Tối Thiểu của Lòng Tri Ân

24/08/202517:35(Xem: 2831)
Tối Thiểu của Lòng Tri Ân

hoa sen-qd

TỐI THIỂU
CỦA LÒNG TRI ÂN

Bút ký văn hóa của Hương Trí




Giới thiệu:
Có những ân tình không thể trả bằng tiền bạc, mà chỉ có thể đáp lại bằng sự chân thành, thân thiện và tự nhiên. Câu chuyện nhỏ dưới đây kể về một kỷ niệm với một nhà nghiên cứu trẻ, để lại cho người viết bài học sâu sắc: tri ân không nhất thiết phải là món quà lớn lao, mà có khi chỉ là một cử chỉ giản dị
, như nhặt lấy “vỏ và hạt hoa quả”, nhưng chứa đựng cả tấm lòng tri âm.

Cuộc đời có những món nợ không thể trả bằng tiền tài vật chất, vì nó không thuộc về “cân đo, đong, đếm”. Đó là món nợ ân tình.

Cậu ấy nhớ mãi lần mang bản thảo khá dày đến gặp Đại đức Thích Hải Hạnh- một học giả Hán Nôm, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm và Hán cổ. Trong căn phòng làm việc nhỏ, Thầy tiếp cậu bằng sự niềm nở, chân tình-điều hiếm thấy nơi một học giả trẻ. Từ hôm ấy, Thầy miệt mài gọt giũa từng câu từng chữ, sắp xếp lại và đặt tên cho từng chương tiết, biến bản thảo vụng về thành một tập sách chuẩn chỉnh, hài hòa-như khối đá thô được gọt giũa trở nên bóng láng-cả về nội dung lẫn hình thức.

Một thời gian ngắn sau, cậu nghĩ đến việc phải đền đáp công đức phí, một khoản xứng đáng cho công sức và trí tuệ ấy. Nhưng Thầy chỉ lắc đầu, mỉm cười: “Chính tôi cũng học được nhiều điều từ bản thảo này, thế là đủ rồi.”

Cậu kiên trì nhiều lần, từ phong bì trang trọng đến lời đề nghị cùng gánh chi phí in ấn sách Thầy, thậm chí còn khẩn khoản xin Thầy nhận để chuyển cho các quỹ từ thiện. Nhưng tất cả đều bị từ chối. Cuối cùng, chỉ có một gói quà nhỏ- ít rong biển đã chế biến sẵn-là Thầy hoan hỷ nhận lấy, như để không phụ tấm lòng thành. Điều khiến cậu kính nể là Thầy không từ chối phong bì bằng sự cứng rắn, lạnh lùng, hay bằng ngôn ngữ cơ thể quyết liệt; mà bằng một nụ cười hiền hòa, vài lời nói điềm đạm, chân tình. Chính sự nhẹ nhàng ấy khiến cậu lặng lẽ gập tay, không còn lời nài nỉ.

Hôm cuối cùng, khi chuẩn bị ra về, ánh mắt cậu chợt dừng lại ở một mảnh vỏ trái cây nằm khiêm tốn trên góc bàn vi tính-dấu vết của bữa ăn tinh gọn, tạm bợ trong giờ làm việc. Trong khoảnh khắc ấy, cậu chợt hiểu ra: có những điều giá trị hơn cả tiền bạc. Cậu bước đến, khẽ nói: “Để con dọn thay Thầy.”

Thầy thoáng tròn mắt, định ngăn tay cậu lại. Một cử chỉ nhỏ bé mà có lẽ suốt đời Thầy chưa từng trải qua từ người khác. “Không cần đâu…” -Thầy lên tiếng, nhưng cậu đã nhanh nhảu vơ lấy mảnh vỏ ấy trong tay. Lần đầu tiên, cậu thấy nụ cười của Thầy rạng rỡ và hiền từ đến thế.

Trên đường về, cậu lặng lẽ nghĩ: tri ân không phải là sự tính toán cân xứng, mà là biểu hiện của tấm lòng chân thành trong những điều giản dị nhất. Mảnh vỏ trái cây ấy, với người khác chỉ là rác bỏ đi, dính bẩn tay; nhưng với cậu, nó lại trở thành nhịp cầu tri âm.

Người xưa nói: “Hữu ân tất báo.” Nhưng báo đáp bằng cách nào, trong tình huống nào, mới là điều quan trọng. Có khi một nghĩa cử nhỏ lại quý hơn muôn vàng. Có khi sự cung kính đúng mực còn nặng hơn muôn lời cảm tạ khuôn sáo.

Tri ân, đôi khi, không cần phô trương hay những món quà vật chất to tát. Chỉ cần một hành động giản dị, thân thiện, chân thành, đúng lúc và hợp cảnh, cũng đủ để trở thành ngọn gió hiu hiu cuối ngày, đến từ tốn mà thấm sâu vào lòng người. Việc nhặt nhạnh vài mẩu rác nhỏ tưởng như vô nghĩa, lại đủ sức gợi lên đạo lý nhân sinh: tri ân là biết trân trọng và thể hiện từng chút nghĩa tình, cho dù nhỏ nhất. Và chính những điều giản đơn ấy mới làm nên vẻ đẹp lặng lẽ mà bền lâu của cuộc đời. Theo cậu, có thể nói, điều đó ít nhất cũng là thể hiện sự “ tối thiểu của lòng tri ân”.

Qua ân tình và nghĩa cử ứng cơ tiếp vật của Đại đức Thích Hải Hạnh, cậu càng thấm thía sâu sắc lời cổ nhân:“Tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tợ thiên kim.”

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/10/2010(Xem: 5346)
ù bây giờ đã qua hết những ngày tất tả ngược xuôi lo chạy gạo bữa đói bữa no, lăn lóc chợ trời nhục nhã ê chề tấm thân; những ngày dầm mưa dãi nắng lặn lội đi thăm nuôi nhưng những kỷ niệm buồn sâu thẳm vẫn còn đậm nét trong lòng tôi mãi mãi mỗi độ tháng tư về. Sau khi hai đứa con ra đi được hai ngày, tôi được tin chuyến tàu bị bể. Tôi vừa bàng hoàng vừa cầu xin đó không phải là sự thật, nếu quả đúng như vậy liệu tôi có còn đủ sức chịu đựng hay không vì chồng tôi đang còn ở trong trại cải tạo. Nóng ruột quá, tôi bèn rủ một em học trò cũ lên nhà bà chủ tàu để dò hỏi tin tức. Khi đi thì hăng hái như vậy nhưng gần đến ngõ rẽ đi vào nhà, tôi không còn can đảm tiếp tục bước nữa. Tôi ngồi lại một mình dưới gốc cây vừa niệm Phật vừa cầu xin, mắt không rời theo dõi vào con ngõ sâu hun hút đó. Càng chờ ruột gan càng nóng như lửa đốt, không chịu nổi nữa tôi đi liều vào. Vừa đến nơi hai chân tôi đã muốn khuỵu xuống, một bầu không khí im lặng nặng nề, hai người ngồi như 2 pho tượng; sau đó em h
21/10/2010(Xem: 19835)
Bướm bay vườn cải hoa vàng , Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng. Đứng yên ngoài hàng dậu Em mỉm nụ nhiệm mầu Lặng nhìn em kinh ngạc Vừa thoáng nghe em hát Lời ca em thiên thâu
17/10/2010(Xem: 8106)
Tây Du Ký tiêu biểu cho tiểu thuyết chương hồi bình dân Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt xã hội các dân tộc Á Châu. Không những nó đã có mặt từ lâu trong khu vực văn hóa chữ Hán (Trung, Đài, Hàn, Việt, Nhật) mà từ cuối thế kỷ 19, qua các bản tuồng các gánh hát lưu diễn và văn dịch, Tây Du Ký (TDK) đã theo ngọn gió mùa và quang thúng Hoa Kiều đến Thái, Mã Lai, In-đô-nê-xia và các nơi khác trên thế giới. Âu Mỹ cũng đánh giá cao TDK, bằng cớ là Pháp đã cho in bản dịch TDK Le Pèlerin vers l’Ouest trong tuyển tập Pléiade trên giấy quyến và học giả A. Waley đã dịch TDK ra Anh ngữ từ lâu ( Monkey, by Wu Ch’Êng-Ên, Allen & Unwin, London, 1942). Ngoài ra, việc so sánh Tây Du Ký2 và tác phẩm Tây Phương The Pilgrim’s Progress (Thiên Lộ Lịch Trình) cũng là một đề tài thú vị cho người nghiên cứu văn học đối chiếu.
08/10/2010(Xem: 25010)
Phật nói : Lấy Tâm làm Tông, lấy không cửa làm cửa Pháp. Đã không cửa làm sao đi qua ? Há chẳng nghe nói : “Từ cửa vào không phải là đồ quý trong nhà. Do duyên mà được, trước thì thành, sau thì hoại.” Nói như thế giống như không gió mà dậy sóng, khoét thịt lành làm thành vết thương. Huống hồ, chấp vào câu nói để tìm giải thích như khua gậy đánh trăng, gãi chân ngứa ngoài da giầy, có ăn nhằm gì ? Mùa hạ năm Thiệu Định, Mậu Tý, tại chùa Long Tường huyện Đông Gia, Huệ Khai là Thủ Chúng nhân chư tăng thỉnh ích bèn lấy công án của người xưa làm viên ngói gõ cửa, tùy cơ chỉ dẫn người học. Thoạt tiên không xếp đặt trước sau, cộng được 48 tắc gọi chung là “Cửa không cửa”. Nếu là kẻ dõng mãnh, không kể nguy vong, một dao vào thẳng, Na Tra tám tay giữ không được. Tây Thiên bốn bẩy (4x7=28) vị, Đông Độ hai ba (2x3=6) vị chỉ đành ngóng gió xin tha mạng. Nếu còn chần chờ thì giống như nhìn người cưỡi ngựa sau song cửa, chớp mắt đã vượt qua.
08/10/2010(Xem: 6043)
Tiểu sử chép: “Năm 19 tuổi Chân Nguyên đọc quyển Thực Lục sự tích Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang,chợt tỉnh ngộ mà nói rằng, đến như cổ nhân ngày xưa, dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, huống gì mình chỉ là một anh học trò”. Bèn phát nguyện đi tu. Thế là cũng như Thiền sư Huyền Quang, Chân Nguyên cũng leo lên núi Yên Tử để thực hiện chí nguyện xuất gia học đạo của mình. Và cũng giống như Huyền Quang, Chân Nguyên cũng đã viết Thiền tịch phú khi Chân Nguyên còn đang làm trụ trì tại chùa Long Động trên núi Yên Tử.
05/10/2010(Xem: 29458)
Trải vách quế gió vàng hiu hắt, Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng, Oán chi những khách tiêu phòng, Mà xui phận bạc nằm trong má đào.
01/10/2010(Xem: 23841)
Có, không chỉ một mà thôi, Tử, sinh đợt sóng chuyển nhồi tạo ra. Trăng nay, trăng cũng đêm qua, Hoa cười năm mới cũng hoa năm rồi. Ba sinh, đuốc trước gió mồi, Tuần hoàn chín cõi, kiến ngồi cối xay. Tới nơi cứu cánh sao đây ? Siêu nhiên tuệ giác, vẹn đầy “Sa ha” (Thích Tâm Châu dịch )
01/10/2010(Xem: 7811)
Là con người, ai cũng có đủ tính tốt và xấu, nên thực tế rất khó nhận định về tính cách của chính mình, của một người khác, huống chi là nói về tính cách của cả một dân tộc. Tuy vấn đề phức tạp và đôi khi mâu thuẫn, nhưng tôi cũng xin cố gắng đưa ra một số nét tiêu biểu của người Nhật.
28/09/2010(Xem: 13136)
Bao gồm nhiều ngạn ngữ dân gian phản ánh đời sống tâm lý của người dân TQ trong xã hội xưa, “ Tăng quảng hiền văn” là sự thể hiện tư tưởng của Nho Giáo, Đạo Giáo, Lão Giáo, mang tính triết lý cao. 1 Tích thì hiền văn, hối nhữ truân truân, tập vận tăng quảng, đa kiến đa văn. Lời hay thuở trước, răn dạy chúng ta, theo vần cóp nhặt, hiểu biết rộng ra. 2 Quan kim nghi giám cổ, vô cổ bất thành kim. Xem nay nên xét xa xưa, ngày xưa chẳng có thì giờ có đâu. 3 Tri kỷ tri bỉ , tương tâm tỷ tâm. Biết mình phải biết người ta, đem lòng mình để suy ra lòng người. 4 Tửu phùng tri kỷ ẩm, thi hướng hội nhân ngâm. Gặp người tri kỷ ta nâng cốc, thơ chỉ bình ngâm mới bạn hiền. 5 Tương thức mãn thiên hạ, tri tâm năng kỷ nhân. Đầy trong thiên hạ người quen biết, tri kỷ cùng ta được mấy người. 6 Tương phùng hảo tự sơ tương thức, đáo lão chung vô oán hận tâm. Gặp lại vui như ngày mới biết, chẳng chút ăn năn trọn tới già.
27/09/2010(Xem: 6138)
Có người không hiểu Phật, than Phật giáo tiêu cực, nói toàn chuyện không vui. Từ đó Tăng ni chỉ được nhớ tới trong những ngày buồn như đám tang, cúng thất, cầu an cho người sắp đi. Rồi thì người ta còn đi xa hơn, xuống thấp hơn một tí, là khi nói đến Tăng ni là họ tưởng ngay đến những người mất sạch, một cọng tóc cũng không có. Thậm chí họ cho mình cái quyền châm chọc khiếm nhã khi nhìn thấy Tăng ni đâu đó. Một chuyện mà có uống mật gấu họ cũng không dám làm đối với những người thế tục cạo trọc.