Mạn Đà La

12/03/202516:26(Xem: 3955)
Mạn Đà La

mandala-chua-phap-hoa-11

MẠN ĐÀ LA

Đạo Phật hình thành và phát triển suốt 26 thế kỷ qua, dòng Phật sử cũng như thế sử liên lỉ với những thăng trầm biến thiên. Phật giáo truyền đến đâu thì kết hợp với phong thổ, văn hóa, tập quán và căn cơ của người địa phương ấy mà hình thành nên những dòng truyền thừa khác nhau, trong các dòng truyền thừa ấy lại có nhiều tông môn pháp phái khác nhau nữa, tất cả cũng vì căn cơ của con người địa phương. Ngôn từ Phật giáo gọi là khế cơ khế lý. Mật tông hay còn gọi là Kim Cang thừa là một dòng truyền thừa đặc biệt. Mật tông khác với các dòng truyền thừa khác từ y phục, giáo phẩm, pháp khí, phương pháp hành trì và những phương tiện thiện xảo khác. Một trong những phương tiện thiện xảo ấy là Mạn Đà La.

Tiếng Phạn Mạn Đà La có ý nghĩa là vũ trụ trong cái nhìn của bậc giác ngộ, là vũ trụ thu nhỏ, là trung tâm… Theo ý nghĩa của chữ Hán thì là vòng tròn đầy đủ (luân viên cụ túc). Hiểu một cách đơn giản nhất thì Mạn Đà La là đàn tràng bày pháp khí để các hành giả tu tập, trì chú, chú nguyện, tu luyện…Nếu muốn nói cho rõ hết ý nghĩa thì có lẽ phải viết thành sách chứ không thể trình bày trong một bài viết ngắn.


Mạn Đà La là đồ hình biểu tưởng của vũ trụ, của thập pháp giới: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, Atula, người, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Thập pháp giới biến hiện từ một tâm. Hạt cải chứa núi Tu Di, Tu Di có hạt cải là vậy!

Mạn Đà La là phương tiện tu tập, hành trì của Phật giáo Tây Tạng, là tác phẩm nghệ thuật cao độ, có tính đối xứng, cân bằng, tuyệt đối chính xác. Khi tiến hành thiết kế Mạn Đà La, hành giả tập trung cao độ, tỉ mỉ, chính xác đến từng li. Thông thường để tạo tác một Mạn Đà La cần đến cả tuần lễ, mỗi ngày làm liên tục theo thời khóa công phu. Thời gian hoàn thành một Mạn Đa La còn tùy thuộc vào mức độ phức tạp của chi tiết hoa văn và kích cỡ. Trước khi kiến tạo Mạn Đà La, các vị sư làm sẵn cát mịn nhuộm màu, bốn màu cơ bản: xanh, vàng, đỏ, trắng tượng trưng cho bốn hướng Bắc, Nam, Tây, Đông; ngoài ra còn có nhiều màu khác do sự phối màu từ bốn màu căn bản. Các hành giả khi làm sẽ dùng những ống đồng có một đầu loe (để lấy cát) và một đầu có lỗ nhỏ xíu để cát chảy ra, trên thân ống đồng có hàng rãnh và các hành giả cà vào hàng rãnh ấy để cát chảy xuống. Trước khi kiến tạo Mạn Đà La phải thực hiện nghi lễ rất quan trọng và phải được một vị Guru cho phép. Suốt quá trình kiến tạo cũng là thời gian trì chú, nhiếp tâm, tu tập của các hành giả.

Mạn Đà La có nhiều loại khác nhau như: Thai Tạng Giới Mạn Đà La có ý nghĩa thụ động, tĩnh, tâm đại bi, là lý. Kim Cang Giới Mạn Đà La biểu tượng cho động, trí tuệ viên mãn, là trí. Ngoài ra còn phân biệt theo Đại Mạn Đà La (Maha Mandala) tượng trưng cho Phật, Bồ Tát. Tam muội Mạn Đà La (Samaya Mandala) tượng trưng cho hội chúng và pháp khí. Pháp Mạn Đà La (Dharma Mandala) tượng trưng cho văn tự lý giải. Yết Ma Mạn Đà La (Karma Mandala)

Mỗi một Mạn Đà La là một tác phẩm nghệ thuật cao độ, cực kỳ tinh tế, hết sức vi diệu. Là phương tiện thiện xảo tu học của truyền thống Phật giáo Kim Cang Thừa. Khi chiêm bái hoặc chỉ đơn giản là xem như một tác phẩm nghệ thuật đều gây ấn tượng mạnh đối với mọi người. Đôi khi đại chúng không hiểu biết ý nghĩa của Mạn Đà La nhưng trong tâm thức cũng tự động ghi nhận những dấu ấn Phật pháp. Lòng tôn kính, niềm tin là những điều rất quan trọng trong việc chuyển hóa tâm thức con người.

Mỗi Mạn Đà La như một vũ trụ thu nhỏ. Mỗi Mạn Đà La là một cách biểu thị ý nghĩa khác nhau thông qua những đồ hình, những chi tiết hoa văn, những biểu tượng…Kiến tạo Mạn Đà La để cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng. Kiến tạo Mạn Đà La để cầu quốc thái dân an, phong điều vũ thuận, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc. Người chiêm bái Mạn Đà La tin tưởng sâu sắc sẽ được sự gia trì của chư Phật, kiên cố tín tâm và bồ đề tâm. Kiến tạo Mạn Đà La và chú nguyện để chúng sanh giải thoát phiền não, sống tỉnh thức, trau dồi trí tuệ và trưởng dưỡng từ bi.

Để kiến tạo Mạn Đà La cần đến 5 hoặc 7 vị sư luân phiên làm liên tục xuyên suốt quá trình. Tất cả các vị sư ấy đều đã trải qua một quá trình tu tập lâu dài, có năng lực cũng như đầy đủ giới đức. Các vị sư này cũng cần có sự chấp thuận và gia trì của một vị Guru. Các vị sư tham gia kiến tạo Mạn Đà La phối hợp nhau rất nhịp nhàng, chính xác, khéo léo, tập trung cao độ. Khi thực hiện Mạn Đà La cũng chính là cách tôi luyện tâm ý, trì chú, niệm kinh…Sau khi Mạn Đà La hoàn thành sẽ để một thời gian ngắn cho đại chúng chiêm bái, trong thời gian Mạn Đà La trưng bày, các sư trì chú liên tục không gián đoạn. Đến ngày cuối cùng thì toàn bộ Mạn Đà La sẽ xóa đi, cả một tác phẩm nghệ thuật công phu cần đến cả tuần lễ để hoàn thành thì chỉ trong giây phút còn lại một nhúm cát màu. Điều này tượng trưng cho cái lý vô thường mà nhà Phật nói đến. Thế gian vô thường, thân tâm ta cũng vô thường, cho đến sơn hà đại địa, vũ trụ vô biên tế kia cũng đều biến hoại vô thường.

Năm nay chùa Hải Ấn có duyên lành được đón tiếp phái đoàn hoằng pháp của chư tăng Tây Tạng. Các vị sư này tỵ nạn ở Ấn Độ và tu tập tại chùa Drepung Loseling, đây là một tự viện lớn có đến hàng ngàn vị sư tuổi từ nhi đồng đến lão niên đang ngày đêm tu tập. Phái đoàn hoằng pháp của chùa Drepung Loseling có chín tuần ở Atlanta và sau đó sẽ đi các tiểu bang khác. Phái đoàn còn có lịch trình hoằng pháp ở Mexico. Một vị sư trong phái đoàn tên Tsewang Punchok vốn xuất gia từ năm 21 tuổi tại chùa Drepung Loseling cho chúng tôi biết các ngài kiến tạo Mạn Đà La Quán thế Âm để cúng dường và cầu nguyện cho khắp pháp giới chúng sanh sống trong trí tuệ và từ bi. Mạn Đà La sẽ để cho Phật tử và đồng hương quanh vùng đến chiêm bái trong một tuần, sau khi hoàn mãn thì Mạn Đà La sẽ được phá hủy và số cát kiến tạo Mạn Đà La sẽ cho Phật tử thỉnh đem về như phước lành.

Có lẽ đây là lần đầu tiên Phật tử quanh vùng được tận mắt chứng kiến những món pháp khí kỳ lạ của Phật giáo Tây Tạng: Kèn dài (Tung Chen), trống dẹp với màu sắc hoa văn rực rỡ (Ngia), những tù và, chùy kim cang…đặc biệt bộ cà sa màu huyết dụ và chiếc mũ vàng (phái hoàng mạo) như mũ của chiến binh La Mã (Mohawk). Khi các sư trì chú, họ vận hơi từ bụng và lồng ngực. Họ giữ hơi nơi cổ họng khiến âm thanh phát ra rền và trầm hùng khiến ngươi nghe chú dù không hiểu cũng cảm nhận tính chất linh thiêng kỳ bí vô cùng. Âm thanh trì chú rền cả Phật điện, nghe âm thanh ấy cứ ngỡ như gió thổi ù ù trên tuyết sơn, lại như sấm rền trên không trung. Khi các sư Tây Tạng trì chú, toàn thân tâm nhập vào câu thần chú, âm thanh như phát ra từ trong định. Thân các sư tại Phật điện nhưng thần thức như ở một cảnh giới khác chứ không phải tại nơi này!

Phật giáo Mật tông Tây Tạng cũng như văn hóa người Tạng còn rất huyền bí và cũng rất nhiệm mầu. Ngày trước, Tây Tạng gần như tách biệt với thế giới bên ngoài. Chỉ có một số hành giả và những nhà thám hiểm thâm nhập vào Tây Tạng mới khám phá ra. Từ ngày Trung Cộng xâm lăng, đức Dalai Lama và hàng triệu dân chúng, tu sỹ phải đi tỵ nạn ở Ấn Độ và nhiều nơi khác, từ đó thế giới mới biết nhiều hơn về Tây Tạng. Đức Dalai Lama và các tu sỹ Tây Tạng đã đẩy mạnh việc truyền bá Phật giáo Mật Tông ra khắp thế giới, đặc biệt nhất là truyền đến Âu – Mỹ. Cũng từ đây mà những Mạn Đà La được kiến tạo ở nhiều nơi để cúng dường cũng như để mọi người chiêm bái. Mạn Đà La không chỉ là phương tiện tu học, phương pháp hành trì mà còn là nét văn hóa đặc thù của văn hóa Tạng, Phật giáo Tạng, Phật giáo Kim Cang Thừa.

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0325

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/08/2025(Xem: 5104)
Hầu như ngưới Phật tử chúng ta ai ai cũng biết Đại Lễ Vu Lan là một ngày có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người con Phật. VuLan là mùa báo hiếu, nhắc nhở các thế hệ con cháu nhớ tới công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, tổ tiên cũng như những thế hệ người đi trước. Lễ Vu Lan mang giá trị nhân văn, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” ngàn đời..
15/08/2025(Xem: 2977)
David McMahan là giáo sư ngành Nghiên cứu Tôn giáo tại Đại học Franklin & Marshall, Pennsylvania. Trong những năm gần đây, ông đã mang đến cho cộng đồng Nghiên cứu Phật giáo một cái nhìn sâu sắc và tinh tế hơn về sự tái tạo Phật giáo hiện đại. Cuốn sách "Sự hình thành Chủ nghĩa Hiện đại Phật giáo" (Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2008) của ông lập luận rằng hiện đại hóa Phật giáo là một nỗ lực hợp tác có ý thức của người châu Á và phương Tây nhằm trang bị cho Phật giáo những công cụ tư tưởng mới để phát triển mạnh mẽ trong thế giới mới mẻ và đầy thách thức của thế kỷ 19 và 20.
14/08/2025(Xem: 6860)
PHƯƠNG TRỜI THANH TỊNH HT Thích Thái Hòa MỤC LỤC SÁU TÍNH CHẤT CỦA TAM BẢO.. 1 ĐIỀU KIỆN THÀNH TỰU GIỚI THỂ VÔ BIỂU CỦA THANH VĂN.. 14 Ý NGHĨA CỤ-TÚC GIỚI 26 NGŨ ẤM XÍ THẠNH KHỔ HAY NGŨ THỦ UẨN KHỔ.. 42 PHÁP THOẠI TƯỞNG NIỆM HÚY NHẬT TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC CHƠN.. 50 AN TOÀN, HẠNH PHÚC VÀ CAO QUÝ CHO NGƯỜI TU.. 62 VÌ SAO CHÚNG TA TU HỌC.. 116 HUẤN TỪ NHÂN NGÀY 20-11-2023. 147
13/08/2025(Xem: 2786)
Báo Anh ngữ Little Bangkok Sangha chuyên về Phật sự ở Bangkok, trong ấn bản tháng 8/2011, đã loan tin rằng nữ diễn giả Tỳ Kheo Ni Ani Zamba sẽ thuyết pháp vào ngày 17/8/2011. Trước đó, Ni sư Ani Zamba cũng đã thuyết pháp tại đây vào tháng 11/2010. Tiểu sử của Ni sư gốc người Anh này cho thấy Ni sư đã có cơ duyên tham học theo rất nhiều truyền thống, trong đó Thái Lan là một chặng đường, nơi Ni sư tới để chữa bệnh và học thiền định.
13/08/2025(Xem: 3771)
Chúng tôi được nghe nhiều mẩu chuyện rất đau lòng về cách cư xử của con cái đối với cha mẹ. Hạng con đã làm điều này vì họ không nghĩ tới công lao dưỡng dục của mẹ cha. Điều đáng nói là trong số họ có cả những người học hành đỗ đạt. Nhóm người này sau khi có gia đình riêng, phần lớn họ không còn nghĩ cha mẹ mình đang sống ra sao.
13/08/2025(Xem: 3367)
Nhân dịp lễ Vu Lan 2025, xin gửi đến bạn đọc xa gần một vần thơ cũ. Thật vậy, thời gian luôn đổi mới, thế nhưng thời gian vẫn là thời gian. Những áng mây cũng vậy, trôi đi không bao giờ trở lại, thế nhưng đôi khi dường như cũng có những áng mây ‘sao trông giống như những áng mây một thuở nào’. Vần thơ này đã được một nghệ sĩ trên quê hương diễn ngâm.
13/08/2025(Xem: 3219)
Trương Hán Siêu là một trong các nhà Nho nổi tiếng chống phá Phật giáo kịch liệt nhất trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, ít người biết rằng nhiều năm cuối đời, từ khi còn trong quan trường, cụ Trương Hán Siêu đã trở thành một người sùng mộ Đạo Phật. Lập trường sùng mộ Phật giáo của cụ Trương chưa được ghi rõ ràng vào trang tiểu sử ở Wikipedia, tính tới thời điểm bài này được viết, tức là tuần lễ đầu của tháng 8/2025.
08/08/2025(Xem: 2726)
Bài viết sau đây ký tên tác giả là Sa Môn Tố Liên, đăng trên Báo Đuốc Tuệ, ấn bản tháng 7 năm 1936. Hòa thượng Thích Tố Liên (1903 – 1977), thế danh Nguyễn Thanh Lai, sinh năm Quí Mão (1903), tại tỉnh Hà Đông. Xuất thân trong một gia đình Nho giáo. Ngài xuất gia năm 13 tuổi tại chùa Hương Tích, là đệ tử của Tổ Thanh Tích. Với tính cương trực, năng động, mặc dù được chọn làm trưởng pháp tử kế vị chùa Hương Tích, song Ngài quyết tâm du phương tham học nơi các đạo tràng danh tiếng như Đào Xuyên, Tế Xuyên, Bằng Sở, Vĩnh Nghiêm… và đã từng trú trì ở chùa Côn Sơn, Thanh Mai.
07/08/2025(Xem: 3180)
Tôi tin rằng hôm nay chúng ta sẽ nói về các mối quan hệ và tình yêu, cùng tất cả những điều đó. Và có lẽ tôi không phải là người phù hợp để nói về những điều này. Nhưng mặt khác, tôi có lẽ là người rất phù hợp, bởi vì, ừm, điều này có thể hơi khó nghe đối với một số bạn. Nhưng tôi có rất nhiều vị thầy mà tôi đã được học hỏi. Tôi phải nói rằng, họ thực sự là Đức Phật bằng xương bằng thịt - lòng tốt, lòng từ bi, sự khoan dung của họ, và, trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, người ta tin rằng vị đạo sư xuất hiện trong nhiều hiện thân khác nhau. Vì vậy, trong bối cảnh này, tôi sẽ nói rằng tôi cũng đã học được một vài điều, một điều gì đó thật quý giá và thức tỉnh từ một cô gái mà tôi yêu say đắm.
07/08/2025(Xem: 2724)
Có những buổi chiều, tôi ngồi bên hiên chùa lặng nhìn ánh hoàng hôn loang trên mái ngói cũ, và tự hỏi: "Giữa bao bộn bề, đâu là ý nghĩa thực sự của đời người?" Con người sinh ra, lớn lên, bươn chải, tranh đấu… Có người thành công, người thất bại, người được yêu thương, người bị lãng quên. Nhưng rồi cuối cùng, ai cũng phải buông bỏ tất cả, trở về với cát bụi.