Chết Chưa Phải Là Hết!

6/25/202509:50(View: 4106)
Chết Chưa Phải Là Hết!
ttt-20250625-01
Namo Tasa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhassa
                                   🙏🙏🙏

 Cái chết không phải là hết – 
mà là sự tiếp nối nhân duyên khác

Trong cái nhìn của thế gian, cái chết là điểm kết thúc.
Nhưng dưới ánh sáng Phật pháp, cái chết chỉ là một bước chuyển – từ hiện hữu này sang hiện hữu khác, từ duyên cũ sang duyên mới.
Chúng ta thường nghĩ rằng: chết là mất.
Mất người thân. Mất ký ức. Mất một phần của đời mình.
Nhưng thật ra, chẳng có gì thật sự mất đi.
Chỉ là thân xác tan rã, còn nghiệp lực – những gì ta đã nghĩ, đã làm, đã nuôi dưỡng trong tâm – thì tiếp tục vận hành.
 Như một dòng chảy không dứt, nghiệp dẫn dắt ta đến nơi mình cần phải đến, không phải nơi mình muốn đến.
Phật dạy:
“Tất cả chúng sinh đều trôi lăn trong luân hồi vì vô minh và ái dục.”

Ta sinh ra không phải lần đầu, và chết đi cũng chẳng phải lần cuối.
Mỗi đời sống là một mắt xích trong chuỗi dài nhân duyên chằng chịt – 
nơi ta gặt quả từ hạt giống đã gieo, rồi tiếp tục gieo thêm những hạt mới.
Vì vậy, cái chết không phải là sự chấm dứt,
Mà là sự tiếp nối của những gì ta đã sống.
Nó giống như một ngọn nến đang cháy – ánh lửa truyền qua ngọn nến khác.
Thân cũ có thể tàn, nhưng ngọn lửa nghiệp vẫn âm thầm tiếp tục.
Với người hiểu đạo, sự ra đi không đáng sợ.
Điều đáng sợ, là ra đi trong mê lầm.
Là chết mà tâm còn oán giận, còn ràng buộc, còn hối hận vì đã sống vội – sống không chánh niệm, không từ bi.
Cho nên, người học Phật không cầu kéo dài mạng sống bằng mọi giá, mà cầu sống sao cho tỉnh thức và buông xả.
Để khi đến lúc phải rời đi, có thể rời đi nhẹ nhàng, không mang theo khổ đau – mà mang theo thiện duyên đã tích lũy.

Cái chết không đáng sợ.
Nó chỉ đáng sợ nếu ta không biết sống.

Biết sống có chánh niệm, có tình thương, có tu tập – thì dù chết đi, cũng chỉ là mở ra một hành trình mới.
Một kiếp sống tiếp theo – được xây bằng nền móng nhân quả của hiện tại.
Vậy nên, đừng đợi đến lúc cận tử mới sám hối.
Hãy bắt đầu từ hôm nay: sống lành, sống tỉnh –
Vì mỗi giây phút đang sống, là đang chuẩn bị cho cái chết… và cho sự tiếp nối sau đó.
 
- Trăm năm sống có ích gì
Chẳng thấy bất-tử vô vi pháp hành
Một ngày quả thật trọn lành!
Sống đời chứng ngộ vô sanh Niết bàn!

(Kinh Pháp Cú thi hóa)
__(())__

ttt-20250625-02
KIẾP MƠ HOANG...

Không ai sống mãi trăm năm
Thế mà tính chuyện xa xăm ngàn đời
Không ai biết được tuổi trời
Mà ôm mộng tưởng đổi dời thế gian,

Không ai đẹp mãi dung nhan
Hoài mong hoa thắm chẳng tàn chiều hôm.
Nào ai vui mãi không buồn
Dùng dằng, dan díu.. cuối đường chia xa..

Thở vào.. có lúc thở ra
Giữa hai hơi thở.. đời ta lắm điều !?

Không ai dám bỏ tình yêu
Dù tình ẩn chứa bao nhiêu lụy sầu
Có ai tóc chẳng bạc màu
Mà hoài dệt mộng bên cầu tử sinh.
Ít ai hạnh phúc một mình
Nên đành đánh đổi.. mong tìm chút vui.

Không ai ưng bước trở lui
Nên đường thiên lý ngậm ngùi ruổi dong.
Mấy ai về lại với lòng
Thú đau thương.. nhận chìm trong vô thường...
Không ai sống mãi miên trường
Thì xin nhớ lẽ Chân thường tự Tâm.
Như Nhiên -Th TTuệ 
☘ Chia sẻ cùng cả chùa vài hình ảnh Thầy Như Nhiên TTT & Tăng Thân Úc Châu PHÁP ĐÀM & THIỀN TRÀ TẠI DHAMMA HOME Yagoona- SYDNEY- NSW- Australia cuối tuần qua (June 2025). Một buổi thiền tập Thầy trò ngồi quây quần bên nhau trong không gian ấm cúng và tịnh lạc giữa mùa Đông lạnh lẽo của xứ Kangaroo.
'' Nguyện ngày an lành đêm an lành'' cùng tất cả..''
__(())__
ttt-20250625-03ttt-20250625-04ttt-20250625-05ttt-20250625-06ttt-20250625-07ttt-20250625-08ttt-20250625-09ttt-20250625-10ttt-20250625-11ttt-20250625-12ttt-20250625-13ttt-20250625-14ttt-20250625-15ttt-20250625-16ttt-20250625-17ttt-20250625-18ttt-20250625-19ttt-20250625-20
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
2/23/2021(View: 20380)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
2/23/2021(View: 17660)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
2/20/2021(View: 15117)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
2/20/2021(View: 16923)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
2/20/2021(View: 12868)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
2/17/2021(View: 11732)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
2/17/2021(View: 12364)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
2/16/2021(View: 8369)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
2/14/2021(View: 9222)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
2/14/2021(View: 8563)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.