Sóng nước

31/03/201519:56(Xem: 8945)
Sóng nước

song_bien

 

 

Thành phố Adelaide, tiểu bang South Australia có một dòng sông nhỏ chảy ngang.                                             

Buổi chiều thảnh thơi. Nắng hanh vàng trên lá. Gió đuổi nhau làm xôn xao ngọn cây phong bên bờ. Những con chim nhỏ rộn ràng, riú rít trên cành. Gió lay động mặt hồ tạo nên những gợn sóng nhỏ nhè nhẹ, nhấp nhô, đuổi theo nhau không dứt khiến trong lòng dâng lên cảm giác êm đềm, thanh thản, bình yên.

 

Nhìn mặt nước sông, lòng mơ hồ, mênh mông …

 

Nước là một trong tứ đại: đất, nước, gió, lửa, luôn có mặt để tạo ra sắc pháp. Tánh của nước là ướt (thấp), dụng là thu nhiếp. Nước cho ta cảm giác sạch sẽ, dễ chịu, gội rửa, tươi mát, thấm nhuận.

 

Nước gợi lên ý niệm mênh mông, bao la của đại dương; chan hòa, tưới tẩm của mưa; bao dung, chan chứa của tình mẹ; êm đềm của đêm trăng trên dòng sông quê hương; âm thầm như mạch nước ngầm trong lòng đất; reo vang của con suối giữa rừng; triền miên, bất tuyệt của hải triều biển cả…

 

Nước tùy thuận, khi ẩn khi hiện, vô hình vô tướng: lúc thì nhẹ nhàng, dịu dàng như lưỡi nước đầu nguồn, khi thì dõng mãnh, cuồng nộ như con sóng thần giữa đại dương; ở thì chọn chỗ thấp trũng, đến khi biến hóa thì lại vượt lên trên cao; lúc cạn thì thu vào, hạ xuống; lúc thừa thì dâng lên, trào ra; tùy hoàn cảnh mà khi chảy khi đọng, lúc động lúc tịnh; tùy theo chỗ chứa đựng mà dài, ngắn, vuông, tròn; lại tùy theo thời tiết âm dương có lúc thì loãng, có khi lại đặc; cứng mà không gãy, mềm nhưng có thể khiến cho “tan đá nát vàng”; lúc nhỏ thì như chén trà trong lòng bàn tay, khi lớn thì bao trùm cả sơn hà đại địa, linh hoạt đến vô cùng.

 

Nước tạo ra sự sống cho mọi loài, lợi ích cho vạn vật. Nơi đâu có nước là có sự sinh tồn. Các nhà khoa học đã chẳng cố gắng tìm ra sự có mặt của H2O trên Hỏa tinh để chứng minh cho sự hiện hữu của sự sống là gì.

 

Đức Lão Tử ví rằng: Bậc Thượng thiện giống như nước, lợi ích vạn vật mà không tranh. Nước thường chảy đến chỗ thấp trũng, chỗ ô uế cho nên gần với đạo. (Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xứ chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư đạo. Đạo Đức Kinh, Chương 8).

 

Nước gợi lên ý niệm thanh tịnh của Bát công đức thủy trong ao Thất bảo ở cảnh giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà: trừng tịnh, thanh lãnh, nhuận trạch, cam mỹ, khinh nhuyễn, an hòa, trừ quá hoạn, trưởng dưỡng (lắng sạch, trong mát, nhuần nhuyễn mượt mà, ngon ngọt, nhẹ nhàng, mịn màng, an ổn, hòa hợp, có công năng trừ được đói khát, bệnh tật, phiền não, ô nhiễm và tăng trưởng thiện căn).

 

Ngài Bát-lặc-mật-đế, người mang Kinh Lăng Nghiêm từ Thiên Trúc sang Trung Hoa  truyền bá, có nói rằng: “Nước chảy trên đất bằng vốn chẳng gây tiếng động, nhưng bởi có thác ghềnh cao thấp mà tạo nên âm thanh. Đạo lớn trong pháp giới vốn không lời, nhưng bởi tâm lượng chúng sanh không đồng mà đạo phải thành câu, thành chữ” (Thủy lưu bình địa bổn vô thanh, vị hữu cao đê nhi hữu thanh. Đại đạo vô ngôn chu pháp giới, do tham sân si nhi hữu thanh).

 

Ý niệm và hình ảnh siêu thực của sóng nước bàng bạc trong giáo nghĩa Đại thừa. Trên chuông, mõ, trên kiềng chùy, tràng phang, bảo chúng, trên vành đại cổ, trên miệng hồng chung, trên những bức phù điêu trang nghiêm cổ kính... đều thường có chạm khắc hình ảnh sóng nước (Thủy Ba).

 

Sóng, chỉ cho thế giới hiện tượng. Nước, chỉ cho thế giới bản thể. Sóng và nước, tuy hai mà chẳng phải hai. Chẳng phải hai nhưng là hai. Sóng và nước bản chất chỉ là một nhưng bởi do động hay tịnh mà sinh ra hiện tượng sai khác mà thôi. Cũng vậy, phiền não và bồ đề, tuy một mà chẳng phải một. Chẳng phải một nhưng là một. Phật và chúng sanh vốn đồng một tánh Phật nhưng chỉ vì động hay tịnh mà trở thành chúng sanh hay Phật, nhiễm ô phiền não hay giác ngộ, niết bàn.

 

Hãy nhìn mặt hồ tĩnh lặng như tấm gương, soi thấu mặt trời ban ngày, soi rõ mặt trăng và các vì tinh tú ban đêm, in hình đám mây đang phiêu lưu giang hồ, in dấu bóng cây phong lặng lẽ, soi bóng cành liễu trầm tư, chim muông, hoa lá trong sáng, riêng tư, rành mạch, rõ ràng, không phán xét, không phân biệt, không điều kiện. Nhưng khi có làn gió thổi qua làm mặt hồ gợn những cơn sóng nhẹ nhấp nhô. Tất cả, vâng, tất cả đều vỡ vụn, đều trở nên xáo trộn, mờ mịt, nhạt nhòa. Nào khác chi mặt hồ của tâm, khi vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng, vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, thì soi thấu cả tam thiên đại thiên thế giới, mà hễ lúc ngọn gió lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc, gió tạp niệm, gió vọng tưởng điên đảo, gió phiền não thổi tới thì mờ mịt nổi trôi trong ba nẻo sáu đường.

 

Hãy quán tưởng giọt nước cam lộ long lanh trên đầu cành dương liễu:

 

Dương chi tịnh thủy                                  (Cành dương nước tịnh

Biến sái tam thiên                                     Rưới khắp ba ngàn

Tánh không bát đức lợi nhơn thiên             Tánh không tám đức lợi trời người

Pháp giới quảng tăng diên                         Pháp giới rộng thênh thang

Diệt tội tiêu khiên                                     Diệt sạch tai nàn

Hỏa diệm hóa hồng liên.                            Lửa dữ hóa sen vàng).                

 

Hãy hình dung hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm đang đứng trên sóng dữ giữa đại dương vô minh, cuồng nộ:

 

Trí tuệ hoằng thâm đại biện tài                  (Trí tuệ bừng lên đóa biện tài

Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai                 Đứng yên trên sóng sạch trần ai

Tường quang thước phá thiên sanh bịnh      Cam lộ chữa lành cơn khổ bịnh

Cam lộ năng tiêu vạn kiếp tai                      Hào quang quét sạch buổi nguy tai

Thúy liễu phất khai kim thế giới                  Liễu biếc phất bày muôn thế giới

Hồng liên dõng xuất ngọc lâu đài                Sen hồng nở hé vạn lâu đài

Ngã kim khể thủ phần hương tán                Cúi đầu ca ngợi dâng hương thỉnh

Nguyện hướng nhân gian ứng hiện lai.         Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay).

 

Hãy hình dung giọt sương cam lộ trên đầu nhành dương liễu của Bồ Tát, tùy duyên bất biến để hằng thuận chúng sanh:

 

Thùy dương liễu biến sái cam lồ, trừ nhiệt não dĩ giai đắc thanh lương. Tầm thinh cứu khổ ư tứ sanh, thuyết pháp độ thoát ư lục đạo. Bẩm từ bi kiên cố chi tâm, cụ tự tại đoan nghiêm chi tướng. Hữu cầu giai ứng, vô nguyện bất tùng, cố ngã tri lưu, đoan thừa tịnh quán, thành tụng mật ngôn, gia trì pháp thủy.

 

Thị thủy giả phương viên tùy khí, dinh hư nhậm thời xuân phán đông ngưng, khảm lưu cấn chỉ hạo hạo hồ, diệu nguyên mạc trắc, thao thao hồ linh phái nan cùng. Bích giáng tàng long hàn đàm tẩm nguyệt. Hoặc tại quân vương long bút hạ tán tác ân ba, hoặc cư Bồ Tát liễu chi đầu sái vi cam lồ, nhất đích tài triêm, thập phương câu tịnh. (Tổ Thiên Thai Trí Khải Đại sư)

 

(Cầm nhành dương Ngài rưới nước cam lồ lên tất cả, trừ nhiệt não Ngài làm cho mọi người đều được tắm trong dòng suối thanh lương. Nghe tiếng kêu mà cứu khổ cho tứ sanh, Ngài thuyết pháp độ thoát cho lục đạo. Sẵn tâm niệm từ bi kiên cố, đủ dáng vẻ tự tại trang nghiêm. Không có ai cầu mà chẳng ứng, không có nguyện nào mà không thành, cho nên chúng con an trụ trong tịnh quán chí thành tụng lại mật ngôn và gia trì pháp thủy.

 

Tịnh thủy nầy vuông tròn tùy theo bình chứa đựng, có hay không cũng tùy tiết tùy thời, mùa xuân thì loãng, mùa đông lại đặc, khi chảy khi đọng thật là mênh mang, nguồn sâu khó lường, chảy mãi thao thao, thật là dòng linh khôn tuyệt. Ở trong khe đá nước ngâm bóng loài rồng, lúc dưới ao thu nước tẩm lấy bóng nguyệt. Tịnh thủy nầy hoặc đọng dưới ngòi bút của đấng quân vương để rồi làm tràn ngập sóng ân hoặc nằm trên đầu cành dương liễu của vị giác hữu tình để biến thành cam lồ linh diệu, chỉ cần một giọt rưới lên là mười phương được sạch trong).

 

Hãy quán chiếu công năng của giọt nước cam lộ:

 

Phù thử thủy giả, bát công đức thủy tự thiên chơn, tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần, biến nhập Tỳ lô Hoa tạng giới, cá trung vô xứ bất siêu luân. Thủy bất tẩy thủy diệu cực pháp thân. Trần bất nhiễm trần phản tác tự kỷ. Quyên trừ cấu uế, đản địch đàn tràng. Sái, khô mộc nhi tác đương xuân, khiết uế ban nhi thành Tịnh độ. Sở vị nội ngoại trung gian vô trược uế, thánh phàm u hiển tổng thanh lương.

 

(Luận nước nầy là nước đầy đủ tám công đức xuất phát từ tánh thiên chơn, trước tẩy sạch trần lao nghiệp chướng, đưa chúng sanh vào cảnh giới Tỳ Lô Hoa tạng, khiến cho dù đang ở trong bất cứ cảnh giới nào cũng được siêu thoát khỏi luân hồi sinh tử. Nước chẳng rữa nước cùng cực pháp thân, bụi không dính bụi, chủ tể là mình. Có năng lực quét sạch cấu uế trong ngoài đàn tràng. Khi rưới lên, cây khô bật đâm chồi nẩy lộc như đang mùa xuân, khiến cho thế giới đang khổ đau, uế nhiễm trở thành một thế giới đầy an lạc. Khắp mọi nơi chốn đều trở nên thanh tịnh, thánh nhân hay phàm phu, có mặt hay đã khuất đều được tự tại, giải thoát).

 

Bồ Tát liễu đầu cam lồ thủy                        (Đầu nhành dương liễu vương cam lộ

Năng linh nhất đích biến thập phương        Một giọt mười phương rưới cũng đầy

Tinh chuyên cấu uế tận quyên trừ               Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết

Linh thử đàn tràng tất thanh tịnh .             Đàn  tràng thanh tịnh ở ngay đây).

 

Nhìn mặt nước sông, lòng mơ hồ, mênh mông, mênh mông…      

 

(Ghi chú: Những bài kệ trên đây được trích từ Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp và nội dung hai thời công phu).

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/08/2021(Xem: 14200)
Do sự cố vấn chỉ đạo của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, Hội Đồng Hoằng Pháp của chúng con/chúng tôi rất hoan hỷ để kính trình Quý Ngài và Quý Vị chương trình giảng dạy tiếng Phạn cơ bản cho Tăng Ni cũng như Quý Phật Tử nào có tâm muốn trau dồi Phạn ngữ trên hệ thống Online như thư chiêu sinh của Giáo Sư Đỗ Quốc Bảo có gửi kèm theo thư nầy. Mục đích chính là để tiếp nối truyền thống đọc được kinh điển trực tiếp từ tiếng Phạn và có khả năng đọc cũng như dịch giải những bản Kinh bằng tiếng Phạn về sau nầy; nên bắt đầu từ tháng 9 năm 2021 việc chiêu sinh được thực hiện, nếu số lượng Tăng Ni và Phật Tử ghi danh đầy đủ như về số lượng và những điểm yêu cầu khác cho một người muốn học Phạn ngữ (xin xem điều kiện có gửi kèm ngay bên dưới). Vậy kính xin Quý Ngài tạo điều kiện cho tử đệ của mình tham gia học ngôn ngữ nầy để tiếp nối con đường của những bậc tiền nhân đã đi trước. Việc học nầy không hạn chế là Tăng Ni hay Phật Tử, miễn sao Quý Vị đáp ứng thỏa đáng được nhu cầu cần có và đủ của một người
23/08/2021(Xem: 3931)
Sau giờ tan trường, Dung thong thả đạp xe về nhà dọc theo đại lộ Thống Nhất. Đến ngã tư Thống Nhất-Hai Bà Trưng gặp đèn đỏ, Dung rẽ phải về hướng Tân Định. Với mái tóc thề đen mướt xõa trên vai áo dài màu tím của trường Nữ Trưng Vương làm cho nhiều người đang chờ đèn xanh không khỏi chú ý. Vài phút sau, bỗng có một chiếc xe Jeep chạy qua mặt Dung rồi dừng lại. Dung đạp xe đến gần, bất ngờ một thanh niên trong bộ quân phục sĩ quan Hải quân màu trắng từ trên xe nhảy xuống chặn làm Dung hốt hoảng dừng lại, lảo đảo suýt ngã xe. Anh chàng vội vàng đỡ xe cho Dung và nói: - Xin lỗi cô về cử chỉ đường đột của tôi. Cô cho tôi hỏi thăm, cô có phải là Dung, người Phan Rang không? - Xin lỗi, anh là ai mà hỏi tôi như thế? - Tôi là Thanh, bạn ngày xưa của Đạt, anh của Dung… - Vậy sao?… Dung chau mày, cơn bàng hoàng sợ sệt chưa dứt, trong đầu cố nhớ lại vì đã lâu lắm rồi không nghe anh Đạt nhắc đến. Thanh giải thích thêm để trấn an và chờ cho Dung hồi tưởng
23/08/2021(Xem: 4398)
Cơn mưa phùn đêm qua còn đọng nước trên đường. Gió thu đã về. Lá vàng theo gió lác đác vài chiếc cuốn vào tận thềm hiên. Cây phong đầu ngõ lại chuẩn bị trổ sắc đỏ ối như mọi năm. Người đi xa từ những mùa thu trước, sẽ không trở về. Những người bạn lâu không gặp, thư gửi đi bị trả lại, nhắn tin điện thoại không thấy trả lời. Có lẽ cũng đã ra đi, không lời từ biệt.
19/08/2021(Xem: 18276)
Phật Đản và Vu Lan là hai ngày lễ lớn nhất của Phật giáo trong năm. Riêng đối với tuổi trẻ thì Phật Đản là gốc rễ mà Vu Lan là hoa lá cành. Gốc rễ giữ cội nguồn và hoa lá cành làm giàu thêm vẻ đẹp. Phật Đản là ngày lễ trọng đại mừng Đức Phật Thích Ca ra đời. Vu Lan là ngày kỷ niệm Mục Kiền Liên tâm thành hiếu hạnh. Tích Mục Kiền Liên cứu mẹ đã trở thành biểu tưởng bái vọng của tinh thần báo hiếu tâm linh và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật trong đạo Phật.
17/08/2021(Xem: 17649)
Thật là một điều kỳ diệu và lý thú khi được tin báo trên Viber là Tuyển Tập pháp Thoại vừa hoàn thành và đã sẵn sàng đến tay Phật Tử khi đến dự Lễ Vu Lan tại Tu Viện Quảng Đức (nếu không bị lockdown). Vì sao gọi là kỳ diệu? Chỉ sau khi tôi được học xong 10 duyên mà Đức Phật cho là quan trọng nhất theo thứ tự của 24 duyên, mà chúng ta ai cũng phải gặp trong thời gian còn làm người phàm, và nếu hiểu rõ tường tận thì mình có thể sẽ không bao giờ thốt lên câu “Học muôn ngàn chữ nghĩa nhưng không ai học được chữ Ngờ” của bộ Đại Phát Thú / Vi Diệu Pháp, do Giảng Sư Thích Sán Nhiên đã thuyết giảng qua 61 video, mỗi video kéo dài từ 3: 00 đến 3:50 giờ. Chính vì thế, nhờ đó tôi chợt nhận ra nhân duyên gì đã làm trưởng duyên và đẳng vô gián duyên, để tôi đến với Đại Gia Đình Quảng Đức Đạo tràng nói chung, và tiếp xúc liên hệ với TT Trụ trì Tu viện Quảng Đức Thích Nguyên Tạng và được cộng tác với Ngài trên trang website Phật Giáo, Trang Nhà Quảng Đức, để rồi hôm nay lại có duyên
06/08/2021(Xem: 20516)
Cũng như chuông, trống cũng được coi như là một loại pháp khí không thể thiếu trong văn hóa tín ngưỡng của đa số dân tộc theo Phật giáo. Phật tử Việt Nam chúng ta rất gần gũi với thanh âm ngân vang thâm trầm của tiếng chuông; tiếng trống thì lại dồn dập như thôi thúc lòng người...Tại các ngôi chùa, trống Bát Nhã được đánh lên là để cung thỉnh Chư Phật, Chư Bồ Tát quang giáng đạo tràng chứng tri buổi lễ. Thông thường trống Bát Nhã được đánh lên vào ngày lễ Sám hối và trong những ngày Đại lễ. Ba hồi chuông trống Bát Nhã trổi lên để cung thỉnh Chư Phật và cung đón Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni quang giáng đạo tràng, đồng thời cũng nhắc nhở mọi người nên lắng lòng, buông bỏ mọi tạp niệm. Bà kệ trống Bát Nhã được đọc như sau: Bát Nhã hội Bát Nhã hội Bát Nhã hội Thỉnh Phật thượng đường Đại chúng đồng văn Bát Nhã âm Phổ nguyện pháp giới Đẳng hữu tình Nhập Bát Nhã Ba La Mật môn Ba La Mật môn Ba La Mật môn.
05/08/2021(Xem: 11900)
Trước đây Tôi không hề nghĩ rằng: “mình sẽ có ngày trình pháp với Giảng Sư TT Thích Nguyên Tạng sau mỗi bài pháp thoại của Ngài”, dù cho tôi không mang một tư tưởng phân biệt Nam Tông và Bắc Tông, nhưng có lẽ tri thức tôi có rất nhiều sai lầm và vướng mắc do không tiếp xúc nhiều với các đạo tràng, mà chỉ quẩn quanh đọc kinh sách và chỉ là cái túi đựng sách! Có ngờ đâu đại dịch của thế kỷ 21 bắt đầu....theo như đa số mọi người lầm tưởng (trong đó có tôi) ....chỉ là cơn bão thoáng qua, không ngờ đã diễn biến càng ngày càng trầm trọng. Và với lòng từ bi, TT Giảng Sư đã tổ chức các buổi nghe pháp thoại online và ...với thì giờ nhàn rỗi trong những ngày bị lockdown, tôi đã chăm chú nghe từ một vài lần trong tuần sau đó, đổi thành liên tục mỗi ngày và bắt đầu nghiện ... khi thiếu vắng mỗi khi Giảng Sư có Phật Sự bên ngoài ...
02/08/2021(Xem: 28245)
Tiếng chuông chùa vang lên để xoa dịu, vỗ về những tâm hồn lạc lõng, bơ vơ. Hồi chuông Thiên Mụ, mái chùa Vĩnh Nghiêm một thời chứa chan kỷ niệm. Đó là lời mở đầu trong băng nhạc Tiếng Chuông Chùa do Ca sĩ Thanh Thúy trình bày và ấn hành tại hải ngoại vào đầu thập niên 80. Thanh Thúy là ca sĩ hát nhạc vàng, đứng hàng đầu tại VN trước năm 1975. Cô là đệ tử của HT Nguyên Trí ở chùa Bát Nhã, California. Khi Thầy còn ở VN cuối thập niên 80 có đệ tử ở bên Mỹ đã gởi tặng Thầy băng nhạc Tiếng Chuông Chùa này. Hôm nay Thầy nói về chủ đề Tiếng Chuông Chùa, hay tiếng Chuông Đại Hồng Chung. Đại Hồng Chung là một cái chuông lớn được treo lên một cái giá gỗ đặt trong khuôn viên chùa hay trong Chánh điện. Hồng Chung là một pháp khí linh thiêng, là một biểu tượng đầy ý nghĩa của Phật giáo, nên chùa nào cũng phải có, lớn hay nhỏ tùy theo tầm cỡ của mỗi chùa. Hàng ngày Đại Hồng Chung được thỉnh lên vào buổi chiều tối, báo hiệu ngày
27/07/2021(Xem: 24290)
Thật không ngờ trong bối cảnh xã hội mà toàn cầu thế giới đang khẩn trương đối phó với đại dịch kinh hoàng của thế kỷ 21 thế nhưng những người con đầy tâm huyết của Đức Thế Tôn chỉ trong nửa năm đầu 2021 đã thành lập được hai trang Website Phật học tại hải ngoại : Thư viện Phật Việt tháng 2/2021. do nhóm cư sĩ sáng tạo trang mạng của HĐHP, ( hoangpháp.org ) do ban Báo chí và xuất bản của Hội đồng Hoằng pháp tháng 6/2021 thành lập với sự cố vấn chỉ đạo của HT Thích Tuệ Sỹ Từ ngày có cơ hội tham học lại những hoa trái của Phật Pháp ( không phân biệt Nguyên Thủy, Đại Thừa ) , Tôi thật sự đã cắt bỏ rất nhiều sinh hoạt ngày xưa mình yêu thích và để theo kịp với sự phát triển vượt bực theo đà tiến văn minh cho nên đã dùng toàn bộ thời gian còn lại trong ngày của một người thuộc thế hệ 5 X khi về hưu để tìm đọc lại những tác phẩm , biên soạn, dịch thuật của Chư Tôn Đức,qua Danh Tăng, Học giả nghiên cứu khắp nơi .
26/07/2021(Xem: 15732)
Hòa thượng thế danh là Nguyễn Minh Có, pháp danh Huệ Đạt, pháp hiệu Hoàn Thông, sinh năm Đinh Tỵ (1917) triều Khải Định năm đầu, tại ấp Hội An, xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nông dân nghèo. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Phuông, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sửu, Ngài mồ côi cha lúc 13 tuổi. Thiện duyên đưa đến cho hạt mầm Bồ đề trong tâm Ngài phát triển. Năm 1930, trong thân tộc có ông Hồ Trinh Tương, gia tư khá giả, phát tâm phụng sự Tam Bảo, xuất tiền của xây một ngôi chùa, lấy hiệu là Hội Thắng Tự. Ông xuất gia đầu Phật, húy là Tường Ninh, pháp danh Đắc Ngộ, pháp hiệu Niệm Hưng và làm trú trì chùa này để hoằng dương đạo pháp. Ngài được thân mẫu cho phép xuất gia với Sư cụ trú trì chùa Hội Thắng khi vừa mồ côi cha, được ban pháp danh Huệ Đạt. Năm 16 tuổi (1933) Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa Di.