07. Nào Có Ra Đi

31/01/201206:22(Xem: 24413)
07. Nào Có Ra Đi

Nào Có Ra Đi

Kiên Giang

“Dù xa cách mấy trùng dương

Ở đâu cũng có quê hương trong lòng”

Tháng 3/2007, có người trao cho tôi Tuyển tập nhạc Dòng Thơ Gọi Tình Người và Tập thơ Quê Hương Nguồn Cội của cùng tác giả Mặc Giang. Tôi nay đã 80, đang tập trung viết hồi ký, từ bỏ mọi sinh hoạt thù tạc, nhưng khi nhìn tựa đề 2 cuốn sách, tự dưng có thiện cảm nên gác lại mọi việc để đọc trong nhiều đêm, suy tư chìm lắng… thẳm sâu… ưu tư… với hồn thơ Mặc Giang.

Qua các bài: Quê hương còn đó, Ta đi trên quê hương, Ta đi trên nước non mình, Đưa nhau đi trên quê hương, Về thăm quê cũ, Việt Nam còn đó muôn đời, Sông núi hồn thiêng... tôi liền bị cuốn hút theo Mặc Giang vào dòng chảy tình tự về kỷ niệm tuổi thơ, gia đình, bè bạn, và danh lam, thắng cảnh, gấm vóc, sử tích, cội nguồn v.v… 

Mỗi nhà thơ là một vũ trụ thu hẹp. Vũ trụ của nhà thơ Mặc Giang không những đậm đà, sâu lắng, dịu vợi, bao trùm cả quê hương ba miền Trung Nam Bắc, mà còn lan tỏa đến tình thương nhân loại. Vũ trụ tâm hồn của Mặc Giang thật là cao rộng. 

Không hề biết mặt, không hề một lần giao tiếp, với mối đồng cảm của nhà thơ cao tuổi, tôi xin đón nhận và vẫy chào. 

Theo tôi, không nên chẻ sợi tóc làm ba đánh giá so le khi chưa thấu triệt ý nghĩa trầm tích trong từng bài thơ : Tình cha muôn thuở, Tình mẹ muôn đời, Reo binh minh thức dậy, Nghe rừng khua gió núi, Con người phiêu bạt, Lời thùy dương, Chiếc bóng thời gian, Miền Bắc quê hương tôi, Miền Trung quê hương tôi, Miền Nam quê hương tôi… Chúng vừa là ấn tượng, vừa là tiếng nói con tim của tâm linh tiềm tàng tình quê hồn nước, sâu lắng trong hơi thở, cô đọng trong huyết thống của mỗi người Việt Nam đối với quê hương cố thổ. 

Mỗi người đều ôm ấp quê hương trong lòng, bởi Tình quê hong giọt nắng, Thuyền về bến cũ, Mơ màng ôm vũ trụ, dù sống ở đâu, vẫn có đôi mắt trong trái tim, trái tim trong ánh mắt, để nhớ để thương từng tên sông tên núi, từng ngọn cỏ lá rau, từng bóng dáng thân quen trên mọi nẻo đường. Từ niềm vui lẫn nỗi buồn cũng như từ hy vọng lẫn đau thương, Mặc Giang viết rất thật, cảm thụ rất sâu, nên người đọc không riêng gì thân nhân mà độc giả mỗi miền đều có sự đồng cảm với tác giả. 

Tâm hồn Mặc Giang tuy bay bổng nhưng biết đáp xuống trên từng phần đất mà tổ tiên dày công khai phá, gìn giữ, bảo tồn, và tứ thơ Mặc Giang khơi dậy nỗi niềm, tâm tư, chất chứa niềm tự hào, khí tiết của dòng chảy truyền lưu qua từng thế hệ. 

Thi sĩ chân chính phải có khí tiết của bậc cao sĩ vô danh, là biết siêu việt và viên dung mọi giá trị đối lập. Giá trị này hẳn nhiên đã được gợi mở bằng giáo lý Bồ-tát đạo-- một giáo lý đề xướng tinh thần cứu độ chúng sinh của nhà Phật. Biết nghĩ và làm như thế, nên nhà thơ Mặc Giang có thể đánh động và xoáy động tình người, và hơn thế nữa là kêu gọi thiết lập tình nhân loại, để ai cũng tập nhìn về mối quan hệ “bốn biển đều là anh em”, để lúc nào cũng thấy rằng, “anh với tôi đâu phải người xa lạ, dù không quen cũng gợi cảm tình người”. Là cái nhìn vượt lên mọi phân định về ý thức hệ, mở ra một chân trời sáng lạn của thông điệp tình thương. 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/02/2026(Xem: 1114)
🐄Bò làm mệt, than với chó: " Tao mệt quá ". 🐶 Chó gặp mèo tâm sự: " Bò nó kêu mệt, chắc làm quá sức, chắc nó đòi nghỉ một chút". 🐱 Mèo gặp dê tám chuyện: " Bò nó muốn nghỉ một ngày vì công việc làm nó mệt quá, có lẽ ông chủ bắt nó làm quá sức". 🐐 Dê gặp gà: " Bò nó đòi nghỉ làm, ông chủ bắt nó làm đến kiệt sức thì phải". 🐔 Gà gặp heo nói: " Biết chuyện gì chưa, bò nó định đổi chủ và bỏ việc đấy". 🐷 Heo méc bà chủ: " Bò nó định đổi chủ hay sao, nghe nói nó muốn bỏ việc vì công việc quá nặng. 👨‍👧Bà chủ nói ông chủ: " Bò nó định tạo phản, nó muốn đổi chủ". 🙅‍♂️Ông chủ tức giận quát: " A con bò này đã lười lại định tạo phản, thịt nó thôi". 👉Kết quả : Bò bị giết thịt
05/02/2026(Xem: 3260)
Ngày 1 tháng 2 năm 2026, trong căn phòng tĩnh lặng nơi Ôn Phước An đang điều trị tại Bệnh viện 22/12 Thành phố Nha Trang, hình ảnh Thượng Tọa Giác Nghĩa (trụ trì Chùa Vạn Đức & Chùa Phước Trí, Nha Trang) cầm quyển Kinh Nhật Tụng, chậm rãi tụng Kinh Kim Cang âm Hán–Việt, đã trở thành một khoảnh khắc không thể nào quên.
04/02/2026(Xem: 2441)
Là một nữ tu sĩ chân yếu tay mềm, Phật sự đa đoan, lòng tôi vẫn cảm thấy tràn đầy nguồn an ủi vô biên trong những lúc mệt nhọc. Những ngày gần đây, các bài thơ trong tập thơ Hoa Thiền, mang tâm ý Phật Pháp, được Cô Đặng Lan và các thi sĩ ngâm vịnh, được Phật tử Tâm Nghiêm đọc vào đĩa, được Nhạc sĩ Nguyễn Nhật Tân phổ nhạc… với những niềm khích lệ đó, khiến tôi cố gắng sáng tác thêm những vần thơ mới. Và hôm nay, tập thơ Hoa Thiền tái bản, mang vóc dáng trang trọng, gói trọn một nội dung hồn thơ và ý nhạc, khiến cho lời thơ nhẹ nhàng bay vút khắp nơi và tuôn chảy vào tận cõi lòng người. Tôi xin chân thành cảm nhận tất cả và trân trọng khắc ghi vào lòng một kỷ niệm đẹp trong suốt hành trình dấn thân vì Đạo. 🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
04/02/2026(Xem: 2722)
Tôi có thói quen, sau khi tụng kinh buổi sáng xong, thường ngồi uống một ly trà trước khi dùng điểm tâm. Vừa uống trà, tôi vừa lướt qua trang Thắng Hoan Thi Tập và tình cờ đọc được bài thơ Thiền Trà của Hòa thượng. Tôi cảm thấy thú vị và bỗng dưng nhớ Hòa thượng. Tôi nhớ không phải vì sự bịn rịn của thế gian, mà nhớ cái đức, cái tài và cái tính hào sảng của Ngài.
02/02/2026(Xem: 3683)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
31/01/2026(Xem: 1488)
Trong giáo lý Duyên khởi, một đóa hoa sen nở không tự nhiên mà có, nó kết tinh từ bùn nhơ, nước sạch, ánh sáng và bàn tay người chăm sóc. Cũng vậy, sự vững chãi của Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu hay Âu Châu hôm nay không tự nhiên thành hình, mà chính là kết quả của những nhân duyên thâm sâu, được vun bồi bởi những bước chân hoằng pháp không biết mỏi mệt của các bậc Cao tăng. Trong số đó, Hòa thượng Thích Như Điển - Phượng trượng chùa Viên Giác tại Đức Quốc - hiện thân như một “Như Lai sứ giả”, viết tiếp những trang sử truyền bà Phật pháp huy hoàng của Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại.
30/01/2026(Xem: 3866)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 3171)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1044)
Trong Việt Nam Phật giáo Sử luận, tập một, khi bàn về sự liên hệ giữa thiền và thi ca, giáo sư Nguyễn Lang viết: “Thi ca không có hình ảnh thì không còn là thi ca nữa, cũng như đi vào lý luận siêu hình thì Thiền không còn có thể là Thiền nữa.” Nhưng thế nào là hình ảnh, giáo sư Nguyễn Lang giải thích: “Khi Vô Ngôn Thông được hỏi về Thiền và thiền sư, ông đã im lặng lấy tay chỉ vào một gốc cây Thoa lư. Thiền và thiền sư trong lãnh vực đàm luận có thể là những khái niệm trừu tượng, gốc cây Thoa lư là hình ảnh cụ thể của thực tại, nếu nhìn gốc cây Thoa lư trong trong chính thực tại của nó tức là đã xâm nhập thế giới Thiền và trở thành thiền sư. Các thiền sư không bao giờ muốn đưa học trò của mình vào thế giới suy luận trừu tượng”.[1]
30/01/2026(Xem: 3132)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.