Câu Đối Thiền Môn

25/11/202109:47(Xem: 15014)
Câu Đối Thiền Môn


bo tat quan am


Câu Đối Thiền Môn



1-Linh giác thường minh, xua tan màn hôn ám, dìu chúng sanh lên thuyền Bát Nhã
-Bửu quang phổ diệu, chiếu khắp chốn trầm luân, dắt muôn loại hướng cõi Niết Bàn

2--Huyền Huệ ngời soi quét sạch mê lầm, thẳng qua bến giác
-Quang Tâm tỏa chiếu xua tan tục luỵ, hoà nhập nguồn chơn

3--Thanh đức minh minh phổ chiếu khổ luân hồi giác ngạn
-Tâm nhiên hạo hạo đồng quy chơn cảnh xuất mê đồ

4-An tâm tự tại, mở cửa từ bi, dẫn chúng sanh quay về chánh pháp
-Lạc đạo tuỳ duyên, hành hạnh hỷ xả, đưa nhân loại hướng đến liên đài

5--Vạn pháp dung thông, động tĩnh tuỳ duyên, tiêu vọng nghiệp
-Thiên tâm trạm tịch, khứ lai tự tại, ngộ chân thiền

6--Chân tâm rực chiếu, vạn kiếp tuỳ duyên hành Phật đạo
-Không tánh ngời soi, ngàn đời tự tại dạo nhân thiên

7-Bảo quang rực chiếu tiêu tai ách
-Ân đức cùng soi sạch khổ sầu

8-Nhân niệm Phật đăng lâm cửu phẩm
-Quả Tham thiền dự đắc vô sanh

9-Nhân niệm Phật lên miền Tịnh Độ
-Quả tham thiền dự cõi Chân Như

10-Chơn tâm trạm tịch vô khứ vô lai tuỳ duyên giáo hoá
-Thiện niệm minh minh bất sanh bất diệt tự tại tiêu dao

11-Chơn giáo thọ, diễn kinh luân, tiếp môn sinh quy vu Vạn Hạnh
-Thiện ân sư, truyền tuệ nghiệp, dẫn hậu bối đáo tại Tây Thiên

12-Trừng tâm dẹp não nêu câu đức
-Sỹ trí tầm chơn diễn đạo thiền

13-Đức từ nhuần thấm già lam, Phật Tử nhỏ lệ tiếc thương
-Trí tuệ rạng soi đất khách, Tăng Ni rơi châu tiễn biệt

14-Quán soi biển tánh không sanh không diệt lìa xa cấu nhiễm
-Âm dội nguồn tâm chẳng có chẳng không bặt dứt ưu phiền

15-Trung ngôn diễn đạo phá mê trực nhận nguồn chơn
-Duệ ngữ hoà âm khai ngộ tiêu dao bến giác

16-Nhật tuệ rạng ngời xua tan màn hôn ám
-Châu tâm tĩnh lặng lắng sạch nghiệp trần ai

17-Phật diễn ba thừa, độ người hữu duyên đồng quy Phật Pháp
-Ân triêm vạn loại, khai đất vô sanh tịnh hướng Niết Bàn

18-Vu Lan đến gợi niềm tin hiếu hạnh
-Báo Hiếu về khơi nét đạo từ bi

19-Bát Nhã rạng ngời dẫn mọi người vào nơi giải thoát
-Liên Đài thanh tịnh đưa muôn loại khỏi chốn trầm luân

20-Tâm thể vốn không đến, không đi , tuỳ duyên hành Phật sự
-Nguyện lực thường chẳng lùi, chẳng sụt, bất biến hộ Thiền môn

21-Quảng khai đại đạo, trụ Pháp Vương gia, để đền ơn Phật Tổ
-Chiếu kiến chân tâm, trì Như Lai tạng, nhằm đáp nghĩa Đàn Na.

22- Nhựt huệ rạng soi, xua tan niềm tục lụy, dựng già lam, di trì đạo pháp
-Anh linh thâm nhập, quét sạch bụi trần lao, xây đức nghiệp, tiếp nối gia phong.

23-Thanh giáo hoằng dương, mở rộng thuyền từ, vun bồi nền đạo nghiệp
-Tâm tông quảng phát, nêu cao hạnh nhẫn, gìn giữ đức thiền lâm

24-Vượt thoát bờ mê xa biển khổ
-Rong chơi bến giác dưỡng tâm nhàn

25-Đêm ngày thanh thản soi nguồn đức
-Năm tháng tiêu dao thắp suối ân

26-Trời trong nắng ấm hoa hương ngát
-Gió mát trăng thanh sông núi thiêng

27-Khai mở nguồn tâm xa kiếp trược
28-Vun bồi bến đức lánh dòng si

29-Niềm đau chợt thả trôi theo sóng
-Nỗi khổ thầm buông cuộn xuống sông

30-Rũ sạch tai ương ngời mắt sáng
Tiêu trừ ách chướng hiển tâm hoà

31-Túc trái oan gia nguyền chặt đứt
-Diệu cơ mật pháp quyết tìm cầu

32-Một sớm thiền tăng nêu ý hỏi
-Bao thu đạo nghiệp rõ phương tầm

33-An tâm tự tại vui niềm đạo
-Lạc đạo tuỳ duyên thỏa ý thiền

34-Xả bỏ phàm tình, quy nẻo giác
Tu theo thánh giáo, chuyển tâm mê

35-Vạn pháp vốn không, bởi do duyên mà có
-Chơn tâm hằng hữu, đâu vì học mới nên

36-Bỏ tục, bỏ mê, tuỳ duyên dễ ngộ
-Ràng danh, ràng tướng, vọng chấp khó thông

37-Niệm Phật, tu tâm, thời thời tránh xa niềm tục
-Trì kinh, dưỡng tánh, khắc khắc lìa khỏi bến mê

37-Tranh danh, đoạt lợi, tăng thêm khổ,
-Dưỡng tánh, tu tâm, giảm bớt sầu.

38-Mõ sớm, chuông khuya, ươm giống tuệ,
-Kinh vàng, kệ ngọc, kết duyên châu.

39-覺 花 心 建 伽 藍 宣 法 語 作禪 詩 度 迷 人 承 當 祖 業
-量 行 願 開 禪 慧 持 佛 號 傳 妙 道 教 化 群 生
-Giác hoa tâm, kiến già lam, tuyên pháp ngữ, tác thiền thi, độ mê nhân, thừa đương tổ nghiệp
-Lượng hạnh nguyện, khai thiền tuệ, diễn kinh luân, trì Phật hiệu, hành diệu đạo, giáo hoá quần sanh

40-Chuông chùa vọng tiếng vơi sầu níu
-Mõ cá vang âm giải não đeo

41-Cội đức vun trồng cây hạnh nở
-Đường mê nguyện dứt lối xuân lai


Tu Viện An Lạc, Ventura, Cali, USA (25/11/2021)

Trúc Nguyên-Thích Chúc Hiền (cảm đề)



facebook
youtube


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/03/2018(Xem: 5211)
Nghe, lắng nghe, và không nghe khác nhau ở điểm nào? Nghe. Dĩ nhiên là bằng đôi tai rồi. Nhĩ căn tiếp nhận, giao lưu với Thanh trần. Nhưng có kiểu nghe mà không nghe. Âm thanh vẫn chảy vào, chui vào, tấn công vào hai bên màng nhĩ, mình cảm nhận được là mình đang có nghe, nhưng mình chỉ biết là có nghe vậy thôi, chứ không rõ là mình đang nghe cái chi chi, cái gì gì. Nhà thiền có một công phu, thôi, gọi là phương pháp cho dễ hiểu, là phương pháp mở rộng hết, mở toang ra cả lục căn (nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý) để đón nhận lục trần (sắc thanh hương vị xúc pháp) trong cùng một lúc.
16/03/2018(Xem: 21385)
Bí Mật Xứ Tạng (sách pdf) Thích Minh Thế
13/03/2018(Xem: 20780)
Cùng là một tảng đá, một nửa làm thành tượng Phật, một nửa làm thành bậc thang. Bậc thang không phục hỏi tượng Phật rằng: - Chúng ta vốn dĩ cùng là đá, tại sao người ta chà đạp tôi, nhưng lại sùng bái người?! Tượng Phật trả lời: - Vì người chỉ chịu 4 nhát dao đã có được hình hài đó, còn ta lại trải qua trăm ngàn ngọn dao đục đẽo, đau đớn muôn vàn. Lúc đó bậc thang im lặng... Cuộc đời con người cũng thế: Chịu được hành hạ, Chịu được cô đơn,Gánh được trách nhiệm, Vác được sứ mệnh, Thì cuộc đời mới có giá trị...
12/03/2018(Xem: 10095)
Tắt máy. Xuống xe, Mỉm cười. Bình yên. Dạ thưa, con đã đi, mới vừa thượng sơn, và con đã đến. Lạy Phật. Lạy Pháp. Lạy Tăng. Những bước chân khẽ khàng, nhẹ bổng của con đi trên đất, qua sân chùa, theo Thầy từng bậc cấp lên gác chuông, đều cảm nhận được nguồn năng lượng của an lạc.
10/03/2018(Xem: 5722)
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - sinh thì là chết?, Các phần trước của loạt bài "Sinh thì là chết?" (11.1, 11.2 và 11.3) đã ghi nhận khả năng liên hệ sinh 生 trong sinh thì với cách đọc Hán Việt thăng[2] 升 và phương ngữ ở phía Nam Trung Quốc (TQ) qua dạng sing/seng (shēng bình thanh, giọng BK bây giờ), hay là một cách dùng nhầm của tiếng Việt[3] (so với nghĩa sinh thì/sinh thời trong tiếng Việt hiện đại). Phần này bàn về khả năng sinh thì là kết quả thể hiện qua ngôn ngữ từ tư duy tổng hợp của người VN: kết hợp lòng tin Công giáo với truyền thống tôn trọng người đã ‘qua đời’ qua uyển ngữ Hán Việt (HV). Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn
03/03/2018(Xem: 24670)
Vừa qua, bản thảo cuốn sách này, « Con Người và Phật Pháp » được tác giả Lê Khắc Thanh Hoài gởi đến cho tôi với lời đề nghị tôi có vài dòng đầu sách. Tôi có phần e ngại, vì có thể tôi không nắm rõ hết ý tưởng của tác giả và cũng có thể không nêu hết ý nghĩ của mình. Thế nhưng đối với một tác giả, một nữ cư sĩ Phật tử trí thức thuần thành, một nhà văn, một nhà thơ và là một nhạc sĩ mà tôi vẫn lưu tâm, cảm phục, cho nên tôi quên đi phần đắn đo mà mạnh dạn có mấy dòng, gọi là chút đạo tình và lòng trân trọng đối với chị Thanh Hoài.
01/03/2018(Xem: 18590)
- "Động Cửa Thiền" (ĐCT) là truyện ngắn đắc ý nhất của Tâm Không Vĩnh Hữu (TKVH), đã được rất nhiều trang web đăng tải, được người khác chuyển thể thành thơ lục bát, được vài tổ chức phi chính phủ đưa vào audio "đọc truyện", được đến 2 nhóm điện ảnh tự ý chuyển thể kịch bản phim để tham dự Liên hoan Phim Ngắn Quốc Tế, và cũng được nhiều tác "giả" tự tiện cải tên đổi hiệu lấy làm sáng tác của chính mình...
28/02/2018(Xem: 12537)
Ở đời có những người không đức lại tự cho rằng quá nhiều đức; không tài lại nghĩ mình kỳ tài không ai bằng; làm lợi ích cho người không được bao nhiêu mà nghĩ mình làm quá nhiều; thành tựu không lớn mà nghĩ là thành tựu chưa từng thấy… là bởi “cái tôi” quá lớn. Cái tôi (the Self, the Ego) ấy vượt khỏi giới hạn của thân xác, đóng cọc cắm rào khắp nơi nào nó hướng đến. Nó vô hình nhưng lại mượn cái hữu hình để tự thể hiện sự hiện hữu của nó. Và sự hiện hữu theo cách thế bành trướng, lấn lướt của một cái tôi lớn, làm cho không gian chung quanh chật chội, tù túng. Ngay cả môi trường sống của gia đình, trường học, làng xóm, tổ chức tôn giáo, quốc gia, cho đến thế giới, trước sự hung hăng hãnh tiến, tự tin, tự mãn của một “cái tôi đáng ghét,” (1) sẽ bị ô nhiễm, khó thở. Cái tôi ấy nếu là người bình thường thì chỉ gây khó chịu, hoặc làm trò cười cho hàng thức giả trong vài phút giây; còn như cố gắng giành lấy trách nhiệm lãnh đạo tập thể nữa thì mới là hiểm họa cho nhiều người, trong một
08/02/2018(Xem: 9611)
Ta lỗi hẹn rồi với Huế xưa Với chiều phai nắng, với cơn mưa Với đường hoa xứ hương thoang thoảng... Có lẽ.. hồn quê vẫn đợi chờ ?
08/02/2018(Xem: 11119)
Hỏi: Thế nào là tâm bị ô nhiễm ? Đáp: Tâm gồm hai phần chính là tâm và sở hữu tâm (tâm sở). Sự thấy biết cảnh thuần khiết gọi là tâm. Sự pha màu vào thấy biết cảnh thuần khiết làm nó biến dạng gọi là tâm sở. Cả hai tâm này đồng sinh, đồng diệt, đồng cảnh, đồng trú căn. Cho nên rất khó biết được tâm (thuần khiết) mà chỉ biết được tâm sở. (Tâm sở là tâm nhận diện cảnh theo chức năng riêng của nó, như tâm sở Tham có chức năng là khao khát cảnh, tâm sở Sân có chức năng huỷ diệt cảnh). Giống như đường hoà vào nước, người uống chỉ biết vị ngọt của đường mà không thế biết sự không vị của nước tinh khiết trong nước đường. Nước bản chất là H2O, nếu lẫn cặn thì gọi là nước đục, lọc cặn đi gọi là nước trong, nhưng bản chất nước là nước, không trong, không đục. Tâm cũng như vậy. Vì lẫn vào sự khao khát, ham muốn cảnh của tâm sở Tham nên gọi là Tâm Tham nên chẳng ai còn biết đến Tâm nữa, chỉ bị thu hút bởi Tham tâm sở mà thôi.