Hơi thở của Từ Bi

12/01/202618:52(Xem: 3472)
Hơi thở của Từ Bi

thien toa

Hơi thở của Từ Bi

( CẢM TÁC TỪ NHỮNG LỜI KHAI THỊ CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA QUA SHORT-VIDEO TRÊN YOUTUBE NGÀY 9/1/2026 )



Mỗi sáng người viết quả thật được hữu duyên  được dành ra 1/2 giờ ghi chép lại những lời khai thị hữu ích của các hiền nhân theo trình độ tu tập của mình, và đã dùng những lời khai thị này ghi vào quyển Cẩm nang cho Resolution 2026 , vì rất tâm đắc câu “Cuộc sống là những trải nghiệm được chia sẻ “ nên kính xin được ghi lại toàn bộ những lời khai thị của Đức Ngài Lạt Ma đã được phát sóng như sau :
-“Mỗi lần thấy ai đau khổ , ta đặt tay lên ngực và ước nguyện mong rằng họ không còn khổ
-Mỗi lần thấy ai lầm lỗi, hãy biết họ đang khổ trước khi là người khác khổ
-Mỗi lần thấy ai sân giận , hãy biết họ đang đốt chính mình
Đó là cách độ tha tự nhiên nhất,

Ta không cần nói đạo lý , chỉ cần ta không bỏ trái tim của mình, ta không cần chứng minh ta TU, không cần ai CÔNG NHẬN , không cần ai KHEN, chỉ cần một người nào đó trong đời được nhẹ đi một chút vì ta có mặt . Đó là Bồ tát hạnh 

Đó là một cánh cửa vừa mở ra trong tầng sâu của tâm thức. Từ đấy hạt giống Bồ Tát trong ta đã nứt mầm. Nó sẽ lớn lên không phải khi ta CỐ TU, mà trong từng khoảnh khắc trái tim rất phàm này đang hoạt động : khi ta nói chuyện, khi ta đi chợ, khi ta rửa bát, khi ta nhìn một người đang đau khổ mà không biết nói gì .

Ở một nơi rất đời, Bồ đề tâm ngời sáng tỏ , không cần màu sắc, không cần siêu phàm, không cần ánh hào quang, không cần thần lực rực rỡ.
Một ánh nhìn hiểu , cũng là cứu độ .
Một nụ cười hiền cũng là cứu độ .
Một im lặng không phán xét cũng là cứu độ!
Đó là con đường của những người không rời đời để tìm Đạo mà chiếu Đạo ngay trong đời, như nước ngầm thấm mịn trong lòng đất không ai thấy, nhưng nhờ đó mà làm cho cả cánh rừng xinh tươi.
Ta không cần trở thành Bồ Tát, chỉ cần làm cho trái tim mềm, và đừng cho phép thế gian làm cho nó cứng lại.  Mềm không phải là yếu, mềm là không gãy, khó bị bẻ gãy, MỘT PHÁP HÀNH RẤT NHỎ NHƯNG RẤT SÂU.
Khi ta gặp một người bất thiện , nói năng nặng lời, ta không cần giảng giải, không cần chỉnh sửa, không cần dạy Đạo. Ta chỉ cần thở nhẹ một hơi trong tâm, ta hiểu người này đang đau khổ là đủ.
Ta không cần thêm gì nữa . Đó là Từ Bi đã vận hành ….”
( hết trích đoạn )
Lại nhớ đến câu của triết gia tài nhân Phạm Công Thiện :
“ Mười năm qua gió thổi đồi Tây 
Ta long đong theo bóng chân gầy” 
có người nói đây là một câu thú nhận rất thực về cách Tu của Ông
Và nhớ lời của H T thiền sư Thích Nhất Hạnh: "Hạnh phúc là khi chúng ta được là chính mình. Chúng ta không cần phải được người khác chấp nhận, chúng ta chỉ cần chấp nhận chính mình."

Do vậy làm sao mà chúng ta luôn giữ được sự kính trọng với Đạo và sự bình an trong tâm, thì đó là hành động dũng cảm nhất!
Như vậy phải chăng “Từ bi không làm ta tan rã; nó cho phép ta hiện diện trọn vẹn, không vay mượn.”? 



Hơi thở của Từ Bi
Khi gặp một lời nặng,
ta không cần dựng một lập luận,
không cần thắng một cuộc tranh,
không cần chỉnh sửa ai dã sai lầm
Ta chỉ lùi lại nửa bước trong tâm,
Thở vào thật khẽ,
và nhìn ra điều
đang ẩn phía sau âm thanh kia:
một nỗi đau chưa được ôm ấp.
Ngay khoảnh khắc ấy,
cái tôi thôi cầm gươm,
trí óc thôi phán xét,
và lòng từ bi bắt đầu
làm việc trong thinh lặng trùm khắp
Không phải bằng lời dạy,
mà bằng sự không thêm gì nữa.
Không phản ứng,
không bỏ chạy,
không cao hơn ai.
Chỉ có sự hiểu:
“người đang làm ta đau,
chính là người đang đau khổ miệt mài
Và thế là đủ.
Không phải để họ thay đổi,
mà để ta không đánh mất mình.
Có một thứ khiến người ta gầy đi,
khi Từ bi phát sinh
vì nó sống nhờ ánh sáng của kẻ khác,
đi bằng đôi chân vay mượn,
và gọi sự dựa dẫm là khiêm hạ phong cách
 
Cố gắng từ bi” là một nghịch lý tinh vi
Từ bi không sinh ra từ nỗ lực,
vì nỗ lực luôn có cái tôi đứng phía sau vì
“Tôi phải bao dung hơn, không được giận
phải hiểu người kia “
Điều này nghe đạo đức,
nhưng sâu bên trong là căng thẳng.
Vì khi còn phải “cố”,
từ bi vẫn chưa phải là từ bi,
mà đó chỉ là kỷ luật đạo đức.j
Và khi
không cần ai để bám,
không cần bóng để theo,
cũng không cần được nhìn nhận là tốt.
Đó mới là từ bi thật
Từ bi không long đong
là khi ta thôi dùng Đạo làm chỗ trú,
mà để Đạo thở cùng thân tâm này,
ngay nơi yếu đuối,
ngay nơi không anh hùng.
Nó bắt đầu
khi ta đứng yên được trong chính mình,
thấy rõ nỗi sợ bị bỏ rơi,
thấy rõ thói quen nương tựa,
và không tự khinh mình vì điều đó.
Từ đây,
ta có thể bước đi chậm,
nhưng mỗi bước là của ta.
Không cần chứng minh.
Không bóng.
Không gió.!
Kính trân trọng được chia sẻ những trải nghiệm mỗi khi nghe lời khai thị và sau đó suy ngẫm đến những gì được đọc và được nghe
 Huệ Hương
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/10/2010(Xem: 5890)
Tiểu sử cho biết rằng, vào năm 1542 sau khi dâng sớ lên vương triều Mạc đòi chém 18 kẻ lộng thần, nhưng không được vua Mạc bấy giờ là Mạc Phúc Hải chấp thuận. Nguyễn Bỉnh Khiêm liền cáo quan về lại quê quán ở làng Trung Am. Nay là huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng. Dù thất bại ở triều đình không thực hiện được hoài bão như dự tính lúc ban đầu: Dân giai thức mục quan tân chính
30/10/2010(Xem: 9366)
Như tôi cũng đã thưa rồi, hiếm ai dành nhiều thời gian để nhớ về mẹ như tôi. Chuyện gì buồn vui cũng là cái cớ để tôi nhớ về mẹ bằng tất cả tim óc. Tôi đã nhớ mẹ qua bất cứ hình ảnh nào của các bậc cha mẹ trong đời mà tôi quen biết, trong giao thiệp hay chỉ nhìn thấy trên phim ảnh sách báo... Có điều là không ít hình ảnh trong số đó cứ khiến tôi đau đáu một nỗi riêng không chịu thấu: 1. Họ là những bậc cha mẹ với tuổi đời chưa bao nhiêu nhưng đã bắt đầu quên mất tuổi trẻ của mình cho đứa con đầu lòng. Một tuổi trẻ tất bật áo cơm, không có rong chơi, không có ngơi nghỉ, không có thời gian riêng tư, dẹp luôn những không gian độc lập để sống như mình vẫn ao ước thời chớm lớn. Họ Mất hết cho cái mà họ cho là Được – đó chính là đứa con! Nhìn họ tôi nhớ mẹ!
28/10/2010(Xem: 5199)
ù bây giờ đã qua hết những ngày tất tả ngược xuôi lo chạy gạo bữa đói bữa no, lăn lóc chợ trời nhục nhã ê chề tấm thân; những ngày dầm mưa dãi nắng lặn lội đi thăm nuôi nhưng những kỷ niệm buồn sâu thẳm vẫn còn đậm nét trong lòng tôi mãi mãi mỗi độ tháng tư về. Sau khi hai đứa con ra đi được hai ngày, tôi được tin chuyến tàu bị bể. Tôi vừa bàng hoàng vừa cầu xin đó không phải là sự thật, nếu quả đúng như vậy liệu tôi có còn đủ sức chịu đựng hay không vì chồng tôi đang còn ở trong trại cải tạo. Nóng ruột quá, tôi bèn rủ một em học trò cũ lên nhà bà chủ tàu để dò hỏi tin tức. Khi đi thì hăng hái như vậy nhưng gần đến ngõ rẽ đi vào nhà, tôi không còn can đảm tiếp tục bước nữa. Tôi ngồi lại một mình dưới gốc cây vừa niệm Phật vừa cầu xin, mắt không rời theo dõi vào con ngõ sâu hun hút đó. Càng chờ ruột gan càng nóng như lửa đốt, không chịu nổi nữa tôi đi liều vào. Vừa đến nơi hai chân tôi đã muốn khuỵu xuống, một bầu không khí im lặng nặng nề, hai người ngồi như 2 pho tượng; sau đó em h
21/10/2010(Xem: 19010)
Bướm bay vườn cải hoa vàng , Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng. Đứng yên ngoài hàng dậu Em mỉm nụ nhiệm mầu Lặng nhìn em kinh ngạc Vừa thoáng nghe em hát Lời ca em thiên thâu
17/10/2010(Xem: 8005)
Tây Du Ký tiêu biểu cho tiểu thuyết chương hồi bình dân Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt xã hội các dân tộc Á Châu. Không những nó đã có mặt từ lâu trong khu vực văn hóa chữ Hán (Trung, Đài, Hàn, Việt, Nhật) mà từ cuối thế kỷ 19, qua các bản tuồng các gánh hát lưu diễn và văn dịch, Tây Du Ký (TDK) đã theo ngọn gió mùa và quang thúng Hoa Kiều đến Thái, Mã Lai, In-đô-nê-xia và các nơi khác trên thế giới. Âu Mỹ cũng đánh giá cao TDK, bằng cớ là Pháp đã cho in bản dịch TDK Le Pèlerin vers l’Ouest trong tuyển tập Pléiade trên giấy quyến và học giả A. Waley đã dịch TDK ra Anh ngữ từ lâu ( Monkey, by Wu Ch’Êng-Ên, Allen & Unwin, London, 1942). Ngoài ra, việc so sánh Tây Du Ký2 và tác phẩm Tây Phương The Pilgrim’s Progress (Thiên Lộ Lịch Trình) cũng là một đề tài thú vị cho người nghiên cứu văn học đối chiếu.
08/10/2010(Xem: 23409)
Phật nói : Lấy Tâm làm Tông, lấy không cửa làm cửa Pháp. Đã không cửa làm sao đi qua ? Há chẳng nghe nói : “Từ cửa vào không phải là đồ quý trong nhà. Do duyên mà được, trước thì thành, sau thì hoại.” Nói như thế giống như không gió mà dậy sóng, khoét thịt lành làm thành vết thương. Huống hồ, chấp vào câu nói để tìm giải thích như khua gậy đánh trăng, gãi chân ngứa ngoài da giầy, có ăn nhằm gì ? Mùa hạ năm Thiệu Định, Mậu Tý, tại chùa Long Tường huyện Đông Gia, Huệ Khai là Thủ Chúng nhân chư tăng thỉnh ích bèn lấy công án của người xưa làm viên ngói gõ cửa, tùy cơ chỉ dẫn người học. Thoạt tiên không xếp đặt trước sau, cộng được 48 tắc gọi chung là “Cửa không cửa”. Nếu là kẻ dõng mãnh, không kể nguy vong, một dao vào thẳng, Na Tra tám tay giữ không được. Tây Thiên bốn bẩy (4x7=28) vị, Đông Độ hai ba (2x3=6) vị chỉ đành ngóng gió xin tha mạng. Nếu còn chần chờ thì giống như nhìn người cưỡi ngựa sau song cửa, chớp mắt đã vượt qua.
08/10/2010(Xem: 5931)
Tiểu sử chép: “Năm 19 tuổi Chân Nguyên đọc quyển Thực Lục sự tích Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang,chợt tỉnh ngộ mà nói rằng, đến như cổ nhân ngày xưa, dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, huống gì mình chỉ là một anh học trò”. Bèn phát nguyện đi tu. Thế là cũng như Thiền sư Huyền Quang, Chân Nguyên cũng leo lên núi Yên Tử để thực hiện chí nguyện xuất gia học đạo của mình. Và cũng giống như Huyền Quang, Chân Nguyên cũng đã viết Thiền tịch phú khi Chân Nguyên còn đang làm trụ trì tại chùa Long Động trên núi Yên Tử.
05/10/2010(Xem: 27735)
Trải vách quế gió vàng hiu hắt, Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng, Oán chi những khách tiêu phòng, Mà xui phận bạc nằm trong má đào.
01/10/2010(Xem: 23413)
Có, không chỉ một mà thôi, Tử, sinh đợt sóng chuyển nhồi tạo ra. Trăng nay, trăng cũng đêm qua, Hoa cười năm mới cũng hoa năm rồi. Ba sinh, đuốc trước gió mồi, Tuần hoàn chín cõi, kiến ngồi cối xay. Tới nơi cứu cánh sao đây ? Siêu nhiên tuệ giác, vẹn đầy “Sa ha” (Thích Tâm Châu dịch )
01/10/2010(Xem: 7694)
Là con người, ai cũng có đủ tính tốt và xấu, nên thực tế rất khó nhận định về tính cách của chính mình, của một người khác, huống chi là nói về tính cách của cả một dân tộc. Tuy vấn đề phức tạp và đôi khi mâu thuẫn, nhưng tôi cũng xin cố gắng đưa ra một số nét tiêu biểu của người Nhật.