Nửa Hồn Xuân

09/01/201213:23(Xem: 8610)
Nửa Hồn Xuân
canhdep_1a
NỬA HỒN XUÂN

(Truyện ngắn)
Thích nữ Tịnh Quang

“…Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.”
(Thôi Hộ)


Hoa-dao-8Thoáng chốc mà đã bamươi sáu năm, như ba sáu ngày nhẹ nhàng trôi trên dòng thời gian vô hình vunvút. Cũng một buổi chiều xuân với bầu trời trong vắt, ánh mặt trời rãi màu vànglốm đốm trong vườn đào đầy thơ mộng này, và cũng dưới cội đào già này, Đông và Xuânđã gặp nhau…Trái tim chàng từ đây đã trỗi nhịp yêu thương, thổn thức, mong chờ,và hồi hộp…tâm hồn của chàng đã là nửa hồn của nàng Xuân ngày ấy. Và giờ đây…“thờigian thiệt phũ phàng…!” chàng lẩm bẩm như kẻ vừa thức giấc sau một cơn mộng đẹp.Chàng ôm đầu tựa vào gốc hoa đào và nở một nụ cười nhạt nhẽo man dại, nhìn chântrời xanh xa xa, ký ức của chàng lui dần về quá khứ…

Đông nhớ rằng ngày ấy họcòn trẻ lắm, chàng và nàng chỉ mới hai mươi tư, tuổi của niềm đam mê và tràn đầyhứa hẹn…Chiều mồng hai tết Đông đi du xuân và gặp Xuân tại vườn đào kế bên nhànàng…Ánh nắng chiều biên biếc đã tô đẹp thêm nhan sắc của tuổi mộng mơ…họ nhìnnhau, lưu luyến nhau, và rồi ngàn lời thề non hẹn biển để xây đắp tổ uyên ươngkhi chàng đã hoàn tất công danh sự nghiệp của mình.

Nhưng nghịch cảnh đã đẩyđưa, họ tạm gác lại lời thề ấy. Đông và Xuân mỗi người một ngả, chàng ra đi cònnàng phải ở lại quê nhà.

Đông nhớ mồn một hômnao Xuân tiễn chàng lên máy bay, họ quàng vai nhau khóc sướt mướt, chàng biết rằngXuân yêu chàng lắm, nàng rất muốn khăn gói theo chàng nhưng ngặt một nỗi chanàng mất sớm, mẹ thì tật bệnh, nàng còn phải gánh buôn để nuôi mẹ và hai đứa emnhỏ dại nên không thể theo chàng; còn chàng chỉ có hai cha con và phải vâng mệnhcha để lên chuyến bay cuối cùng đến Mỹ vào tháng tư năm một chín bảy lăm...

Ba năm đầu định cư tạiMỹ chàng sống như cái xác không hồn, đêm mộng ngày mơ về quá khứ. Cha chàng bảo:“Con Xuân đã hớp hồn mày rồi!” Đúng vậy, Đông làm gì cũng thất bại không đâu rađâu, bởi hồn chàng chỉ còn một nửa, và một nửa là ở bên kia đại dương xa tít mùkhơi.

Đông rất mừng khi đi rađường gặp người Việt Nam; lúc chàng đang lái xe mà gặp một người châu Á đi bộbên lề đường là chàng quay xe lại, tấp vào lề và hỏi: “Are you Vietnamese?” Nếulà người Việt Nam chàng hỏi thăm đủ thứ chuyện, đặc biệt là chàng muốn biết khinào Việt Nam mở cửa cho Việt kiều về thăm quê cũ.

Mùa xuân năm thứ nhất…thứ hai… thứ ba…trôi đi, rồi đến xuân thứ tư…xuân thứ năm… từng đàn én lượn xônxao khi chiều đến, nhưng trong lòng chàng vẫn trĩu nặng một nỗi buồn u uẩn khibên kia bờ vẫn bặt vô âm tín, chàng không còn hy vọng trở về Việt Nam, chàngkhông còn hy vọng xây đắp lời thề; chàng nghĩ rằng cha mình cho rằng mình‘hoang tưởng’ là đúng… Thế rồi Đông tự vực dậy cuộc đời mình, lo làm ăn và lậpgia thất để không làm buồn khổ cha của chàng nữa.Tuy nhiên trong tâm chàng luônao ước cho Xuân vạn sự an lành và hạnh phúc, và lời thề kia chàng xin hẹn lạikiếp lai sinh tới.

Chuyện quá khứ tưởng chừngnguôi ngoai như thuyền đã ra khơi, thời gian đã sang trang mới; nhưng đầu mùaxuân năm thứ hai mươi mốt Đông nhận được lá thư của Xuân từ một người bạn họccũ của Đông vừa sang nhập cư. Đọc thư Xuân, biết nàng vẫn còn mạnh khỏe, nàngkhông có gì thay đổi, vẫn còn chiết bóng lẻ loi, biết nửa hồn của Xuân vẫn cònthuộc về chàng…Đông đau đớn lắm…

Như vết thương đã lành theothời gian nay lại tái phát, chàng đã tiếp tục tơ tưởng về quá khứ…về một chiềuxuân bên cội hồng đào, về những tháng ngày mặn nồng hò hẹn, về những tình thưđang còn dang dở, về những ngôn từ chan chứa ngàn lời yêu thương…chàng bị ám ảnhvới vẻ mặt ngọc mày ngà, với “dáng buồnnhư cúc, điệu gầy như mai” của Xuân…ký ức chàng trỗi dậy, chàng phải tìm đến hộpđêm và men rượu để giải sầu, và chàng không còn tha thiết đến vợ con nữa…Cuốicùng chàng đã từ bỏ tất cả và sống với chiếc bóng quá khứ “ma quái” của mình.

Và trong căn hộ đơn chiếcĐông đã gặp lại ngày xuân quá khứ của chàng. Hằng năm cứ mỗi mùa xuân là chàngnhận được chiếc áo ấm chính tự tay Xuân đan cho chàng. Chiếc áo không đẹp nhưnhững chiếc áo ấm tân thời, nhưng chàng vẫn thích chờ đợi mỗi mùa xuân đến đểcó thêm chiếc áo mới. Chàng hồi hộp khi nhận món quà đúng vào ngày cuối đông,sinh nhật của chàng. Chàng nhẹ nhàng cẩn thận mở nó, không dám nặng tay để hư bao bì bên ngoài, chàng quí trọng từng kỷ vật“thiêng liêng” của tình yêu mà Xuân gởi tặng cho chàng….Chàng đưa tay nhẹ nhàngvuốt ve chiếc áo nơi có thêu hai tên Đông Xuân với màu tím nhạt lấp ló sau haitrái tim đỏ gắn liền nhau, chàng ôm chiếc áo vào lòng rồi ngửi mùi áo mới,chàng thoảng nghe rằng hương xuân vẫn mãi còn đâu đây như chưa từng biến động.Mỗi năm chàng mặt một chiếc áo mới, mỗi năm là một sắc màu tươi trẻ. Những chiếcáo len cũ chàng cho vào tủ kiếng khóa chặt cẩn thận như sợ rằng ai đó vô tình đụngvào báu vật của chàng.

Mùa xuân năm nay Đôngcó thêm chiếc áo len thứ mười lăm, chàng không muốn như trẻ thơ cứ mãi hồi hộp chờđợi những món quà của người thương khi mùa xuân đến nữa. Chàng đã về hưu, chàngmuốn tận hưởng những giây phút hạnh phúc thực sự của tuổi xế chiều, chàng muốnhai mảnh hồn đơn ghép lại thành ánh trăng vàng giữa bầu trời tâm mông lungnày…Chàng không thể chịu đựng được nỗi cô đơn cứ dai dẳng đeo bám chàng, chàngphải sống với sự thực, chàng phải đem Xuân trở về với chàng để đêm sớm có nhaucho đời thôi quạnh quẽ.

Đông say sưa nhìn vào tấmhình mà Xuân mới gởi cho chàng, chàng ngớ ngẩn và đê mê trước nhan sắc vượt thờigian của Xuân, nàng như một cô tiên “chim sa cá lặn”, mắt biếc mày xanh và đôimôi chín mọng kia vẫn còn quyến rũ bao kẻ si tình như chàng. Chàng không muốnmình là kẻ nhút nhát yếu đuối nữa, chàng phải tự quyết định tình yêu của mình,chàng phải có tinh thần “nam nhi chi chí”…

Chàng bấm số điện thoạigọi cho Xuân và đi thẳng vào vấn đề…và chàng chờ đợi tin vui từ câu trả lời củaXuân…Lặng thinh một giây lâu rồi bỗng chốc Xuân sặc cười và nói: “Đông ơi làĐông, anh đang đùa hay đang điên thế…? Chàng rưng rức van nài một lần nữa, Xuântrả lời một cách dứt khoát: “Tốt nhất là chúng ta đừng bao giờ gặp nhau nữa nhé!”và nàng luống cuống tắt máy.

Như một gáo nước lạnh tạtvào mặt, chàng giận và hận nàng lắm. Suốt đêm chàng không sao ngủ được, chàngnghĩ đúng là hoa hồng càng đẹp gai càng nhọn! Chàng không hiểu vì sao nàng lạisợ hãi sự thực, sợ hãi tình yêu và hôn nhân trong khi Xuân cũng đã yêu chàng vàhọ đã có lời thề sắc son từ thuở ban đầu lưu luyến ấy kia mà. Chàng là Việt kiều,chàng có thể về Việt Nam hay bất cứ nơi đâu để cưới cô gái xin đẹp tuổi mườitám đôi mươi nếu chàng muốn. Đông nghi ngờ nàng…Phải chăng nàng đã dối lừachàng (?) Phải chăng nửa hồn của Xuân đã cập vào một bến lạ…(?) và chàng muốn đitìm sự thực, chàng muốn biết sự thực. Chàng muốn gây sự bất ngờ đối với Xuân….

…Mệt mõi qua hai chuyếnbay về Việt Nam, chàng vẫn không ngủ được, có lẽ không quen khí hậu và thời giờkhác biệt giữa Việt Nam và Hoa kỳ vì chàng từ giã nó đã ba mươi sáu năm, và điềuquan trọng nhất là những thao thức mà chàng dự tính cho ngày mai. Đông bước rakhỏi giường rất sớm, tắm rửa sạch sẽ, gọi người lao công khách sạn mua chochàng một tô phở điểm tâm, xong chàng mở máy laptop để xem tin tức Hoa Kỳ quanhững trang web hải ngoại như thường lệ….đến chín giờ chàng có cuộc hẹn với nhữngngười bạn cũ và đi ăn trưa tại một nhà hàng hải sản cùng họ, xong chàng trở vềlại khách sạn.

Đông đến trước tủ kiếnglớn để nhìn ngắm dung nhan của mình: “mắt to, mũi thẳng, da trắng nổi bật bênmàu tóc đen lóng lánh vừa mới nhuộm và chải keo mềm, dù có không ít vết nhăntrên khuôn mặt và những dấu chân chim tơi bời ở đuôi mắt…không sao, ta vẫn cònbảnh bao lắm, đàn ông ở độ tuổi này có được khuôn mặt thanh lãm và vóc dáng nhưta cũng hiếm…” chàng tự nhủ. Chàng đeo kiếng nâu Ray-Ban, diện bộ com-lê Francexanh với chiếc cà vạt đỏ thẩm, mang đôi giày đen bóng láng hiệu Canali Italy vàkhông quên xức nước hoa Sexy Men. Chàng bước ra khỏi khách sạn và gọi taxi đưachàng về hướng Bình Chánh vùng ngoại ô Sài Gòn, nơi có vườn đào thơ mộng nằm cạnhcăn nhà bé nhỏ của Xuân.

“Hôm nay là ngày mồnghai tết, ba mươi sáu năm trước cũng vào một chiều xuân ngày này ta và em gặpnhau ở vườn đào thơ mộng, không biết cội đào già kia có còn ra hoa không? Khôngbiết chim trên cành có còn reo vui khi mình gặp gỡ…?” hàng trăm câu hỏi cứ lẩnthẩn trong đầu chàng với ngày trở về “bí ẩn” này. Qua cửa kiếng xe, chàng ngướcnhìn bầu trời xanh bình lặng, những cụm mây trắng nổi trôi tạo thành dáng vẻthướt tha của kiều nữ ở độ tuổi xuân thì và chàng mường tượng đó là Xuân-Xuânchưa từng phai, Xuân đẹp mãi nghìn đời.

Ô kìa đây rồi! Đông bướcxuống xe, chàng lặng người một giây lâu để ngắm vườn đào không gì thay đổi. Chàngkhông biết nó là vườn đào của ba mươi sáu năm hay người ta mới trồng lại trongnhững năm gần đây. Chàng tới gốc gây đào xưa và thẩn thờ ngắm những cánh hoađào phơi sắc trong nắng và gió, những nụ hoa hồng thắm vừa mới nở e ấp duyêndáng như mời gọi chàng; khẽ lung linh trong gió mới, những cánh hoa đu đưa khiếncho bóng nắng cứ vờn qua vờn lại như những bức tranh di động muôn màu. Chàng nângmột nụ hoa rồi hôn lên nó, hít vào thật sâu để tận hưởng trọn vẹn hương hoa củangày xuân chớm nở; chàng nhắm mắt lặng nghe tiếng chim hót, tiếng gió thì thàobên những cành đào xuân thì, chàng mơ màng dư âm ngày cũ đâu đây hiện về trongphút giây thực tại…Chàng run rẩy với hạnh phúc đơn sơ mà chàng đã bị tuột mấtqua những tháng năm dài ray rức.

Chậm rãi, Đông bước tớicuối vườn đào và đi về hướng trái, căn nhà của Xuân hiện ra với tường sơn xanhmới tinh thay vì đó là ngôi nhà gỗ cũ kỹ; chàng móc địa chỉ trong túi áo ra vàdò lại số 5/35, ‘đúng rồi’. Chàng gõ cửa…tim chàng đánh thình thịch và chàng phảiôm chặt bó hoa hồng vì sợ nó bung ra khỏi tay chàng; tiếng chốt sắc vừa kéo lên,cánh cửa mở tung, một phụ nữ già run rẩy chống gậy, chân tay khô đét, đầu tóclưa thưa trắng phau, mặt xệ da nhăn, đôi mắt lem nhem, răng rụng gần hết, móm méohỏi chàng sau một cơn ho sặc sụa:

- Ông muốn tìm ai?

Đông lễ phép nói:

-Dạ thưa, cháu muốn gặpXuân cụ ạ.

-Tui chính là Xuân đây,ông cần gì?

Bà ta vừa trả lời vừaráng nhướng to đôi mắt để nhìn chàng.

Chàng chợt nhận ra giọngnói quen thuộc, khựng một lúc… rồi chàng lấp bấp:

-x…in…l…ỗi!

Bó hoa hồng vụt rơi xuốngđất, chàng lảo đảo bước nhanh về phía vườn đào như bị ma rượt…

Đến gốc cây đào cũ,Đông quỵ xuống và cảm thấy toàn thân rã rịu, một lúc sau chàng như sực tỉnh mộtđiều gì đó rồi cười như điên dại với chính chàng. Chàng há hốc mồm nhìn lên cànhxuân, những cánh đào tơ vẫn đang phơi phới khẽ gọi nửa hồn xuân, chàng lẩm bẩm:“Đào hoa y cựu tiếu đông phong!”

Một tiếng chuông chùa vừađổ ở bên kia đồi. Đông đứng dậy hướng về phía ngôi cổ tự heo hút cuối trời tây,chàng lững thững bước trên cái bóng xiêu vẹo của chính mình khi chiều đã ngãvàng nắng nhạt.

TN.TịnhQuang

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/02/2026(Xem: 3168)
Ngày 1 tháng 2 năm 2026, trong căn phòng tĩnh lặng nơi Ôn Phước An đang điều trị tại Bệnh viện 22/12 Thành phố Nha Trang, hình ảnh Thượng Tọa Giác Nghĩa (trụ trì Chùa Vạn Đức & Chùa Phước Trí, Nha Trang) cầm quyển Kinh Nhật Tụng, chậm rãi tụng Kinh Kim Cang âm Hán–Việt, đã trở thành một khoảnh khắc không thể nào quên.
04/02/2026(Xem: 2355)
Là một nữ tu sĩ chân yếu tay mềm, Phật sự đa đoan, lòng tôi vẫn cảm thấy tràn đầy nguồn an ủi vô biên trong những lúc mệt nhọc. Những ngày gần đây, các bài thơ trong tập thơ Hoa Thiền, mang tâm ý Phật Pháp, được Cô Đặng Lan và các thi sĩ ngâm vịnh, được Phật tử Tâm Nghiêm đọc vào đĩa, được Nhạc sĩ Nguyễn Nhật Tân phổ nhạc… với những niềm khích lệ đó, khiến tôi cố gắng sáng tác thêm những vần thơ mới. Và hôm nay, tập thơ Hoa Thiền tái bản, mang vóc dáng trang trọng, gói trọn một nội dung hồn thơ và ý nhạc, khiến cho lời thơ nhẹ nhàng bay vút khắp nơi và tuôn chảy vào tận cõi lòng người. Tôi xin chân thành cảm nhận tất cả và trân trọng khắc ghi vào lòng một kỷ niệm đẹp trong suốt hành trình dấn thân vì Đạo. 🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
04/02/2026(Xem: 2603)
Tôi có thói quen, sau khi tụng kinh buổi sáng xong, thường ngồi uống một ly trà trước khi dùng điểm tâm. Vừa uống trà, tôi vừa lướt qua trang Thắng Hoan Thi Tập và tình cờ đọc được bài thơ Thiền Trà của Hòa thượng. Tôi cảm thấy thú vị và bỗng dưng nhớ Hòa thượng. Tôi nhớ không phải vì sự bịn rịn của thế gian, mà nhớ cái đức, cái tài và cái tính hào sảng của Ngài.
02/02/2026(Xem: 3545)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
31/01/2026(Xem: 1382)
Trong giáo lý Duyên khởi, một đóa hoa sen nở không tự nhiên mà có, nó kết tinh từ bùn nhơ, nước sạch, ánh sáng và bàn tay người chăm sóc. Cũng vậy, sự vững chãi của Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu hay Âu Châu hôm nay không tự nhiên thành hình, mà chính là kết quả của những nhân duyên thâm sâu, được vun bồi bởi những bước chân hoằng pháp không biết mỏi mệt của các bậc Cao tăng. Trong số đó, Hòa thượng Thích Như Điển - Phượng trượng chùa Viên Giác tại Đức Quốc - hiện thân như một “Như Lai sứ giả”, viết tiếp những trang sử truyền bà Phật pháp huy hoàng của Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại.
30/01/2026(Xem: 3775)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 3022)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 999)
Trong Việt Nam Phật giáo Sử luận, tập một, khi bàn về sự liên hệ giữa thiền và thi ca, giáo sư Nguyễn Lang viết: “Thi ca không có hình ảnh thì không còn là thi ca nữa, cũng như đi vào lý luận siêu hình thì Thiền không còn có thể là Thiền nữa.” Nhưng thế nào là hình ảnh, giáo sư Nguyễn Lang giải thích: “Khi Vô Ngôn Thông được hỏi về Thiền và thiền sư, ông đã im lặng lấy tay chỉ vào một gốc cây Thoa lư. Thiền và thiền sư trong lãnh vực đàm luận có thể là những khái niệm trừu tượng, gốc cây Thoa lư là hình ảnh cụ thể của thực tại, nếu nhìn gốc cây Thoa lư trong trong chính thực tại của nó tức là đã xâm nhập thế giới Thiền và trở thành thiền sư. Các thiền sư không bao giờ muốn đưa học trò của mình vào thế giới suy luận trừu tượng”.[1]
30/01/2026(Xem: 3023)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
30/01/2026(Xem: 1441)
Tác giả Thích Phước An vừa có cuộc hội ngộ vào sáng 18-11 cùng bạn đọc tại Sài Gòn trong cảm xúc hướng về văn hóa Phật giáo Việt Nam, nhân dịp tập sách Đường về núi cũ chùa xưa được tái bản.