Tài thí, nội thí

22/01/201103:49(Xem: 4858)
Tài thí, nội thí

TÀI THÍ, NỘI THÍ

Tài thí là dùng phương tiện tiền bạc, của cải vật chất chia sẻ cho người nghèo khổ, thiếu thốn bất hạnh.

Nội thí là bố thí chi phần trong thân thể mình như hiến máu, hiến các bộ phận của cơ thể để cấy ghép chữa bệnh cho người khác hay hiến xác cho khoa học v.v…Người bố thí bằng hình thức nội thí tức là thực hành Bồ-Tát đạo. Đức Phật đã từng kinh qua thực hành Bồ-Tát đạo, trong một kiếp quá khứ, Ngài đứng trên núi trông thấy một con cọp mang thai bị đói, không săn được mồi, thương cho tình cảnh con cọp sẽ bị chết trước khi sinh con, Ngài từ trên cao nhảy xuống làm thức ăn cho cọp. Nhờ đó con cọp được khỏe lại đi tìm thức ăn và sinh con vẹn toàn.

Việc thực hành tài thí (bố thí tài sản) là việc dễ dàng, ai cũng có thể làm được, nhưng việc thực hành nội thí (bố thí thân xác) là việc khó làm hơn, rất hiếm có ở thế gian. Ngày nay với nền khoa học hiện đại, việc bố thí bộ phận cơ thể người hay hiến xác cho khoa học tương đối phổ biến, chứ ngày xưa chỉ có các bậc Bồ-Tát mới thực hành hạnh nguyện này nhờ vào lòng Từ Bi cao cả mới dám xả thân vì lợi ích chúng sanh như đức Phật.

Thực hành bố thí với tâm chân thành, hoan hỷ và đúng lúc thì mới đạt được giá trị cao như người khát cần nước, người rét cần lửa, kẻ trần truồng cần y phục…Thực hành bố thí với tâm vô lượng và đúng thời, đúng lúc như vậy, theo Kinh Pháp Hoathì cả người cho và người nhận đều được lợi lạc.

Khi bố thí giúp người

Mặt thân tâm vui vẻ

Cảm ơn người đã nhận

Chẳng cần cầu đáp nghĩa

Người nhận vật bố thí

Hoan hỷ vì được của

Người thí hạnh phúc hơn

Vì gieo được phước lành.

Theo lời Phật dạy, sự sống trong vũ trụ này luôn được gắn bó với nhau từ con người cho đến muôn loài. Cho nên, nhân quả ở người làm phước cũng rất đa dạng như có người dệt vải ta mới có áo mặc; có người làm ruộng ta mới có cơm ăn v.v… Người xuất gia theo đạo Phật thọ nhận vật phẩm cúng dường của Đàn-na tín thí để nuôi sống bản thân tức là đang vay nợ theo luật nhân quả. Vậy người xuất gia trả nợ bằng cách nào? Người xuất gia phải tu hành miên mật, chân chính, hướng dẫn cho Phật tử biết điều hay lẽ phải, tránh xa tội lỗi, đó là cách trả nợ cao thượng cho Đàn-na tín thí, còn nếu không làm tròn trách nhiệm, bổn phận, người xuất gia cũng phải trả món nợ này theo định luật nhân quả.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/02/2014(Xem: 26057)
Bất cứ ai sinh ra trong thế gian này đều nghĩ rằng trong ta phải có một cái linh thiêng, làm chủ mạng sống của mình và gọi đó là “Cái Tôi” tức là bản Ngã. Từ đó những vật sở hữu của họ thì gọi là “Cái Của Tôi”. Khi cảm tính về “Cái Tôi” hiện lên thì tính ích kỷ, tính tư lợi hay là tự xem ta là trung tâm (self-centered) cũng bắt đầu bùng phát.
04/02/2014(Xem: 5740)
Người, vật, chim muông, hoa lá, cỏ cây, lâu đài, phố thị, làng mạc... đều nương tựa trên mặt đất. Cũng vậy, chúng sanh hữu tình, các bậc trí tuệ, chư thánh nhơn, đức Phật... cũng do 10 nghiệp lành mà có sắc thân, tướng mạo, y báo, chánh báo sai khác, dị đồng..
01/02/2014(Xem: 12194)
Từ Trạch Pháp này rất quen thuộc trong Phật Giáo, nhưng đã có mấy người Phật tử chịu tìm hiểu tận tường. Do vậy, trong khóa tu Gieo Duyên cuối năm 2013 tại Tự Viện Pháp Bảo, Sydney, chúng tôi trong Ban Giáo Thọ phụ trách giảng giải chủ đề này trong ba buổi học để học viên nắm vững được đầy đủ hơn, ngõ hầu vui thích học pháp và như vậy mới dễ dàng cho việc ứng dụng giáo pháp vào đời sống thường nhật. Trạch pháp - chọn pháp – nói đủ là trạch pháp giác phần hay pháp giác ý. Dùng trí tuệ lựa chọn, phân biệt đúng sai, thật giả của các pháp để chọn chân bỏ giả thẳng hướng tới Bồ Đề, là một trong bảy pháp giác chi như lời Phật dạy.
01/02/2014(Xem: 11277)
Không gian vũ trụ mênh mông vô định hướng, nhưng không gian cũng chỉ là sự tích tập, buông xả mà thôi. Tích tập là duyên sinh tụ hội của vạn pháp, và buông xả là sự lặng thinh tuyệt đối của không gian vô định như thuở nào vô thủy vô chung. Cuộc sống con người cũng vậy, không phải từ lúc sinh ra cho
30/01/2014(Xem: 16650)
Trong cuộc sống hằng ngày đôi khi tâm con người trở nên giận dữ, không kiềm chế được nên đã biến thành thù hận, từ đó thường xảy ra những sự xung đột, ấu đả và có thể đi đến chỗ gây thương tích hay giết người không chút xót thương. Báo chí thường đăng quá nhiều tin tức về hậu quả xảy ra bắt nguồn từ những cơn giận dữ đủ loại.
29/01/2014(Xem: 7434)
Các câu hỏi và lời giải đáp được chuyển ngữ dưới đây là do Jack Kornfield ghi chép trong một buổi giảng của nhà sư Ajahn Chah vào một mùa kiết hạ cách nay cũng đã hơn 40 năm tại ngôi chùa Wat Nong Pa Pong trong một khu rừng ở miền đông-bắc nước Thái.
22/01/2014(Xem: 7309)
Tiếng Pãli : bodhi. Dịch là Tri, Đạo, Giác, Trí. Nói theo nghĩa rộng Bồ Đề là Trí Tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết Bàn. Tức là Trí Giác Ngộ mà Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn đã đạt được ở qủa vị của các Ngài. Trong các loại Bồ Đề nầy, Bồ Đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề dịch là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Vô thượng chánh biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng Bồ Đề.
21/01/2014(Xem: 7177)
Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, thế tôn bảo Sa Kiệt La Long Vương quán sát những chúng sinh trong đại hải từ hình trạng, màu da, lớn nhỏ đều không giống nhau. Nguyên nhân gì tạo ra như vậy? Đó là đều do các thứ bất thiện của thân khẩu ý tạo nên.
12/01/2014(Xem: 11881)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại tinh xá Cấp-cô-độc, trong rừng cây Kì-đà, ở thành Xá-vệ. Một hôm nọ, trưởng giả Cấp Cô Độc cùng với năm trăm vị ưu bà tắc, đã tìm đến tịnh thất của tôn giả Xá Lị Phất. Các vị cúi đầu đảnh lễ tôn giả, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Xá Lị Phất đã sử dụng nhiều phương tiện khéo léo để thuyết pháp cho các vị cư sĩ này, đem lại cho họ niềm vui pháp lạc, làm phát khởi nơi họ niềm khát ngưỡng đối với Tam Bảo. Sau đó, tôn giả Xá Lị Phất tới chỗ Phật ngự, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi xuống một bên. Trưởng giả Cấp Cô Độc và năm trăm vị ưu bà tắc cũng nối gót tôn giả, đi đến chỗ Phật ngự, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi mọi người đã an tọa, đức Phật dạy:
12/01/2014(Xem: 14465)
Johan Galtung là Giáo sư Đại học Hawaii và được mời thỉnh giảng trên 30 Đại học nổi tiếng khắp thế giới. Ông còn là Giám Đốc của Transcend và Peace Research Institute, Olso. Với trên 50 ấn phẩm và 1000 công trình nghiên cứu khoa học về Hoà Binh ông đã nổi danh là người sáng lập cho lĩnh vực Peace Studies. Với những đóng góp to lớn này ông được nhiều giải thưỏng cao qúy. Tác phẩm chính trong lĩnh vực Phật học là „Buddhism: A Quest for Unity and Peace” (1993). Các tiểu tựa là của người dịch.