01. Ký ức ngàn năm

23/11/201204:48(Xem: 6216)
01. Ký ức ngàn năm

Đường lên Tây Tạng

Nguyễn Tập

Kỳ 1:
Ký ức ngàn năm

duonglentaytang-01
Trước lăng mộ Tần Thủy Hoàng
TT - Chỉ cần search chữ “Tibet” (Tây Tạng), 6.780.000 trang web (nước ngoài), 11.900 (trang web tiếng Việt) có liên quan đã hiện lên trong chớp mắt. Ngoài đường hàng không thông dụng gần như tuyệt đối, muốn đến Lhasa (Tây Tạng) bằng đường bộ trên lý thuyết có bốn đường: từ Vân Nam, Thành Đô, Tây Ninh (tỉnh Thanh Hải), Urumqi (Tân Cương).

Chuyến đi hay đấy, nhưng... khùng!

Đường từ Vân Nam chưa nghe có ai đi vì quá quanh co, hiểm trở, sương mù dày đặc. Từ Urumqi đi Lhasa phải qua hai con đèo cao trên 6.000m, mất vài ngày. Đường 109 từ Thanh Hải đi Lhasa khả thi nhất vì tốn ít thời gian hơn.

Khi biết chúng tôi dự định đi Tây Tạng, mọi người ai cũng bảo: “Hay đấy! Nhưng... khùng”. Họ nói có cơ sở vì mùa xuân, hạ, thậm chí thu là mùa du lịch. Nhưng gần như không có sách hoặc người nào khuyên nên đi du lịch vào mùa đông, nhất là Tây Tạng, nơi mà nhiệt độ xuống đến âm vài chục độ là bình thường.

“Đi giữa thảo nguyên bao la, hoang vu không một bóng người, xa xa là dãy núi phủ tuyết trắng xóa. Biết thêm về một Tây Tạng khác vào đông... chẳng phải có cảm giác mạnh hơn sao?”. Nói vậy không có nghĩa là đi “mò”.

Càng gần ngày đi chúng tôi càng theo dõi liên tục Đài Phượng Hoàng, CCTV4 (chương trình truyền hình Trung Quốc) để xem nhiệt độ. Năm nay trời lạnh quá nhanh, mới cuối tháng mười mà có nơi nhiệt độ đã xuống 00C. Trước đó vài ngày tuyết đã phủ trắng xóa tại Thanh Hải, Cách Nhĩ Mộc (những địa danh sẽ đi qua). Bò, cừu, người chết hàng loạt vì lạnh đột ngột.

Chuẩn bị sẵn mười đôi vớ, tám chiếc áo lạnh, áo thu đông, khăn len che kín đầu và tai... cũng chỉ là “liệu pháp tinh thần”, hạn chế đến thấp nhất những gì không hay có thể xảy ra. Tôi lại phải lọ mọ lôi lại đống dây nhợ, sách cũ từ thời còn sinh hoạt tại Hội Du khảo trẻ TP để “dượt” lại những kỹ năng: xem sao, nút dây, dựng lều, tìm đường... phòng khi bất trắc.

Gần hai tháng trước khi đi, tôi thường rủ đám bạn đạp xe lên Hóc Môn, Củ Chi để khởi động, luyện lại gân cốt, sức dẻo dai...Tất cả đều chuẩn bị sẵn sàng một cách tốt nhất cho chuyến đi được dự báo là khá gian nan.

Trung tuần tháng mười một, tôi và anh Kim Sơn lên đường. Ra đến Hà Nội thì được biết chuyến tàu liên vận từ Hà Nội đến Nam Ninh - Trung Quốc (2 chuyến/tuần) đã hết vé. Không thể chờ đợi, chúng tôi quyết định lên xe đò xuống Hạ Long rồi bằng tàu cánh ngầm đến biên giới Móng Cái qua cửa khẩu Đông Hưng, rồi đi xe lên Nam Ninh, đi tàu lên Tây An. Thật khó tin: đi lên vùng đất cao nhất thế giới lại được khởi đầu bằng tàu biển (?!).


Sang - hèn vùng đất thánh

Điểm đầu tiên của con đường lữ hành đi về vùng đất chư thiên chính là Trường An (ngày nay là thủ phủ Tây An của tỉnh Thiểm Tây).

Nơi đây, năm 641, vua Tây Tạng là Tùng Tán Cương Bố (Songtsen Gampo) đem quân đến vây thành Trường An và “ép” vua Đường Thái Tông gả công chúa Văn Thành - người mang đến Tây Tạng một báu vật: bức tượng Phật Thích Ca bằng vàng (hiện đang được thờ tại ngôi đền Đại Chiêu - Jokhang - linh thiêng nhất Tây Tạng).

Đây cũng chính là điểm xuất phát của con đường tơ lụa cổ đại với từng đoàn thương nhân, ngựa, lạc đà mang theo không chỉ hàng hóa mà còn là một nền văn hóa phương Đông đến tận trời Âu…

Khi chúng tôi đến nơi thì cố đô Tây An vẫn còn chưa thức giấc. Cái lạnh cắt da, thay đổi một cách đột ngột trong năm nay khiến mọi người chẳng muốn ra đường. Vừa bước ra khỏi nhà ga, đập vào mắt chúng tôi là một bức tường thành sừng sững với giàn giáo ngổn ngang.

Thì ra, có lẽ muốn gây ấn tượng thêm về cổ thành Trường An năm xưa, chính quyền Tây An đã xây mới (giả cổ) một bức tường thành vĩ đại (“nhái lại” như khuôn đúc bức tường thành còn sót lại thời Đường).

Con đường vắng lặng như tờ. Chỉ vài bóng người thấp thoáng, lầm lũi đạp xe trên đường. Còn những hàng cây khẳng khiu trụi lá trước gió đông khắc nghiệt, tòa thành xám xịt “thật” đang sừng sững như nghênh chào chúng tôi - hai gã trai từ phương nam xa tít mù đến thành đô xưa để khởi đầu cho chuyến đi dài thăm thẳm.

Mở cuốn Lonely planet(sách hướng dẫn du lịch nổi tiếng thế giới) tìm một chỗ trọ giá thấp nhất tôi bỗng giật mình: phòng đôi bình thường 680 tệ/ngày (khoảng 1,3 triệu VND), trong khi thực tế thì… biến hóa khôn lường. Tại nhà ga, sân bay luôn có sẵn một đội tiếp thị về chỗ ở, nơi du lịch... hùng hậu, xinh xắn, khả năng ngoại ngữ tốt.

Họ sẵn sàng giới thiệu những chỗ trọ với giá cả khá mềm (thậm chí chấp nhận lỗ tiền phòng) nhưng sau đó đưa ra những tour du lịch tại Tây An. Nơi ở rẻ, các cô gái xinh xắn nói chuyện ngọt như mía lùi thì ai lại nỡ từ chối tham gia những tour du lịch họ đưa ra. Khách gật đầu và... dính chấu. Lỡ tham gia tour của họ là bạn phải chấp nhận trả thêm rất nhiều khoản phí phát sinh.

Với kinh nghiệm của người bạn đường Kim Sơn - một “con ma xó” quá hiểu biết về Trung Hoa (nên được gọi là Sơn “Trung Quốc”), chúng tôi chẳng trông mong gì tìm được một nhà trọ mặt đường vừa túi tiền kẻ lang bạt.

Sau hơn một tiếng lết bộ trong các ngõ nhỏ cùng với chiếc balô du lịch nặng trĩu, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được cho mình một chỗ trọ lý tưởng: phòng hai giường có hệ thống sưởi với giá bất ngờ: chỉ 40 tệ/ngày (khoảng 80.000 VND), rẻ hơn 15 lần so với Lonely planet(dĩ nhiên chất lượng không thể sánh bằng), chỉ hơi phiền là phải dùng nhà vệ sinh công cộng... dơ không chịu nổi!


Đối mặt Binh Mã Dũng

duonglentaytang-02
Bộ xe ngựa bằng đồng cực kỳ tinh xảo đã gây kinh ngạc thế giới về kỹ thuật đúc đồng từ thời Tần
Nói đến Tây An là người ta nói đến Binh Mã Dũng - khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng. Nằm cách Tây An khoảng 30km, muốn đến đấy bằng cách rẻ nhất thì tìm xe buýt số 306 giá chỉ 8 tệ/ người (khoảng 16.000 VND) cho cả hai chuyến đi lẫn về, 10 phút có một chuyến. Bãi xe lớn chứa cả vài trăm chiếc xe chật ních trước lăng mộ Tần Thủy Hoàng.

Mùa đông nhưng nơi đây vẫn đông đúc khách vì đó là nơi yên nghỉ của người mà hơn 2.000 năm trước đã kết nối các tường thành của sáu nước để biến nó thành một kỳ quan thế giới mà không một người Trung Hoa nào không cảm thấy tự hào khi nhắc đến: Vạn lý trường thành! Cũng chính ông đã tạo ra đội binh mã dũng được xem như kỳ quan thứ tám của thế giới.

Khi đến nơi, dù đã nghe nói khá nhiều nhưng chúng tôi cũng thật sự sững sờ: ba căn hầm khổng lồ, mỗi hầm lớn như một sân vận động đang chứa hàng ngàn người lính đất nung to bằng người thật với vóc dáng cực kỳ uy mãnh. Mỗi bức tượng đều có gương mặt diễn tả tâm trạng khác nhau, sống động đến không ngờ.

Tùy theo chức vụ mà trang phục, thế đứng của mỗi bức tượng được tái hiện phù hợp. Thế mà nhà khảo cổ đứng cạnh cho biết đây chỉ là một phần nhỏ nằm ngoài rìa ngôi mộ, đỉnh mộ chính là ngọn đồi nằm cách đây khoảng 1km.

Sau khi khai quật được ba hầm mộ vĩ đại (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) này, Chính phủ Trung Quốc đã thông báo tạm ngưng vì “chưa có biện pháp thật sự hữu hiệu để bảo vệ những di sản này”. Dù hiện nay mỗi hầm mộ đã được xây hẳn một cụm công trình để bảo vệ rất kín đáo và nghiêm túc. Đây là di tích lịch sử được bảo vệ nghiêm ngặt nhất ở Trung Quốc, đồng thời cũng là di tích được khai thác dè dặt nhất.

Năm ngoái có người bạn cũng tham quan Binh Mã Dũng về khoe với tôi tấm hình chụp chung với các tượng đất nung rất đẹp. Lúc đó tôi cũng hơi ngạc nhiên vì sao một di sản quốc gia lại có thể để mọi người bá vai bá cổ chụp hình “thân tình” đến thế. Đến đây mới biết những tấm hình đó đã được chụp tại studio ngay trong khu lăng mộ. Studio này làm sẵn những bức tượng nhái (giống như đúc) để phục vụ du khách. Giá khá mắc nhưng khách đông nườm nượp. Âu cũng là một cách kinh doanh hay.

Tuy nhiên, một trong những điều kinh ngạc nhất khi đến đây không phải là những di tích của khu lăng mộ (điều này tôi đã hình dung được qua sách báo, phim ảnh) mà chính là cụm công trình bảo tồn, trưng bày hiện vật. Chỉ riêng nó đủ là một công trình kiến trúc có giá trị. Tất cả đều được làm đến mức hoàn hảo.

Có phòng chiếu video vòm với 10 màn ảnh cực lớn, tái hiện lịch sử khu lăng mộ, trong các phòng trưng bày có các máy vi tính để có thể tra cứu bất cứ thông tin liên quan, có cảnh sát túc trực bảo vệ 24/24…Vì thế, dù giá vé vào cổng 90 tệ/người (khoảng 180.000 VND) nhưng ai cũng cảm thấy xứng đáng.

Sử sách có ghi rằng lăng mộ Tần Thủy Hoàng được khảm đầy kim cương và ngọc trai, phía trên trần thể hiện mặt trăng, mặt trời và những vì sao. Chim chóc được tạc bằng đá quý, đặt trong các khu rừng thông làm bằng ngọc lục bảo, các dòng sông chảy trong lăng mộ chứa đầy thủy ngân…

Thực hư thế nào không biết nhưng đối diện thực tế mới thấy điều đó còn quá bé nhỏ so với giá trị văn hóa thật sự mà nó đem lại.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/10/2014(Xem: 7462)
Ngạn ngữ Tây phương nói: “ Cái Tôi là cái đáng ghét” ( Le moi est haissable). Mặc dù là một câu nói được nhiều người biết, nhưng đó mới chỉ là nhận xét hời hợt về cái gọi là Cái Tôi. Đối với ngươi Đông phương, từ mấy ngàn năm nay, Cái Tôi được các nhà hiền triết Ấn Độ, Trung Hoa khám phá và theo dõi rất kỹ lưỡng và sâu sắc; đến nỗi họ mới lập nên một nền triết học về Bản Ngã, về Cái Tôi của con người; với chủ trương: muốn hạnh phúc thì phải giải thoát bản thân khỏi những ràng buộc của Cái Tôi, hoặc chuyển hóa “Cái Tôi Rác Rưỡi” trở thành Cái Tôi thanh khiết, chân thiện. Đặc biệt, đạo Phật dạy phải nỗ lực diệt trừ “lòng chấp ngã” và luôn luôn đề cao tinh thần Vô Ngã như là một trong Tam Pháp Ấn.
02/10/2014(Xem: 6128)
Kinh có ghi lại một cuộc đối thoại giữa du sĩ khổ hạnh Vacchagotta với đức Thế Tôn, và cuộc đối thoại này rất thiền. Vacchagotta tới thăm Bụt. Ông hỏi: - Này sa môn Gautama, có một linh hồn hay không? Bụt im lặng không trả lời. Lát sau Vacchagotta hỏi: - Như vậy là không có linh hồn phải không? Bụt cũng ngồi im lặng. Sau đó Vacchagotta đứng dậy chào và đi ra. Sau khi Vacchagotta đi rồi, Thầy A Nan hỏi Bụt: - Tại sao Thầy không trả lời cho Vacchagotta? Và Bụt bắt đầu cắt nghĩa…
30/09/2014(Xem: 5883)
Ánh hào quang Phật giáo Việt-nam ở cuối triều đại nhà Nguyễn (Khải Định, Bảo Đại) dần dần ẩn mình trong ốc đảo Tịnh Độ, chùa chiền và cá nhân phật tử không còn được sinh hoạt rộng rãi ra xã hội như trước, do bởi tấm chắn của hai bạo lực thực dân Pháp và Thiên-chúa giáo, ngăn chặn và đàn áp bằng Đạo Dụ số 10, không cho thành lập giáo hội, chỉ được lập hội như các hội thể thao, từ thiện… Do đó mà mọi sinh hoạt phật sự đều bị thu gọn trong chùa từ 1932.
23/09/2014(Xem: 20293)
“Đường về” là một tuyển tập gồm một số bài tiểu luận về Phật pháp do cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải thực hiện. Tập sách chủ yếu làm sáng tỏ một số điểm giáo lý và pháp môn thực hành nòng cốt của Phật giáo từ Nguyên thủy cho đến Đại thừa mà tác giả đã có nhân duyên được học tập, thực hành và mong muốn chia sẻ với người khác. Được học tập và thực hành lời Phật dạy là một may mắn lớn của đời người. Người con Phật nhận chân được điều này và do đó luôn luôn mang tâm nguyện chia sẻ với người khác những gì mình đã được học tập và cảm nghiệm ở trong Phật pháp. Chính nhờ tinh thần cao quý này mà đạo Phật không ngừng được phổ biến rộng rãi, và nay những ai yêu quý Ni trưởng Trí Hải vẫn cảm thấy như được chia sẻ lớn từ một người có tâm nguyện mong được chia sẻ nhiều hơn cho cuộc đời.
16/09/2014(Xem: 21697)
Trên ngực Phật, hay trên những trang kinh của Phật, ta thường thấy có chữ VẠN. Nhưng nếu để ý, ta sẽ thấy có hai lối viết khác hẵn: Một là, “chữ vạn” hướng xoay theo chiều kim đồng hồ (lối viết A); hai là”chữ vạn” xoay ngươc chiều kim đồng hồ (lối viết B)
15/08/2014(Xem: 15459)
Tánh biết tham lam vật chất ,ích kỷ,vị tha,nhân quả,,ăn năn ,sám hối, thương yêu, ghét bỏ, sợ hãi, buồn tênh, v.v… của muôn loài hữu tình chúng sinh nói chung, con người nói riêng được hiển lộ ra ngoài thân ở lời nói và hành động trong đời sống hằng ngày.Tánh biết này,được các nhà ngôn ngữ cổ đại Trung Quốc gọi là Tâm.Từ đó cho đến nay người Trung Quốc và Việt Nam đều nói là tâm, một khi đề cập đến sự biết của các loài hữu tình chúng sinh,và con người.
06/08/2014(Xem: 6416)
Thiền sư Động Sơn Lương Giới Thiền sư Lương Giới, Tổ của tông Tào Động ở Trung Hoa. Khi đi tu Ngài có viết mấy lá thư cho cha mẹ. Đọc thư Ngài ta mới thấy ý chí người xưa. Lá thư thứ nhất: “Được nghe, chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân, muôn loài sanh trưởng thảy nhờ trời đất che chở. Cho nên, không có cha mẹ thì chẳng sanh, không có trời đất thì chẳng trưởng, thảy nhờ ân dưỡng dục, đều thọ đức chở che. Song, tất cả hàm thức, vạn tượng hình nghi đều thuộc vô thường chưa lìa sanh diệt. Ân bú sú nặng nề, công nuôi dưỡng sâu thẳm, dù đem của cải thế gian phụng dưỡng trọn khó đáp đền, dùng máu thịt dâng hiến cũng không được bền lâu.
18/07/2014(Xem: 20325)
Có một Phật tử gửi thư cho tôi và đặt câu hỏi về vấn đề quy y. Tôi xin ghi lại và trả lời, mong rằng có thể giải tỏa khúc mắc cho những người cùng cảnh ngộ. Nguyên văn lá thư: Kính bạch thầy, Đây là câu chuyên có thật 100% nơi con ở, nhưng con xin phép dấu tên những nhân vật trong câu chuyện.
20/06/2014(Xem: 6184)
Tôi sinh ra và lớn lên tại Nha Trang, nơi có bãi biển nổi tiếng dài và đẹp. Nhà tôi không cách xa biển là bao nên thuở bé tôi thường hay xuống biển bơi lội vẫy vùng mỗi ngày, vì thế nên tôi bơi lội rất giỏi. Cũng nhờ bơi giỏi nên tôi thường lặn ngụp dưới làn nước sâu để đâm cá hay cua ghẹ thường xuyên. Từ thói quen giết vật như thế đã huân tập cho tôi tập khí sát sanh từ thời niên thiếu mà chính tôi chẳng hay vì xung quanh tôi bạn bè hay người lớn ai cũng đều như thế.
20/06/2014(Xem: 6042)
Trong bài “Sức Mạnh Của Tâm” kỳ trước ,có nói đến Tâm là chủ tể.Đích thực,con người trên đời này làm nên vô số việc tốt,xấu,học hành,nên danh,nên nghiệp ,mưu sinh sống đời hạnh phúc,khổ đau,cho đến tu tập phật pháp được giác ngộ thành Phật ,thành Thánh, Nhân bản,v.v…đều do tâm chỉ đạo (nhất thiết duy tâm tạo).Qua đây cho ta thấy rằng;tâm là con người thật của con người,(động vật có linh giác,giác hồn thật siêu việt hơn tất cả các loài hữu tình khác trên trái đất này). Phi tâm ra,bản thân con người,chỉ là một khối thịt bất động.