Kiếp Lá Mùa Thu...

05/09/201504:16(Xem: 9641)
Kiếp Lá Mùa Thu...

 Mua Thu 7

Kiếp Lá Mùa Thu...

 

Gió Thu bay, lá vàng chưa muốn rụng

Như muốn thấy, những gì mùa Thu mới

Rồi cũng rụng, hành trình một cuộc đời

Kiếp của lá! Hẹn nhau mùa Xuân tới!

 

Tk. Thích Liễu Nguyên

 

Bình thơ:

 

Kiếp Lá Mùa Thu: Là chỉ cho mọi sự vật vô thường mong manh, chóng tan. Nếu ai chưa thấy rõ vô thường thì một chiều thu, hãy quan sát những chiếc lá trong cơn gió nhẹ, sẽ thấy nó mong manh, rồi thay nhau lìa cành thế nào!

 

Câu thơ 1: Gió thu bay, lá vàng chưa muốn rụng: Khi đến mùa Thu thì bắt đầu có gió nhẹ! Trải qua 3 tháng khô héo của mùa Hạ, những chiếc lá Xuân trải qua 6 tháng nay đã úa vàng. Chỉ cần một cơn gió nhẹ mùa Thu thổi qua cũng đủ khiến nó lìa cành, chấm dứt một kiếp ngắn ngủi của Lá. Thế nhưng, những chiếc lá đầu Thu như chưa muốn lìa cành bởi vì:

 

Câu thơ 2: Như muốn thấy những gì mùa Thu mới: Có lẽ những chiếc lá nào cũng muốn trãi qua hết mùa Thu, mới chấp nhận lìa cành. Nhưng không phải chiếc lá nào cũng may mắn như vậy và những chiếc lá đầu Thu đã rơi, có những chiếc lá lại rơi giữa mùa Thu. Khi đến cuối Thu thì chúng ta thấy muôn ngàn lá Thu rơi đều cho đến trơ cành khi Đông về.

 

Câu thơ 3: Rồi cũng rụng, hành trình một cuộc đời. Cũng vậy, với kiếp người không phải ai cũng may mắn như những chiếc lá cuối Thu mà có rất nhiều người trẻ chết từ khi còn bé thơ vì nghiệp này hay nghiệp khác... Lại có người chết lúc đôi mươi...và rồi đến lúc già thì ai cũng phải chết như ngàn lá cuối Thu kia đều rụng xuống đất. Ôi! vậy đâu phải chỉ kiếp Lá mùa Thu có số phận mong manh đáng thương mà tất cả chúng ta đều vô thường mong manh đáng thương như vậy.

 

Câu thơ 4: Kiếp của Lá, hẹn nhau mùa Xuân tới: Lá rụng mùa Thu nhưng hẹn gặp mùa Xuân. Vì đến mùa Xuân lá thu kia lại trở về. Cũng vậy chết không phải là hết mà như mùa Thu thay lá. Lá thu rụng xuống dưới góc cây làm dinh dưỡng cho cây, khi mùa Xuân về thì cây kia đâm chồi, trổ lá. Đó là vòng luân hồi của lá và kiếp sống của chúng sanh muôn loài cũng vậy. Chết không phải là hết mà Tứ Đại trả về cho Tứ Đại: Đất, Nước, Gió, Lửa, còn nghiệp lực thì tuỳ duyên, tuỳ vào sở nguyện của từng người mà đi thọ thai. Ôi! Hiểu được kiếp của Lá sao giống kiếp của chúng ta đây!

 

Chùa Việt Nam – Los Angeles

Mãn Hạ - Đầu Thu: 2015

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/01/2012(Xem: 29135)
Ánh sáng từ trái tim trong sáng (clear heart) của vị thiền sư đang thiền định từ nửa đêm đến gần rạng sáng đã trở thành ánh trăng, và bởi vậy, trăng vẫn sáng...
09/01/2012(Xem: 9189)
Thoáng chốc mà đã bamươi sáu năm, như ba sáu ngày nhẹ nhàng trôi trên dòng thời gian vô hình vunvút. Cũng một buổi chiều xuân với bầu trời trong vắt, ánh mặt trời rãi màu vàng lốm đốm trong vườn đào đầy thơ mộng này, và cũng dưới cội đào già này, Đông và Xuân đã gặp nhau…
08/01/2012(Xem: 11031)
Người,cũng là muôn loài trong cái thế giới ta bà, vẫn mang tứ khổ của cuộc đời, vẫnphải chịu bao cảnh trầm luân, vẫn phải nỗ lực tu tập để thoát khỏi luân hồi.Tôi cũng thế. Có lúc tôi chịu đớn đau, chịu bao phiền não. Tôi nào thoát đượcchốn trần gian đầy khổ ải...
07/01/2012(Xem: 7183)
Chiều nay, chủ nhật 25/5/2003, dù trời Sydney đổ mưa từng cơn nặng hạt, nhưng vẫn không làm chùn bước người về tham dự buổi phát hành Thi phẩm Giấc mơ Trường Sơn của Thầy Tuệ Sỹ, được long trọng tổ chức tại Trung Tâm Tiếp Tân Crystal Palace, Canley Heights, tiểu bang NSW, Úc Châu.
27/12/2011(Xem: 8033)
Trong việt nam phật giáo sử luận, tập một, khi bàn về sự liên hệ giữa thiền và thi ca, giáo sư Nguyễn Lang viết: “Thi ca không có hình ảnh thì không còn là thi ca nữa, cũng như đi vào lý luận siêu hình thì thiền không còn có thể là thiền nữa.”
07/12/2011(Xem: 5177)
Tôi có thói quen cứ những ngày cuối năm thường thích lật những chồng thư cũ của bạn bè ra đọc lại, thích tìm kiếm dư âm của những tấm chân tình mà các bạn đã ưu ái dành cho tôi. Lá thư của anh vẫn gây cho tôi nhiều bâng khuâng, xúc động và ngậm ngùi nhất!
27/10/2011(Xem: 32987)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
04/10/2011(Xem: 6584)
Vài năm qua trên báo chí và sách vở xuất hiện một số thảo luận về câu niệm (Nam Mô) A Di Đà Phật hay (Nam Mô) A Mi Đà Phật. Có lẽ khởi đầu từ cuốn "Hương Sen Vạn Đức" của HT Thích Trí Tịnh1(2006), và "Ý Nghĩa Hoằng Pháp và Hộ Pháp" của tác giả Diệu Âm - Diệu Ngộ được ghi nhận trong bài viết trên mạng Thư Viện Hoa Sen (21/6/2011). Phần này chú trọng đến sự khác biệt ngữ âm giữa Di (trong A Di Đà Phật) và Mi (trong A Mi Đà Phật) và không đi vào chi tiết các giáo pháp liên hệ cũng như phạm vi tâm linh tín ngưỡng dân gian. Thanh điệu ghi bằng số ngay sau một âm như số 3 trong min3 hay mǐn (giọng Bắc-Kinh hay BK ghi theo hệ thống pīnyīn thông dụng hiện nay), không nên lầm với số ghi phụ chú (superscript) như min3; dấu hoa thị * (hình sao/asterisk) đặt trước một âm tiết để chỉ dạng cổ phục nguyên (reconstructed sound). Hi vọng bài này cho thấy phần nào khuynh hướng ngạc hóa nói riêng, văn hóa ngôn ngữ Phật giáo nói chung đã đóng góp không nhỏ trong quá trình hình thành tiếng Việt hiện đại.
19/09/2011(Xem: 13240)
Những ai đã đạt được lòng từ bình đẳng tuyệt đối như vậy thì chẳng những đã đạt được an vui cho chính bản thân mình mà tình thương ấy còn lan toả đến tất cả, kể cả những kẻ khuất mặt đang sống trong tối tăm mà lòng lúc nào cũng sục sôi căm thù nữa.
28/08/2011(Xem: 5447)
Tình mẹ và con, một tình yêu thiêng liêng trong nhân loại. Tình yêu ấy gắn bó thiết tha như sóng và nước. Nước là mẹ và sóng là con. Sóng ôm lấy nước...