Câu Đối Thiền Môn

25/11/202109:47(Xem: 14956)
Câu Đối Thiền Môn


bo tat quan am


Câu Đối Thiền Môn



1-Linh giác thường minh, xua tan màn hôn ám, dìu chúng sanh lên thuyền Bát Nhã
-Bửu quang phổ diệu, chiếu khắp chốn trầm luân, dắt muôn loại hướng cõi Niết Bàn

2--Huyền Huệ ngời soi quét sạch mê lầm, thẳng qua bến giác
-Quang Tâm tỏa chiếu xua tan tục luỵ, hoà nhập nguồn chơn

3--Thanh đức minh minh phổ chiếu khổ luân hồi giác ngạn
-Tâm nhiên hạo hạo đồng quy chơn cảnh xuất mê đồ

4-An tâm tự tại, mở cửa từ bi, dẫn chúng sanh quay về chánh pháp
-Lạc đạo tuỳ duyên, hành hạnh hỷ xả, đưa nhân loại hướng đến liên đài

5--Vạn pháp dung thông, động tĩnh tuỳ duyên, tiêu vọng nghiệp
-Thiên tâm trạm tịch, khứ lai tự tại, ngộ chân thiền

6--Chân tâm rực chiếu, vạn kiếp tuỳ duyên hành Phật đạo
-Không tánh ngời soi, ngàn đời tự tại dạo nhân thiên

7-Bảo quang rực chiếu tiêu tai ách
-Ân đức cùng soi sạch khổ sầu

8-Nhân niệm Phật đăng lâm cửu phẩm
-Quả Tham thiền dự đắc vô sanh

9-Nhân niệm Phật lên miền Tịnh Độ
-Quả tham thiền dự cõi Chân Như

10-Chơn tâm trạm tịch vô khứ vô lai tuỳ duyên giáo hoá
-Thiện niệm minh minh bất sanh bất diệt tự tại tiêu dao

11-Chơn giáo thọ, diễn kinh luân, tiếp môn sinh quy vu Vạn Hạnh
-Thiện ân sư, truyền tuệ nghiệp, dẫn hậu bối đáo tại Tây Thiên

12-Trừng tâm dẹp não nêu câu đức
-Sỹ trí tầm chơn diễn đạo thiền

13-Đức từ nhuần thấm già lam, Phật Tử nhỏ lệ tiếc thương
-Trí tuệ rạng soi đất khách, Tăng Ni rơi châu tiễn biệt

14-Quán soi biển tánh không sanh không diệt lìa xa cấu nhiễm
-Âm dội nguồn tâm chẳng có chẳng không bặt dứt ưu phiền

15-Trung ngôn diễn đạo phá mê trực nhận nguồn chơn
-Duệ ngữ hoà âm khai ngộ tiêu dao bến giác

16-Nhật tuệ rạng ngời xua tan màn hôn ám
-Châu tâm tĩnh lặng lắng sạch nghiệp trần ai

17-Phật diễn ba thừa, độ người hữu duyên đồng quy Phật Pháp
-Ân triêm vạn loại, khai đất vô sanh tịnh hướng Niết Bàn

18-Vu Lan đến gợi niềm tin hiếu hạnh
-Báo Hiếu về khơi nét đạo từ bi

19-Bát Nhã rạng ngời dẫn mọi người vào nơi giải thoát
-Liên Đài thanh tịnh đưa muôn loại khỏi chốn trầm luân

20-Tâm thể vốn không đến, không đi , tuỳ duyên hành Phật sự
-Nguyện lực thường chẳng lùi, chẳng sụt, bất biến hộ Thiền môn

21-Quảng khai đại đạo, trụ Pháp Vương gia, để đền ơn Phật Tổ
-Chiếu kiến chân tâm, trì Như Lai tạng, nhằm đáp nghĩa Đàn Na.

22- Nhựt huệ rạng soi, xua tan niềm tục lụy, dựng già lam, di trì đạo pháp
-Anh linh thâm nhập, quét sạch bụi trần lao, xây đức nghiệp, tiếp nối gia phong.

23-Thanh giáo hoằng dương, mở rộng thuyền từ, vun bồi nền đạo nghiệp
-Tâm tông quảng phát, nêu cao hạnh nhẫn, gìn giữ đức thiền lâm

24-Vượt thoát bờ mê xa biển khổ
-Rong chơi bến giác dưỡng tâm nhàn

25-Đêm ngày thanh thản soi nguồn đức
-Năm tháng tiêu dao thắp suối ân

26-Trời trong nắng ấm hoa hương ngát
-Gió mát trăng thanh sông núi thiêng

27-Khai mở nguồn tâm xa kiếp trược
28-Vun bồi bến đức lánh dòng si

29-Niềm đau chợt thả trôi theo sóng
-Nỗi khổ thầm buông cuộn xuống sông

30-Rũ sạch tai ương ngời mắt sáng
Tiêu trừ ách chướng hiển tâm hoà

31-Túc trái oan gia nguyền chặt đứt
-Diệu cơ mật pháp quyết tìm cầu

32-Một sớm thiền tăng nêu ý hỏi
-Bao thu đạo nghiệp rõ phương tầm

33-An tâm tự tại vui niềm đạo
-Lạc đạo tuỳ duyên thỏa ý thiền

34-Xả bỏ phàm tình, quy nẻo giác
Tu theo thánh giáo, chuyển tâm mê

35-Vạn pháp vốn không, bởi do duyên mà có
-Chơn tâm hằng hữu, đâu vì học mới nên

36-Bỏ tục, bỏ mê, tuỳ duyên dễ ngộ
-Ràng danh, ràng tướng, vọng chấp khó thông

37-Niệm Phật, tu tâm, thời thời tránh xa niềm tục
-Trì kinh, dưỡng tánh, khắc khắc lìa khỏi bến mê

37-Tranh danh, đoạt lợi, tăng thêm khổ,
-Dưỡng tánh, tu tâm, giảm bớt sầu.

38-Mõ sớm, chuông khuya, ươm giống tuệ,
-Kinh vàng, kệ ngọc, kết duyên châu.

39-覺 花 心 建 伽 藍 宣 法 語 作禪 詩 度 迷 人 承 當 祖 業
-量 行 願 開 禪 慧 持 佛 號 傳 妙 道 教 化 群 生
-Giác hoa tâm, kiến già lam, tuyên pháp ngữ, tác thiền thi, độ mê nhân, thừa đương tổ nghiệp
-Lượng hạnh nguyện, khai thiền tuệ, diễn kinh luân, trì Phật hiệu, hành diệu đạo, giáo hoá quần sanh

40-Chuông chùa vọng tiếng vơi sầu níu
-Mõ cá vang âm giải não đeo

41-Cội đức vun trồng cây hạnh nở
-Đường mê nguyện dứt lối xuân lai


Tu Viện An Lạc, Ventura, Cali, USA (25/11/2021)

Trúc Nguyên-Thích Chúc Hiền (cảm đề)



facebook
youtube


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/08/2018(Xem: 20268)
Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 – từ trần ngày 11 tháng 11 năm 1940 là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên – Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của
29/07/2018(Xem: 6053)
Nhà văn Hoàng Mai Đạt --cũng là Chủ Bút Nhật Báo Viễn Đông -- cho biết số báo ra mắt đã mất nhiều tháng mới làm xong, nhưng hy vọng tương lai sẽ được chư tôn đức Tăng Ni và quý cư sĩ hỗ trợ để thuận lợi cho việc hoằng pháp. Số ra mắt Tinh Tấn Magazine in trên giấy láng, nhiều màu, dày 90 trang, khổ báo tạp chí. Trong số ra mắt Tinh Tấn Magazine, có nhiều bài tập trung chủ đề Quan Thế Âm Bổ Tát hoặc chủ đề từ bi, trong đó có bài: Hạnh Nguyện Cứu Độ Chúng Sanh của Đức Quán Thế Âm (tác giả HT Thích Tịnh Từ);
21/06/2018(Xem: 5170)
Phần này bàn về các cách gọi thời gian như giờ, ngày, tháng trong tiếng Việt vào thời LM de Rhodes sang An Nam truyền đạo. Tài liệu tham khảo chính của bài viết là các tác phẩm Nôm của LM Maiorica và Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), Phép Giảng Tám Ngày (PGTN) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
14/06/2018(Xem: 14724)
Khoảng tháng 3 vừa rồi, Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác (Đức Quốc) gởi cho chúng tôi bản final cuốn Mối Tơ Vương Của Huyền Trân Công Chúa với lời dặn dò: viết Lời cuối sách. Đọc thư Thầy, chúng tôi vô cùng băn khoăn, lo lắng và hơi bị “ngộp” dưới cái bóng quá lớn và ảnh hưởng rộng khắp của Thầy. Chúng tôi “ngại” vì biết Thầy có nhiều mối quan hệ thân thiết với các bậc tài danh khắp nơi. Ngược lại, chúng tôi chỉ là kẻ sơ học nhiều mặt mà lại dám chắp bút viết Lời cuối sách này? Chúng tôi rất đắn đo trước cái vinh dự to lớn ấy, trước cái trách nhiệm nặng nề này. Nhưng rồi anh Văn Công Tuấn nhiều lần “trấn an”, khích lệ. Và rồi, lại nghĩ rằng, Thầy Như Điển có lòng ưu ái, thương tưởng và muốn tạo điều kiện cho chúng tôi trong bước đầu tập tễnh học Phật. Xin cung kính niệm ân Thầy; và cũng qua đây kính mong quý vị độc giả thông cảm và lượng thứ cho những thiếu sót và non nớt không sao tránh khỏi, dù đã có nhiều
09/06/2018(Xem: 10375)
Tóm lược Khác với hầu hết những cộng đồng sắc tộc tại Úc Châu, người Việt đã đến đây thật đông đảo trong một thời gian tương đối ngắn, khi xã hội văn hóa đa nguyên của đất nước định cư nầy hãy còn trong tình trạng non trẻ. Sự hiện diện của một cộng đồng thiểu số Châu Á mà hình dáng bên ngoài dễ nhìn thấy, dễ nhận dạng, đã là một thách đố lớn lao cho giới lãnh đạo chính trị tại Úc, và sự bao dung của công chúng Úc nóí chung.
21/05/2018(Xem: 21065)
Một Cõi Đi Về Thơ & Tạp Bút Tập 3_Thích Phước Thái
10/05/2018(Xem: 5885)
Đó là tên được đặt cho tác phẩm nhiếp ảnh đầu tiên của tôi. Ảnh chụp năm 1993, bằng Máy ảnh Pentax cũ, mua được từ Tòa soạn Báo Khánh Hòa đợt thanh lý, với giá thời điểm đó là 100.000 đồng. Người mẫu: "Con gái rượu" Tịnh Thủy lúc được 2 tuổi.
10/05/2018(Xem: 5388)
Những biến động đàn áp Phật Giáo khởi đầu vào năm 63. Lúc ấy tôi cũng vừa tròn 13 tuổi. Cái tuổi của thắt nơ tóc bím đầy thơ mộng. Thì cũng chính vào những năm tháng thơ mộng nhất của đời tôi, tôi lại trực nhận rõ rằng cuộc đời quả là khổ, quả là vô thường !
10/05/2018(Xem: 5202)
Như vậy là Thầy đã thực sự xa lìa cõi trần ai tục lụy nầy hơn một năm rồi mà hình như trong lòng con vẫn không thấy có sự gì thay đổi hay khác biệt giữa mất và còn cũng như xa với gần, lạ và quen…Bởi thế mà hôm nay con mới có bức thư này xin gởi đến Thầy. Con vẫn thấy như còn mãi đó, trước mắt con, dáng dấp của Thầy với chiếc cà sa màu vàng rực, bờ vai trần và nụ cười thật hiền hòa luôn nở trên môi, làm cho khuôn mặt của Thầy càng thêm rạng rỡ. Con xin nói rõ hơn, dù Thầy không còn nhưng những gì con đã học được từ Thầy, đã được đọc, được nghe, qua những bài giảng dạy, thuyết pháp, những bài báo, bài viết, bài dịch thuật, qua các công trình đóng góp đồ sộ của Thầy mà Thầy đã được trân trọng vinh danh như là ngài Huyền Trang của nước Việt mình, thì trong lòng con, hình ảnh Thầy vẫn mãi sống động, hiển hiện và không bao giờ mất cả.
28/04/2018(Xem: 27085)
Có thể nói: Cuộc đời của Bùi Giáng không thuộc về khái niệm trong ý nghĩa của sự sống chưa thoát khỏi những ranh giới định kiến phân biệt trần gian. Ở ông, hình như cái ranh giới mà tạm gọi là khùng điên và thiên tài không thể nào hiểu hết được. Nếu mượn những khái niệm thường tình: hèn- sang, nghèo- giàu, điên- tỉnh, ghét- yêu, buồn- vui…để Bùi Giáng, hện tượng của ý nghĩa sự sống vô tận, Thích Tâm Tôn, nói cái bất tận của cuộc đời Bùi Giáng thì chỉ là ý nghĩ ngây thơ cạn cợt. Thơ ông không phải để bàn, nhưng lạ thay, lâu nay người ta vẫn thích bàn và bàn chưa thể hết những gì thuộc về thơ của ông. Có lần ông bộc bạch, ông làm thơ đơn giản chỉ vì: “Thơ tôi làm ra là để tặng chuồn chuồn, châu chấu, xin các ngài học giả hãy xa lánh thơ tôi”. Xin mượn tạm chút ngôn ngữ của những khái niệm thường tình mà nói đôi dòng về ông trong ý nghĩa sự sống mà ông đã đi qua và đã lưu dấu lại trong cuộc đời này.