Sóng nước

31/03/201519:56(Xem: 8933)
Sóng nước

song_bien

 

 

Thành phố Adelaide, tiểu bang South Australia có một dòng sông nhỏ chảy ngang.                                             

Buổi chiều thảnh thơi. Nắng hanh vàng trên lá. Gió đuổi nhau làm xôn xao ngọn cây phong bên bờ. Những con chim nhỏ rộn ràng, riú rít trên cành. Gió lay động mặt hồ tạo nên những gợn sóng nhỏ nhè nhẹ, nhấp nhô, đuổi theo nhau không dứt khiến trong lòng dâng lên cảm giác êm đềm, thanh thản, bình yên.

 

Nhìn mặt nước sông, lòng mơ hồ, mênh mông …

 

Nước là một trong tứ đại: đất, nước, gió, lửa, luôn có mặt để tạo ra sắc pháp. Tánh của nước là ướt (thấp), dụng là thu nhiếp. Nước cho ta cảm giác sạch sẽ, dễ chịu, gội rửa, tươi mát, thấm nhuận.

 

Nước gợi lên ý niệm mênh mông, bao la của đại dương; chan hòa, tưới tẩm của mưa; bao dung, chan chứa của tình mẹ; êm đềm của đêm trăng trên dòng sông quê hương; âm thầm như mạch nước ngầm trong lòng đất; reo vang của con suối giữa rừng; triền miên, bất tuyệt của hải triều biển cả…

 

Nước tùy thuận, khi ẩn khi hiện, vô hình vô tướng: lúc thì nhẹ nhàng, dịu dàng như lưỡi nước đầu nguồn, khi thì dõng mãnh, cuồng nộ như con sóng thần giữa đại dương; ở thì chọn chỗ thấp trũng, đến khi biến hóa thì lại vượt lên trên cao; lúc cạn thì thu vào, hạ xuống; lúc thừa thì dâng lên, trào ra; tùy hoàn cảnh mà khi chảy khi đọng, lúc động lúc tịnh; tùy theo chỗ chứa đựng mà dài, ngắn, vuông, tròn; lại tùy theo thời tiết âm dương có lúc thì loãng, có khi lại đặc; cứng mà không gãy, mềm nhưng có thể khiến cho “tan đá nát vàng”; lúc nhỏ thì như chén trà trong lòng bàn tay, khi lớn thì bao trùm cả sơn hà đại địa, linh hoạt đến vô cùng.

 

Nước tạo ra sự sống cho mọi loài, lợi ích cho vạn vật. Nơi đâu có nước là có sự sinh tồn. Các nhà khoa học đã chẳng cố gắng tìm ra sự có mặt của H2O trên Hỏa tinh để chứng minh cho sự hiện hữu của sự sống là gì.

 

Đức Lão Tử ví rằng: Bậc Thượng thiện giống như nước, lợi ích vạn vật mà không tranh. Nước thường chảy đến chỗ thấp trũng, chỗ ô uế cho nên gần với đạo. (Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xứ chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư đạo. Đạo Đức Kinh, Chương 8).

 

Nước gợi lên ý niệm thanh tịnh của Bát công đức thủy trong ao Thất bảo ở cảnh giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà: trừng tịnh, thanh lãnh, nhuận trạch, cam mỹ, khinh nhuyễn, an hòa, trừ quá hoạn, trưởng dưỡng (lắng sạch, trong mát, nhuần nhuyễn mượt mà, ngon ngọt, nhẹ nhàng, mịn màng, an ổn, hòa hợp, có công năng trừ được đói khát, bệnh tật, phiền não, ô nhiễm và tăng trưởng thiện căn).

 

Ngài Bát-lặc-mật-đế, người mang Kinh Lăng Nghiêm từ Thiên Trúc sang Trung Hoa  truyền bá, có nói rằng: “Nước chảy trên đất bằng vốn chẳng gây tiếng động, nhưng bởi có thác ghềnh cao thấp mà tạo nên âm thanh. Đạo lớn trong pháp giới vốn không lời, nhưng bởi tâm lượng chúng sanh không đồng mà đạo phải thành câu, thành chữ” (Thủy lưu bình địa bổn vô thanh, vị hữu cao đê nhi hữu thanh. Đại đạo vô ngôn chu pháp giới, do tham sân si nhi hữu thanh).

 

Ý niệm và hình ảnh siêu thực của sóng nước bàng bạc trong giáo nghĩa Đại thừa. Trên chuông, mõ, trên kiềng chùy, tràng phang, bảo chúng, trên vành đại cổ, trên miệng hồng chung, trên những bức phù điêu trang nghiêm cổ kính... đều thường có chạm khắc hình ảnh sóng nước (Thủy Ba).

 

Sóng, chỉ cho thế giới hiện tượng. Nước, chỉ cho thế giới bản thể. Sóng và nước, tuy hai mà chẳng phải hai. Chẳng phải hai nhưng là hai. Sóng và nước bản chất chỉ là một nhưng bởi do động hay tịnh mà sinh ra hiện tượng sai khác mà thôi. Cũng vậy, phiền não và bồ đề, tuy một mà chẳng phải một. Chẳng phải một nhưng là một. Phật và chúng sanh vốn đồng một tánh Phật nhưng chỉ vì động hay tịnh mà trở thành chúng sanh hay Phật, nhiễm ô phiền não hay giác ngộ, niết bàn.

 

Hãy nhìn mặt hồ tĩnh lặng như tấm gương, soi thấu mặt trời ban ngày, soi rõ mặt trăng và các vì tinh tú ban đêm, in hình đám mây đang phiêu lưu giang hồ, in dấu bóng cây phong lặng lẽ, soi bóng cành liễu trầm tư, chim muông, hoa lá trong sáng, riêng tư, rành mạch, rõ ràng, không phán xét, không phân biệt, không điều kiện. Nhưng khi có làn gió thổi qua làm mặt hồ gợn những cơn sóng nhẹ nhấp nhô. Tất cả, vâng, tất cả đều vỡ vụn, đều trở nên xáo trộn, mờ mịt, nhạt nhòa. Nào khác chi mặt hồ của tâm, khi vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng, vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, thì soi thấu cả tam thiên đại thiên thế giới, mà hễ lúc ngọn gió lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc, gió tạp niệm, gió vọng tưởng điên đảo, gió phiền não thổi tới thì mờ mịt nổi trôi trong ba nẻo sáu đường.

 

Hãy quán tưởng giọt nước cam lộ long lanh trên đầu cành dương liễu:

 

Dương chi tịnh thủy                                  (Cành dương nước tịnh

Biến sái tam thiên                                     Rưới khắp ba ngàn

Tánh không bát đức lợi nhơn thiên             Tánh không tám đức lợi trời người

Pháp giới quảng tăng diên                         Pháp giới rộng thênh thang

Diệt tội tiêu khiên                                     Diệt sạch tai nàn

Hỏa diệm hóa hồng liên.                            Lửa dữ hóa sen vàng).                

 

Hãy hình dung hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm đang đứng trên sóng dữ giữa đại dương vô minh, cuồng nộ:

 

Trí tuệ hoằng thâm đại biện tài                  (Trí tuệ bừng lên đóa biện tài

Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai                 Đứng yên trên sóng sạch trần ai

Tường quang thước phá thiên sanh bịnh      Cam lộ chữa lành cơn khổ bịnh

Cam lộ năng tiêu vạn kiếp tai                      Hào quang quét sạch buổi nguy tai

Thúy liễu phất khai kim thế giới                  Liễu biếc phất bày muôn thế giới

Hồng liên dõng xuất ngọc lâu đài                Sen hồng nở hé vạn lâu đài

Ngã kim khể thủ phần hương tán                Cúi đầu ca ngợi dâng hương thỉnh

Nguyện hướng nhân gian ứng hiện lai.         Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay).

 

Hãy hình dung giọt sương cam lộ trên đầu nhành dương liễu của Bồ Tát, tùy duyên bất biến để hằng thuận chúng sanh:

 

Thùy dương liễu biến sái cam lồ, trừ nhiệt não dĩ giai đắc thanh lương. Tầm thinh cứu khổ ư tứ sanh, thuyết pháp độ thoát ư lục đạo. Bẩm từ bi kiên cố chi tâm, cụ tự tại đoan nghiêm chi tướng. Hữu cầu giai ứng, vô nguyện bất tùng, cố ngã tri lưu, đoan thừa tịnh quán, thành tụng mật ngôn, gia trì pháp thủy.

 

Thị thủy giả phương viên tùy khí, dinh hư nhậm thời xuân phán đông ngưng, khảm lưu cấn chỉ hạo hạo hồ, diệu nguyên mạc trắc, thao thao hồ linh phái nan cùng. Bích giáng tàng long hàn đàm tẩm nguyệt. Hoặc tại quân vương long bút hạ tán tác ân ba, hoặc cư Bồ Tát liễu chi đầu sái vi cam lồ, nhất đích tài triêm, thập phương câu tịnh. (Tổ Thiên Thai Trí Khải Đại sư)

 

(Cầm nhành dương Ngài rưới nước cam lồ lên tất cả, trừ nhiệt não Ngài làm cho mọi người đều được tắm trong dòng suối thanh lương. Nghe tiếng kêu mà cứu khổ cho tứ sanh, Ngài thuyết pháp độ thoát cho lục đạo. Sẵn tâm niệm từ bi kiên cố, đủ dáng vẻ tự tại trang nghiêm. Không có ai cầu mà chẳng ứng, không có nguyện nào mà không thành, cho nên chúng con an trụ trong tịnh quán chí thành tụng lại mật ngôn và gia trì pháp thủy.

 

Tịnh thủy nầy vuông tròn tùy theo bình chứa đựng, có hay không cũng tùy tiết tùy thời, mùa xuân thì loãng, mùa đông lại đặc, khi chảy khi đọng thật là mênh mang, nguồn sâu khó lường, chảy mãi thao thao, thật là dòng linh khôn tuyệt. Ở trong khe đá nước ngâm bóng loài rồng, lúc dưới ao thu nước tẩm lấy bóng nguyệt. Tịnh thủy nầy hoặc đọng dưới ngòi bút của đấng quân vương để rồi làm tràn ngập sóng ân hoặc nằm trên đầu cành dương liễu của vị giác hữu tình để biến thành cam lồ linh diệu, chỉ cần một giọt rưới lên là mười phương được sạch trong).

 

Hãy quán chiếu công năng của giọt nước cam lộ:

 

Phù thử thủy giả, bát công đức thủy tự thiên chơn, tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần, biến nhập Tỳ lô Hoa tạng giới, cá trung vô xứ bất siêu luân. Thủy bất tẩy thủy diệu cực pháp thân. Trần bất nhiễm trần phản tác tự kỷ. Quyên trừ cấu uế, đản địch đàn tràng. Sái, khô mộc nhi tác đương xuân, khiết uế ban nhi thành Tịnh độ. Sở vị nội ngoại trung gian vô trược uế, thánh phàm u hiển tổng thanh lương.

 

(Luận nước nầy là nước đầy đủ tám công đức xuất phát từ tánh thiên chơn, trước tẩy sạch trần lao nghiệp chướng, đưa chúng sanh vào cảnh giới Tỳ Lô Hoa tạng, khiến cho dù đang ở trong bất cứ cảnh giới nào cũng được siêu thoát khỏi luân hồi sinh tử. Nước chẳng rữa nước cùng cực pháp thân, bụi không dính bụi, chủ tể là mình. Có năng lực quét sạch cấu uế trong ngoài đàn tràng. Khi rưới lên, cây khô bật đâm chồi nẩy lộc như đang mùa xuân, khiến cho thế giới đang khổ đau, uế nhiễm trở thành một thế giới đầy an lạc. Khắp mọi nơi chốn đều trở nên thanh tịnh, thánh nhân hay phàm phu, có mặt hay đã khuất đều được tự tại, giải thoát).

 

Bồ Tát liễu đầu cam lồ thủy                        (Đầu nhành dương liễu vương cam lộ

Năng linh nhất đích biến thập phương        Một giọt mười phương rưới cũng đầy

Tinh chuyên cấu uế tận quyên trừ               Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết

Linh thử đàn tràng tất thanh tịnh .             Đàn  tràng thanh tịnh ở ngay đây).

 

Nhìn mặt nước sông, lòng mơ hồ, mênh mông, mênh mông…      

 

(Ghi chú: Những bài kệ trên đây được trích từ Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp và nội dung hai thời công phu).

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/03/2022(Xem: 6863)
Với tập sách nhỏ nầy – tác giả không hề nghĩ đó là công trình nghiên cứu; mà chỉ xin được gọi là nén tâm hương, là tấc lòng cảm cựu dâng lên anh linh của người thiên cổ - biểu tỏ sự ngưỡng mộ văn tài và xin được chia sẻ nỗi đau đời, đau người của tiền nhân và hậu học. Sỡ dĩ không gọi là công trình nghiên cứu về Nguyễn Du vì tôi không làm theo hệ thống chương mục của tổng thể tác phẩm, mà chỉ viết theo ngẫu cảm của người đọc đối với mỗi nhân vật trong tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh”, lại nữa; tôi cũng là một cá thể quanh năm đau yếu – khi viết đề tài này là tôi đang nằm tại chỗ, vì xẹp cột sống lưng và bao chứng bệnh khác – phải chăng là đồng bệnh tương lân???
20/03/2022(Xem: 9571)
Những tưởng Ninh Giang Thu Cúc sẽ gác bút sau tập nhận định “Đọc Kiều Thương Khách Viễn Phương” nhưng nào có được - bởi nghiệp dĩ đeo mang nên mới có Kiều Kinh gởi đến quý vị. Với tuổi tác và bệnh trạng – tác giả muốn nghỉ viết để duy dưỡng tinh thần, trì chú niệm kinh và chung sống an yên cùng căn bệnh nghiệt ngã là xẹp cột sống lưng... Thế nhưng; với tiêu chí – còn thở là còn làm việc, tác giả không cam chịu là người vô tích sự vì thế NGTC vẫn viết (dù trong tư thế khó khăn) mong đóng góp chút công sức nhỏ nhoi cho nền Văn học nước nhà.
24/02/2022(Xem: 18609)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
13/02/2022(Xem: 6058)
Gần đây khi nhận được những tập kỷ yếu về các chuyến hành hương (từ các địa điểm tâm linh) gửi tặng từ TT Thích Nguyên Tạng, một lần nữa tôi mới chợt nhận ra tại sao một người tu hay bất cứ một người phàm phu nào cũng cần phải cầu nguyện cho mình có đủ Tam Phước ( Phước vật - Phước đức và Phước Trí ). Trộm nghĩ khi có đủ tam phước rồi thì làm việc gì cũng thành tựu vì đã sử dụng đúng thái độ và cách cư xử của ta trong cuộc sống . Và hạnh phúc là mục đích chính của con người, tiêu biểu cho sự phát triển đầy đủ các đức tính đạo đức của con người ...Nhất là trong Triết lý Phật giáo, hạnh phúc là chủ đề rất quan trọng nghĩa là muốn có hạnh phúc thì phải có bình an ( vật chất lẫn tinh thần ) và nhất định là hạnh phúc này phải phát xuất từ giá trị cuộc sống với sự hoàn thiện nhân cách và luôn giữ 3 nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh.
13/02/2022(Xem: 14282)
Hiện nay chúng ta đang có 2 cách tính thời gian theo : Âm Lịch và Dương Lịch. Phương Tây và nhiều nước trên thế giới sử dụng Dương Lịch, lịch này tính theo chu kỳ tự quay xung quanh trục mình của Trái Đất và Trái Đất quay xung quanh mặt trời. Trong khi đó cách tính Âm Lịch sử dụng Can Chi, bao gồm thập Can và thập nhị Chi. Trong đó, 10 Can gồm: Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ được tạo thành từ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. 12 Chi được lựa chọn từ các con vật gần gũi với con người hoặc thuần dưỡng sớm nhất. Có một sự khác nhau trong 12 Chi giữa Âm Lịch Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam,.... đó là Chi thứ 4 là con Mèo hay con Thỏ. Ở Việt Nam, 12 con giáp gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, tương ứng với 12 con vật : Chuột, Trâu, Hổ, Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Gà, Chó, Lợn. Khi ghép lại sẽ tạo thành 60 năm (bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12) từ các tổ hợp Can - Chi khác nhau, gọi chung là Lục Thập Hoa Giáp.
31/01/2022(Xem: 10272)
Truyện này viết về một người anh, và nhiều phần là hư cấu. Nghĩa là, chỉ một phần có thực. Nhưng tôi không thể nào nói rõ là phần nào thực, phần nào hư. Nói rõ có khi lại hỏng. Đã viết truyện thì, chẳng tác giả nào nói rõ đâu. Ngay như nhan đề “Bên Trời Đại Lý” cũng thấy là bên kia sự thật rồi, vì Việt Nam mình làm gì có thị trấn Đại Lý, nơi sẽ là bối cảnh của truyện ngắn này. Nhưng, nếu nói thiệt ra là Chợ Lớn, thì lại trần gian quá, chẳng thơ mộng tí nào.
05/01/2022(Xem: 13330)
Khi khoa học ngày càng phát triển, con người càng rời xa tâm linh và phủ nhận tất cả những gì không dựa trên nền tảng khoa học. Tuy nhiên, thế giới tâm linh dù được khẳng định bởi người hữu duyên hoặc phủ nhận bởi người chưa đủ duyên tồn tại song song với thế giới vật chất. Sự nối kết tâm linh là một đề tài sôi nổi trong dòng chính cũng như trong cộng đồng tôn giáo. Trên thực tế, hiện tượng siêu nhiên vẫn là những điều huyền bí mà không phải bất kỳ ai cũng có thể trải nghiệm hay giải mã. Vì vậy, người có khả năng nối kết với thế giới tâm linh và cảm nhận được hiện tượng tâm linh càng trở nên đặc biệt dưới các trường hợp sau đây:
04/01/2022(Xem: 11102)
Trên đất nước ta, rừng núi nào cũng có cọp, nhưng không phải vô cớ mà đâu đâu cũng truyền tụng CỌP KHÁNH HÒA, MA BÌNH THUẬN. Tỉnh Bình Thuận có nhiều ma hay không thì không rõ, nhưng tại tỉnh Khánh Hòa, xưa kia cọp rất nhiều. Điều đó, người xưa, nay đều có ghi chép lại. Trong sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1) của Thượng Thư Bộ Binh Lê Quang Định soạn xong vào năm 1806 và dâng lên vua Gia Long (1802-1820), tổng cộng 10 quyển chép tay, trong đó quyển II, III và IV có tên là Phần Dịch Lộ, chép phần đường trạm, đường chính từ Kinh đô Huế đến các dinh trấn, gồm cả đường bộ lẫn đường thủy. Đoạn đường ghi chép về ĐƯỜNG TRẠM DINH BÌNH HÒA (2) phải qua 11 trạm dịch với đoạn đường bộ đo được 71.506 tầm (gần 132 km)
03/01/2022(Xem: 24121)
CÂU TRUYỆN TRIẾT HỌC THE STORY OF PHILOSOPHY – WILL DURANT Cau Truyen Triet Hoc-1971 Nguyễn Hiền-Đức thực hiện theo bản của Hội Khoa Học Lịch Sử Bình Dương ngày 25/07/2012 Santa Ana, CA tháng 12 năm 2021
29/12/2021(Xem: 4680)
Theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở vào năm 2019 của chính quyền Việt Nam. Phật giáo chỉ có 4,6 triệu tín đồ. Những người theo đạo Phật giảm hơn 30% so với thống kê năm 2009 nên trở thành tôn giáo đứng hàng thứ hai sau Ki Tô giáo với số con chiên 5.9 triệu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng số lượng tín đồ đạo Phật bị giảm sút. Kẻ viết xin nêu ra một vài sự việc tạo nên sự kiện nầy: