Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Kính chiếu yêu ma (bài của Phật tử Huệ Hương, do Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

27/08/202004:38(Xem: 1045)
Kính chiếu yêu ma (bài của Phật tử Huệ Hương, do Phật tử Diệu Danh diễn đọc)
kinh chieu yeu ma
Kính chiếu yêu ma
Bài viết của Cư Sĩ Huệ Hương (ở Melbourne, Úc Châu)
Do Phật tử Diệu Danh (Hannover, Đức Quốc diễn đọc)




Mười năm về trước khi đọc " CỬA TÙNG ĐÔI CÁNH GÀI " của Sư Ông Làng Mai  Thích  Nhất Hạnh  tôi vẫn không hề nghĩ đến có ngày mình phải dùng kính chiếu yêu này ... không phải cho người khác bên ngoài mà chính là dùng để soi rọi vào những con ma đang ẩn núp trong rừng tâm của tôi quá  chằng  chịt và  rậm rạp nơi mà   tập khí  được chôn vùi và đã  trở nên hoang dại  đến nỗi rất khó để  tháo gở được những rễ dây đã bám  sâu trong đất Tâm này.

Đó là nhờ vào việc nghe kinh ...,   vài tuần nay nghe đến phẩm  Ma Sự trong  Kinh Đại  Bát Nhã và nghiền ngẫm rất lâu về lý và sự của từng câu kinh  thì tôi chợt hiểu ra  Ma còn là những chúng sinh ( niệm khởi  do vọng tưởng)  đang trú nấp trong chính ta mà thôi . .....Để rồi  tự nhắc  lại mình đã từng thệ nguyện CHÚNG SINH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ thì bây giờ phải làm sao cho những con ma này được thoát ra khỏi cái thế giới mà chính nó đang tạo đây. 

Chợt   nhớ lại những  ngày niên thiếu còn ở Việt Nam , nhà nhà đều treo một kiếng tròn nhỏ trước cửa và khi được hỏi các cô bác lớn tuổi đều bảo rằng để đuổi tà ma yêu quái đừng đến phá phách và tôi cũng tin như vậy nên  khi qua định cư nước thứ ba mấy lần đổi nhà là mấy lần tôi  gắng tìm một chiếc kiếng tròn nhỏ  treo trước cửa ra vào để lòng an ổn bất lo sợ ... và phải chờ  đến mười mấy  năm sau này   khi học Phật  Pháp  nhận được  rằng .... mình quả có chút mê tín , nên từ đó tôi không dám nhắc tới kính chiếu yêu vì ngượng ngùng xiết kể ...

Thật ra  bây giờ tôi tin rằng có khi trong một ngày vẫn có nhiều lần  tôi đã thấy những con ma ....nhất  là nếu chúng ta  có can đảm  nhìn vào gương soi mặt khi buồn,  thương, ghét,  giận, oán thù   ....  một con ma với mặt mày tím xanh  tay chân run cầm cập vì nỗi sân khi nghe người ta chê trách mình hay nói ra khuyết điểm, hoặc là một con ma đầu   tóc rũ  rượi   nước mắt đầm đìa khi bị thất vọng , mất mát về một chuyện gì ...! 

Phong tục cũ xưa ...

nhà nhà treo kiếng chiếu yêu trước cửa ! 

Dù đã  định cư nơi nước thứ ba , 

Vẫn mua kiếng  treo khi  mới chuyền đổi nhà 

Hy vọng đuổi ma  phá phách  ....về đòi nợ ? 

Thật ra ma bên ngoài đâu đáng sợ ! 

Hiểu Đạo rồi cần  chiếu rọi lại bên trong 

Ma ảo tưởng rất tinh ranh,  trốn tránh vòng 

Đầy thân kiến,  hoài nghi, giới cấm thủ ....

Dòng cảm xúc, nơi ma bản ngã từng lưu trú  !

Tất cả huyễn vọng ....Tâm mình dựng tạo nên, 

Hiểu mình, hiểu cuộc đời, sợ hãi chẳng có tên .

Nên kính chiếu yêu không cần thiết nữa ! 

( thơ HH ) 

Phải chăng  từ trước cho đến bây giờ lúc  nào tôi cũng vướng vào  mười sợi dây trói buộc ( 10 kiết sử ).. ?  

Hỏi chính là trả lời ....Đúng vậy càng  khởi lên  sự mong cầu có  được thanh thản nên lúc nào tôi cũng dựa vào tham ái rất vi tế và chấp thủ mà không biết đó là những con ma ghê sợ nhất . ...và do đó  để thoát ra được vòng vây của chúng ma  tôi cần phải có kính chiếu yêu luôn mang bên mình và mỗi mỗi phút giây cần  lấy ra chiếu sâu vào rừng tâm tôi ....

Càng ngày  tôi càng trải  nghiệm hơn  về  chướng ngại  ( ma sở tri của mình)  qua những ngôn từ lý thuyết . 

Ba năm trước đây có lần  tôi được Sư Phụ khuyên trách rất nhẹ nhàng rằng " con có thấy mình đang tầm chương trích cú không ? Con nên chính  tự mình tinh tấn chánh niệm tỉnh giác rồi ứng dụng  tu tập thực hành của mình vào đời sống thưc tại để đạt đến cứu cánh là giải thoát " . 

Hôm nay đọc lại lời Thầy giải đáp cho một Phật Tử cũng đi trên đường xưa giống như tôi.....thì tôi chợt hiểu .....

..  "    Rừng Kinh Luận của các Tông môn Hệ phái Phật giáo ngày càng phúc tạp đã và đang che mờ chính Đạo giải thoát giác ngộ vốn rất giản dị thiết thực mà đức Phật khai ngộ. Đã vậy còn thêm kiến giải của các vị "luận sư" đầy lý trí, chủ yếu chỉ khoe khoang sở học của mình hơn là chỉ ra sự thật, lại càng tạo thêm áp lực cho người học phải "tầm chương trích cú" mới đạt được tiêu chí "khoa bảng" hơn là thấy ra Sự Thật. "" ( trích đoạn ngày 11/8 trong mục hỏi đáp Trungtamhotong ) 

 

Phải chăng rất khó để mà chúng ta thoát được cái lưới khổng  lồ  mà các con ma kiết sử đang buông văng mà nếu chúng ta không tỉnh thức để tháo gỡ thì sẽ càng bị buộc chặt khít hơn dù cố tình vùng vẫy điên loạn .

Cho nên tốt nhất  cần phải không quá lệ thuộc vào bất cứ điều kiện gì miễn là mình chỉ cần sống trọn vẹn tỉnh thức với thực tại trong mọi sinh hoạt của đời sống hằng ngày mà chẳng mê ( do ma khuấy nhiễu ) thì thật sự an bình và hạnh phúc. 

Sống giữa cuộc đời, lẽ dĩ nhiên không ai tránh được những gì người ta nói , những gì họ nghĩ sai về mình nên điều quan trọng nhất chỉ cần rèn luyện tính kham nhẫn . 

Kính chiếu yêu là để giúp ta nhìn ra những con ma cảm xúc và tự nhũ rằng hãy  kham nhẫn để sống giữa thế tục của thế gian và đừng tạo thêm những phiền phức vô ích . 

Có đọc tụng Kinh Địa Tang bổn nguyện rồi mới thấy biết bao nhiêu ngục,  hầm tối đã giam giữ ta chỉ vì bất cẩn để cho những ma cảm xúc quấy nhiễu mà sinh ra khẩu nghiệp trải qua nhiều đời nhiều kiếp 

Tín, tấn, niệm, định,  Tuệ là nền tảng ! 

Cần tu tập .... phát triển năng lực tâm linh, 

Những ma bất thiện ...   diệt đừng cho  khởi sinh .

Kính chiếu yêu dùng  thấy  ra ...nơi ẩn núp ! 

Tự  trọng bản thân, chính động cơ  để giúp, 

Với tự tin, dần dần đẩy chúng lìa xa .

Tỉnh thức trọn vẹn,  kham nhẫn từng sát na 

Ma đố kỵ , cái tôi .... khó sinh ra Ngã mạn !

Thấp,   cao căn cơ đừng quên kinh Địa Tạng 

Thường thọ trì vào lễ hội Vu Lan, 

Thấy rõ nghiệp báo trong thế tục dân gian . 

Tiếp tục  hành thiện cho thật toàn bich! 

Cho cuộc sống hoàn mỹ nhiều lợi ích ....



Chính nhờ  được đọc tụng kinh Địa Tạng bổn nguyện do Tu Viện Quảng Đức khai kinh nhân Lễ Hội Vu Lan trong mùa đại dịch , HH kính xin được mạn phép trình bày về kính chiếu yêu trong dân gian để  thương nhớ về một quê hương rất bình dị và đáng yêu với những mê tín huyền thoại ...



Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát

Đệ tử Huệ Hương 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/12/202008:00(Xem: 785)
Lớn lao thay Bài Ca Chứng Đạo! Ngài Huyền Giác đã nói lên được những gì ngài thật tu thật chứng trong bài ca này. Nói là bài ca là vì mỗi lời mỗi chữ đều là Trí Tuệ Bát Nhã xuất phát từ Chân Tâm của ngài, nên thông suốt vô ngại và an vui tự tại. Vui trong cảnh giải thoát, vui trong cảnh Niết Bàn, hân hoan mà thốt lên những lời này, không biết gọi nó là gì, nên tạm gọi nó là Bài Ca Chứng Đạo vậy! Ngài Huyền Giác đã bài trừ tất cả sự chấp có, không, cũng có cũng không, không có không không (tứ cú), để nêu ra cái Bản Thể Tuyệt Đối Chân Tâm. Người giác ngộ được Bản Thể Chân Tâm này là người “tuyệt học, vô vi, an nhàn vô sự”. Xưa nay nó vốn không một vật mà lại thường đầy đủ muôn pháp không thiếu sót. Khi chưa giác ngộ thì thấy biết bằng vọng thức nên mới có muôn ngàn sai biệt. Khi giác ngộ được Bản Tâm thì thấy biết bằng trí tuệ Bát Nhã nên tất cả là Bất Nhị, Như Thị, và Không.
02/12/202007:52(Xem: 710)
Làm thinh không phải mình sai Làm thinh là để tương lai cuộc đời Làm thinh không phải dại khờ Làm thinh là để lu mờ thị phi Làm thinh không phải khinh khi Làm thinh là để biết đi biết về Làm thinh không phải u mê Làm thinh là để nghĩ về đường tu Làm thinh không phải gật gù Làm thinh là để Văn Thù hiện ra Làm thinh không phải thứ tha Làm thinh là để biết ta làm gì Làm thinh không phải nhu mì Làm thinh là để mỗi khi thực hành Làm thinh không phải tranh giành Làm thinh là để trung thành hạnh tu
02/12/202004:52(Xem: 577)
¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ LŨ LỤT MIỀN TRUNG VIỆT NAM (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 8 ¨ BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN TỤNG THÍCH, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9 ¨ QUÊ HƯƠNG MÙA BÃO LŨ (thơ Mặc Phương Tử), trang 11 ¨ QUẢ BÁO VỀ VIỆC GÂY TẠO CHIẾN TRANH (Quảng Tánh), trang 12 ¨ CÁI THIỆN VÀ HẠNH PHÚC (Quảng Tánh), trang 13 ¨ CHỈ LÀ LỜI HỎI THĂM (thơ Thy An), trang 15 ¨ KHỔ THÁNH ĐẾ (Chân Hiền Tâm), trang 16 ¨ SAU LỤT LÀM BÀI THƠ VỀ CỎ (thơ Lê Vĩnh Tài), trang 20 ¨ ĐẠO ĐỨC VƯỢT KHỎI TÔN GIÁO (Tuệ Uyển dịch), trang 21 ¨ MÙA LŨ (thơ Tiểu Lục Thần Phong), trang 25 ¨ LÀM THẾ NÀO ĐOẠN TRỪ CÁC LẬU HOẶC? (TN Hằng Như), trang 27 ¨ AI ƠI, MAU DỪNG LẠI (thơ Huệ Trân), trang 32 ¨ CHÙA LINH QUANG VÀ CHÙA TỪ ĐÀM Ở TRUNG VIỆT, VNPG Sử Luận, Chương 33 (Nguyễn Lang), trang 33 ¨ LOAY HOAY GIỮA CON ĐƯỜNG (thơ Du Tâm Lãng Tử), trang 36 ¨ CHẤP THỦ LÀ ĐÁNG SỢ (Lâm Thanh Huyền), trang 37 ¨ TRUYỀN THỐNG GĐPT
01/12/202014:16(Xem: 554)
Từ Nguyễn Du đến Bùi Giáng, lục bát Việt Nam đã tạo nên một bước đi tân kỳ, một bước nhảy ngoạn mục, rung lên những tiếng thơ tự tình giữa trường mộng nhân sinh, nỗi ngậm ngùi nhân thế với niềm xao xuyến, bồi hồi. Rồi tiếp nối trên những bước đi song hành cùng lục bát, rạt rào bao sóng vỗ ngân nga, hòa âm thâm thiết với những tâm hồn quá đỗi tiêu sái như Hoài Khanh, Nguyễn Đức Sơn, Hồ Dzếnh, Phạm Thiên Thư, Huy Cận, Trần Xuân Kiêm, Huy Tưởng, Vũ Hoàng Chương… Đặc biệt Huy Tưởng, riêng một cõi trời thơ Mười Phương Tố Vọng phiêu diêu giữa Phương Chiều: Trũng hai mắt vọng bia đời Cổng tồn sinh mở mù khơi nắng tà Lòng tay nát mộng châu sa Phương chiều bãi quạnh mưa qua bến mình Nghiêng tầm con mắt soi kinh Vẳng nghe tâm lặng hồn chênh chếch về Phôi thu rụng lá mây đè Phiền ban sơ dậy đất se sắt lòng Im nghe thác máu loạn dòng Trôi phiêu lạc giữa vô cùng mộ Không
23/11/202007:52(Xem: 746)
Phước duyên cho tôi khi được Me Tâm Tấn truyền trao gìn giữ một số thư từ còn lưu thủ bút & chữ ký của Chư tôn Thiền đức Tăng Ni vào những năm xưa xửa của thế kỷ trước. Trước, tôi đã có đôi lần giới thiệu thư từ bút tích của quý Ngài danh tăng Phật Giáo nước nhà như Ôn Trí Quang, Ôn Trí Thủ, Ôn Đỗng Minh, Ôn Đức Chơn, Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Thể Quán... Hôm nay, tôi xin cung kính giới thiệu đến chư vị thủ bút và chữ ký của một bậc tôn quý vốn là cột trụ quan trọng trong ngôi nhà Phật pháp, một vị hộ pháp đắc lực của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong những ngày đầu của phong trào phục hưng, một thành viên cơ yếu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất:
11/11/202017:07(Xem: 657)
Mấy ngày mưa bão, rãnh rỗi ngồi soạn thư từ và hình ảnh, những kỷ vật mà Me Tâm Tấn luôn trân quý gìn giữ bao năm trời đã truyền trao lại cho tôi bảo quản làm tư liệu để tham khảo viết bài góp bút vào công tác hoằng pháp, tôi đã tìm thấy được những bức thư viết tay của một vị danh tăng Phật Giáo nước nhà: Cố Hòa thượng Thích Đức Tâm.
11/11/202016:05(Xem: 666)
Trong quyển Yếu giải kinh A Di Đà lần đầu tiên xuất bản ở Việt Nam cũng như trên thế giới được in cả nguyên tác bằng chử Hán của Đại sư Linh Phong Ngẩu Ích cùng bản dịch Anh ngữ của Tiến sỉ J.C. Cleary và phần dịch sang Việt ngữ có chú giải của chính mình, học giả Lý Việt Dũng đã… “tự bạch” về “tiểu sử dài lòng thòng đáng chán của Song Hào Lý Việt Dũng”. Trong đó ông thẳng thắng nhận rằng: “Về quan điểm cuộc sống, tôi là người lạc quan tếu… Tôi cũng chay mặn tùy duyên, không bó thân trong những giới luật xa rời cuộc sống, chẳng có bổn sư vì chẳng quy y ai, chẳng có giới xơ cứng để giữ, sống đa cảm tự tại, có hơi “quậy” một chút!”.
25/10/202008:20(Xem: 464)
Nước. Nước từ đâu cứ dâng lên; lên rồi rút, rút rồi lại lên, ngập tràn đồng ruộng, ao hồ, vườn tược, làng quê, và phố thị của nhiều tỉnh thành miền Trung. Cuồng phong bão tố từ đại dương cuộn xoáy vào đất liền, kéo theo những cơn mưa xối xả ngày đêm. Nước lũ ngầu đục từ non cao đổ về, từ các đập thủy điện xả xuống, đẩy những dòng cuồng lưu ồ ạt đi về nơi trũng thấp, theo những nhánh sông hướng ra biển, chựng lại khi gặp mực biển dâng cao với cường triều gầm thét, sông nối biển biến vùng duyên hải thành một biển nước mênh mông.
30/09/202020:15(Xem: 3395)
Thư gởi Chư Thiện tri thức trong và ngoài nước..nhân Tết Nhi Đồng 2020 (HT Thích Tuệ Sỹ)
24/09/202016:00(Xem: 1376)
Thật là một đại duyên cho những ai là Phật tử tại gia như tôi lại được nghe lời chỉ dạy vừa tâm tình của Sư Phụ Viên Minh vào ngày thứ bảy của khoá thiền khoá 20 (20/9/2020) tại tổ đình Bửu Long như sau : " Ai cũng cho Thầy là người " ba phải "vì Thầy thường trích dẫn những ý tưởng của các Tông phái khác , nhưng đúng ra phải gọi Thầy là "người chục phải "vì ở mỗi Tông phái nào Thầy đều nhìn thấy những điểm hay, tốt và vì vậy Thầy chưa bao giờ phân biệt tông phái nào cả chỉ là nhập gia tuỳ tục thế thôi , vô ngại ...