Kinh Di Giáo Giảng Giải (PDF)

28/10/202513:00(Xem: 3549)
Kinh Di Giáo Giảng Giải (PDF)
Kinh Di Giáo Giảng Giải
Kinh Di Giao Giang Giai-Bia

LỜI ĐẦU SÁCH

    Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học. Ngoài bộ kinh này ra, người xuất gia còn phải học Kinh Tứ Thập Nhị Chương và bộ Luận Qui Sơn Cảnh Sách. Vì tánh cách quan trọng của những bộ kinh này nên trong thiền môn thường gọi là Phật Tổ Tam Kinh. Riêng kinh này, ngoài những lời ân cần nhắc nhở dặn dò tha thiết của đức Phật, nó còn mang một ý nghĩa rất sâu sắc và thực tế. Đọc bản kinh này, ta mới  thấy được tấm lòng từ bi cao cả vô lượng vô biên của đức Phật.

   Thông thường, chúng ta hay nói là Phật nhập Niết bàn. Nói thế không hẳn là sai, nhưng xét kỹ cũng chưa hẳn là đúng lắm. Nếu nói đúng thì chỉ mới đúng có một phần thôi. Vì sao? Vì đúng, là chỉ đứng về phương diện ứng thân Phật ra đời ở Ấn Độ mà nói. Còn không đúng là vì sau ngày Phật thành đạo dưới cội cây Tất bát la (Bồ đề) là Ngài đã vào Niết bàn rồi. Vì Niết bàn có rất nhiều nghĩa: Diệt, Diệt độ, Diệt tịch, Bất sanh, Vô vi, An lạc, Giải thoát... Thế thì, có lúc nào mà Phật không ở trong Niết bàn, đâu phải đợi đến 80 tuổi Ngài đến xứ Kushinagar mới gọi là nhập Niết bàn. Chẳng qua, Ngài chọn nơi đó để xả bỏ báo thân của Ngài đó thôi. Vì thế, hiện tượng Phật nhập Niết bàn ta có thể hiểu đó là theo Thế giới tất đàn, Tích môn hay Tục đế. Còn đứng về phương diện Đệ nhứt nghĩa tất đàn, Bản môn hay Chơn đế thì không thể nói như thế. Vì có lúc nào mà Phật không an trú trong Niết bàn? 

    Bộ Kinh Di Giáo này, có thể coi như là những lời trăn trối phó chúc sau cùng của đức Phật. Ngài khuyến nhắc dặn dò các Thầy Tỳ kheo, sau khi Ngài nhập diệt phải lấy giới luật làm Thầy. Đồng thời, nếu có gì chưa rõ thông suốt những lời Ngài dạy thì nên trình bày những điều nghi vấn để Ngài giải thích.

   Kinh này xuất hiện ở Trung Quốc vào thời đại Diêu Tần (384 – 417), và bản kinh do Ngài Cưu ma la thập dịch. Căn cứ vào bản dịch đó mà có nhiều nhà nghiên cứu và chú giải làm cho quyển kinh ngày càng phong phú phổ cập và được mọi người quan tâm chú trọng nhiều hơn.

    Riêng bản thân chúng tôi, những năm còn ở Phật học viện, tôi rất may mắn được học qua bộ kinh này. Vì trong chương trình của những năm học cấp Sơ đẳng, đã được quý Thầy trong Ban Giảng Huấn giảng dạy chúng tôi qua các bộ Kinh Luận căn bản: Luận Qui Sơn Cảnh Sách, Kinh Tứ Thập Nhị Chương và Kinh Di Giáo v.v... Nay chúng tôi thể theo sự yêu cầu của học chúng Tổ Đình Phước Huệ mà chúng tôi mạo muội cố gắng biên soạn để đem ra giúp cho quý vị đó.

   Vẫn biết, khả năng kiến thức Phật pháp của chúng tôi vẫn còn giới hạn nông cạn, kinh nghiệm tu tập vẫn còn non kém, nhưng vì muốn thể hiện tinh thần “Lục Hòa” Phật dạy, gọi là “Kiến hòa đồng giải”, đem chỗ sở học hiểu biết nông cạn của mình được bao nhiêu thì giúp bấy nhiêu. Đồng thời, khi biên soạn cũng là cơ hội tốt để chúng tôi dồi mài nghiên tầm học hỏi thêm. Như vậy, thiết nghĩ cũng là một việc làm vừa hữu ích cho mình và cũng đem lại sự lợi lạc cho người khác. Do nghĩ thế, nên chúng tôi không ngần ngại cố gắng biên soạn làm tài liệu hướng dẫn cho học chúng. 

   Trong khi biên soạn, chắc chắn chúng tôi không sao tránh khỏi những điều lỗi lầm sai sót, nếu có, kính mong các bậc Cụ nhãn Cao minh Thiện hữu tri thức xa gần, hoan hỷ niệm tình thứ lỗi và chỉ giáo cho. Soạn giả xin hết lòng tri ân đa tạ. 

   Nhân đây, chúng tôi cũng xin thành kính tri ân Thượng tọa Thích Minh Từ đã giúp cho phần phát họa hình bìa. Thượng tọa Thích Phước Viên đã giúp cho phần kỹ thuật trình bày và in ấn. Chúng tôi cũng không quên kính cảm ơn Sư Cô Phước An và Thức xoa ma na Vạn Tường đã tận tâm giúp cho phần sửa bản in. Đồng thời, chúng tôi cũng xin chân thành tri ân chư Tôn Đức Tăng, Ni, quý liên hữu trong hai đạo tràng: Phước Huệ và Quang Minh, cũng như quý Phật tử xa gần đã phát tâm hỷ cúng tịnh tài góp phần ấn tống quyển kinh này. Chúng tôi xin hết lòng tùy hỷ tán thán công đức của toàn thể liệt quý vị.

   Nguyện đem công đức pháp thí này hồi hướng về cho pháp giới chúng sanh đồng trọn thành Phật đạo.

   Kính nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho chư Tôn liệt vị thân tâm thường lạc, vạn sự hanh thông, tùy tâm mãn nguyện.

Khởi soạn ngày 9/5/2025
Pháp Lạc Thất
Kính ghi
Tỳ kheo Thích Phước Thái
pdf-download
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/07/2025(Xem: 3632)
Theo Luật Nhân Quả, vợ chồng, con cái đến với nhau phần nhiều qua hai con đường ĐÒI NỢ và BÁO OÁN. Nhiều người không hiểu như vậy nên khi trong nhà xảy ra nhiều chuyện không ưng ý thì than trời trách đất và khổ sở khôn cùng. Ai tin sâu Luật NHÂN QUẢ, khi gặp hoàn cảnh như vậy hãy TỰ NHỦ mình đã gieo NHÂN kiếp xa xưa, nay đủ DUYÊN, mình phải lãnh QUẢ.
27/07/2025(Xem: 2615)
Lời dịch giả: Bài thơ "Chơn Đế" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) sáng tác, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.
27/07/2025(Xem: 3046)
Lời mở đầu của người chuyển ngữ Vu Lan là một ngày lễ lớn của Phật giáo, nhắc nhở chúng ta tưởng nhớ đến cha mẹ, nhất là đối với mẹ, một người mang nặng đẻ đau, bồng bế mình, nuôi nấng mình từ thuở bé. Ngoài tình mẫu tử ra thì cũng còn có cả tình phụ tử. Cài lên áo mình một cánh hoa hồng không nhất thiết chỉ là để tưởng nhớ đến công ơn của cha mẹ mà đôi khi còn phải nhìn vào chính mình xem mình có xứng đáng cài lên áo mình cánh hoa hồng ấy hay không.
27/07/2025(Xem: 2686)
Indonesia không phải là một quốc gia nổi tiếng với Phật giáo; Phật tử chỉ chiếm một thiểu số rất nhỏ trong dân số đất nước với 0,7%, quá nhỏ bé so với 87,5% dân số theo đạo Hồi. Mặc dù quần đảo hiện nay tạo nên Cộng hòa Indonesia từng nằm dưới sự cai trị của đế chế Srivijaya (650–1377) và Majapahit (1293–1527) chủ yếu theo đạo Phật, người ta thường cho rằng tất cả những gì còn sót lại từ thời kỳ đó chỉ là một số ngôi đền và bảo tháp nằm rải rác, gần như đổ nát.
22/07/2025(Xem: 3080)
Lời dịch giả: Bài viết "Chơn Tâm, Vọng Tâm" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.
18/07/2025(Xem: 3170)
Lời dịch giả: Bài viết "Bi Và Ái" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 3, ấn hành cuối tháng 8/1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Thích Diệu Không. Ni trưởng là dịch giả nhiều kinh và luận, cũng là một nhà thơ xuất sắc.
18/07/2025(Xem: 3051)
Namo Buddhaya Người ''biết rõ''.. là người giàu có từ bên trong. ..Người đời thường mải miết theo đuổi những thứ có được: tiền bạc, tài sản, danh tiếng, quyền lực… Họ gọi đó là thành công, là giàu có. Nhưng rồi bao nhiêu người, sau khi có tất cả, lại vẫn cảm thấy trống rỗng?
17/07/2025(Xem: 3522)
Cuốn theo tám ngọn gió đời, Tâm ta loạn động, chẳng hồi nào ngơi. Được khen: vui vẻ, tươi cười. Bị chê: sân dậy, giận người chê ta.
17/07/2025(Xem: 2782)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: Khi tính người tịch diệt, thì tính trời hiển lộ. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
16/07/2025(Xem: 2817)
Hầu hết các loài trên hành tinh này đều thiếu khả năng trí tuệ để xây dựng hệ thống niềm tin. Ví dụ, mèo và chó không nghĩ về ý nghĩa cuộc sống của chúng và có xu hướng sống hạnh phúc miễn là chúng nhận được những gì chúng cần ngay tại thời điểm hiện tại. Điều này khiến Loài Người Thông Tuệ (Homo sapiens) trở thành loài duy nhất trên Trái đất có khả năng tham gia vào các quá trình tư duy phức tạp và tạo ra các hệ thống tôn giáo và triết học. Do đó, việc có tôn giáo là một đặc điểm riêng của con người mà không có ở bất kỳ loài vật nào khác.