và khuyến khích nên từ ngày 9. 9. 2009, chúng con đã khởi soạn “Thi hóa TRƯỜNG BỘ KINH” gồm 3 Tập, chuyển thể thơ tất cả 34 Kinh, đã được hoàn tất vào ngày 15. 7. 2011. Ba Tập đã lần lượt được ấn hành do Nhà Xuất Bản Phương Đông (Saigon, Việt Nam).
11/07/2017(Xem: 8644)
Vần-Âm Việt Ngữ - Tài liệu hổ trợ học tiếng Việt qua Thơ-Văn_Ngọc - Quân
04/07/2017(Xem: 8311)
Cầm quyển sách Khảo Luận dày 370 trang của Hòa Thượng Thích Phước An viết trong nhiều năm tại Việt Nam, và tháng 11 năm 2016 vừa rồi nhà Xuất Bản Hồng Đức đã cho in ấn phát hành. Sách do Đạo hữu Nguyên Trí mang tay qua Đức và có cả chữ ký của Tác giả nữa. Xin vô vàn niệm ân Hòa Thượng. Lâu nay chỉ được nghe danh chứ chưa được diện kiến, Hòa Thượng lại sinh cùng năm 1949 với tôi và hiện nay Ngài đang ở tại chùa Hải Đức, Nha Trang. Đây cũng là một niềm vui, vì mùa An Cư Kiết Hạ năm 2017 nầy tôi có nhiều thời gian để đọc kinh sách, vì lẽ sách viết năm nay đã xong và các Phật tử đang hoàn thiện khâu đánh máy cho quyển “Phóng tác lịch sử tiểu thuyết về cuối Lý đầu Trần và mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa”. Sang năm 2018 quý vị sẽ có sách nầy để đọc.
28/06/2017(Xem: 5917)
Con đường nhỏ từ nhà bước ra vườn trước. Từ vườn trước lại có con đường nhỏ không tên dẫn ra đường lớn. Từ đường lớn của khu vực dẫn đến con đường lớn hơn. Rồi từ con đường lớn hơn lại dẫn vào con đường chính của thành phố. Những con đường không tên. Những con đường có tên. Nhiều vô kể. Một đời loanh quanh, đi tới đi lui những con đường. Vẫn những con đường ấy, nhưng mỗi ngày, mỗi giờ, xe qua lại khác nhau. Những người lái xe cũng khác nhau. Xe cũ, xe mới. Người cũ, người mới. Và tuổi già, đến nhanh như xe vọt trên xa lộ. Xe cộ mười năm, người trăm năm.
22/06/2017(Xem: 5419)
Với đời giúp đỡ yêu thương Là con gián tiếp Cúng Dường Như Lai ( Thơ của Như Nhiên) Với người con mở vòng tay Không gây thù oán đắng cay cõi lòng .