Sắc Xuân Lộng Lẫy Đất Trời

12/03/202516:19(Xem: 4250)
Sắc Xuân Lộng Lẫy Đất Trời
mua-xuan
SẮC XUÂN LỘNG LẪY ĐẤT TRỜI

Thế là mùa xuân đến trễ những sáu tuần bởi vì ngày đầu tiên những con groundhogs ra khỏi hang gặp phải ngày nắng, nếu hôm ấy trời mưa thì xuân sẽ đến sớm hơn sáu tuần. Đây là kinh nghiệm về thời tiết của người thổ dân bản địa Bắc Mỹ (Indian native). Điều này cũng giống như người Việt ta, khi thấy én về là biết xuân sang, cánh én chở mùa xuân, báo hiệu xuân. Loài vật có những khả năng đặc biệt mà con người không có được, chẳng hạn như chúng có thể biết trước động đất, sóng thần…mặc dù con người tự phụ văn minh và phát triển cao. Từ bao đời nay, con người dù bên đông hay bên tây cũng đều quan sát hành vi và cách sinh hoạt của động vật để rút ra kinh nghiệm cho mình: Dự báo thời tiết nắng mưa “chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ bay cao thì nắng bay vừa trời râm), báo mùa màng(ve báo hạ, én báo xuân, nai động đực báo thu, chim di cư biết đông về)… Ngày nay thì con người nhờ vào các phương tiện máy móc và kỹ thuật tân tiến để dự báo chính xác và nhanh chóng hơn. Tuy nhiên những hình ảnh loài vật báo xuân như con groundhog, chim én… vẫn mãi còn trong tâm ý con người, vì nó đã ăn sâu vào trong ký ức của con người.

Xuân chưa chính thức sang, tiết trời còn lạnh lắm nhưng trên những cành đào đã có vô số những nụ non, trên mặt đất đã nhú lên những cụm thủy tiên, tulip, nghệ tây…Tất cả dấu hiệu mùa xuân mới sẵn sàng tỏa sắc hương.

Thế rồi xuân cũng về, Bắc Mỹ vào xuân, hoa nở tràn đồng, trong thành ngoài bãi đâu đâu cũng bạt ngàn hoa, rực rỡ sắc hương, bướm ong rộn ràng. Tất cả những hạt cỏ hoa ngủ dưới mặt đất đồng loạt tỉnh thức sau giấc ngủ đông dài. Cả đất trời sáng bừng lên trong nắng xuân, phải nói là muôn hồng nghìn tía. Hoa từ sân vườn, hoa khắp tiểu trấn, thị thành, hoa bạt ngàn trên những thảo nguyên mênh mông. Người vô tâm lãnh đạm nhất cũng phải thốt lên:” ô kìa hoa, đẹp quá”. Trần gian tỉnh tỉnh giấc. Nàng Persephone trở lại trần gian sau sáu tháng ở nơi âm phủ. Nàng mang lại ánh sáng chan hòa ấm áp, cung cấp năng lượng cho cây cỏ lá hoa và muôn loài, mùa màng bội thu. Nàng sẽ ở với con người và muôn loài trên thế gian này suốt sáu tháng xuân và hạ, đây là định mệnh của nàng. Thần thoại Hy Lạp bảo thế, nàng là con gái của nữ thần Demeter và thần Zeus, vì éo le hoàn cảnh mà phải lấy thần âm phủ là Hades và phải chịu cảnh sống tối tăm ở âm phủ trong sáu tháng mỗi năm. Sáu tháng ấy trần gian lạnh lẽo, ảm đạm, điêu tàn… Để rồi sau đó hồi sinh, tăng trưởng và phát triển khi mùa xuân sang, ấy là lúc nàng trở lại nhân gian. Định mệnh của nàng hay quy luật của tự nhiên? Sanh sôi phát triển rồi lụi tàn, lụi tàn để rồi mùa sau lại tái sanh. Cái vòng sanh – tử miên viễn vô cùng tận, không đầu không cuối, không khởi đầu không kết thúc.Thế gian này là cõi vô thường, tất cả luôn trong tình trạng thay đổi, biến hoại trong từng phút giây, không có cái gì vĩnh viễn. Chính vô thường là vĩnh viễn, vĩnh viễn thay đổi và biến hoại.  Đông tây vốn nhiều khác biệt nhưng cũng có những điểm tương đồng, bởi vậy mà ta mới có câu đông tây hội ngộ (east met west). Nhà thiền nói: sanh – trụ - dị - diệt hay thành – trụ - hoại – không cũng ý nghĩa ấy. Nhà thiền còn tiến xa hơn, đạt đến chân lý tuyệt đối, nhìn ra cái bản tánh không sanh không diệt ngay trong sự sanh diệt. Sanh cũng do nhân duyên, diệt cũng do nhân duyên; nhân duyên vốn không có tự tánh. Vật chất và vạn vật muôn loài cũng đều do nhân duyên mà tụ tán, hoàn toàn không có cái “ngã”, không có cái gì độc lập. Tất cả do nhân duyên không có tự tánh, có đó mà là không, là giả có. Không không phải trống không mà là tánh không là bản thể con người, vạn vật muôn loài và của tất cả hiện tượng tự nhiên và xã hội. Không mà là có, có cũng là không, có không khác không, không không khác có…Tánh không bát nhã là trí siêu việt không thể dung chữ nghĩa mà bàn luận, phân tích hay chẻ chia. Càng dùng chữ càng thêm rối, tuy nhiên không dùng chữ nghĩa văn tự thì không sao bày tỏ dù ở mức độ đơn sơ. Vì vậy mà phải tạm mượn chữ nghĩa với tứ cú bách phi mà tạm giải bày. Có một điều dùng chữ nghĩa lý giải tánh không cũng giống như đem dao cùn mà chẻ sợi tơ ánh sáng nhật nguyệt, dẫu cho có biện luận đệ nhất, dẫu có siêu đẳng trong hàng tứ cú bách phi cũng không thể nói hết ý nghĩa diệu dụng của tánh không bát nhã.

Mùa xuân sang, xuân về, xuân đến, xuân đáo… ấy là sanh diệt mới có đến đi. Riêng xuân của bậc liễu đạo hay giác ngộ thì vĩnh viễn không đến không đi, không sanh không diệt. “Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước nở cành mai” – Mãn Giác thiền sư. Hoa trong tâm tưởng, trong hồn, hoa của chân lý, hoa của đệ nhất nghĩa đế… thì làm sao tàn được? vì vốn không sanh không diệt kia mà! Hoa ấy là pháp thân, pháp thân Phật, pháp thân chúng sanh vốn không sanh không diệt, không nhơ không sạch, không tăng không giảm! Chỉ có ứng thân và hóa thân mới có sanh diệt. Pháp thân hoa, pháp thân xuân vĩnh viễn lồng lộng trong đất trời, bao trùm vũ trụ vô biên tế, trải dài vô thủy đến vô chung.

Hóa thân hoa, hóa thân xuân thì sanh diệt, đến đi mỗi mùa, mỗi năm. Khi những con groundhog trồi lên, khi những cánh én chao liệng giữa hư không thì hóa thân hoa lại nở, lại bừng lên hương sắc; hóa thân xuân lại về, đất trời rực rỡ lộng lẫy đến vô biên.

Xuân đất trời ngoại phương đẹp lắm, đẹp đến nao lòng người. Động vật, thực vật, khoáng vật vốn vô tình, không có ý thức ấy vậy mà dường như cũng hoan hỷ với mùa xuân. Ấy là y báo tùy theo chánh báo chuyển, chánh báo chuyển thì y báo chuyển theo.

Xuân phương ngoại nhớ về xuân cố quận với cả một trời thương nhớ, cả một kho ký ức lung linh trong tâm tưởng. Mùa xuân cố quận rộn ràng thanh âm, rực rỡ sắc màu, ngọt ngào hương vị… Xuân cố quận có pháo hồng, có tiếng hô bài chòi, hát bội, lô tô; có mai vàng đào đỏ và muôn loài hoa khác. Có mùi gừng rim thơm nồng ấm và cả rượu mừng. Mùa xuân cố quận vui trẩy hội làng, lễ chùa, tảo mộ, cúng đình, mừng tuổi ông bà cha mẹ, gặp gỡ bạn bè…

Mùa xuân cố quận còn gọi là xuân Di Lặc, ở đây không chỉ là ý nghĩa tôn giáo mà mở rộng ra với nghĩa hoan hỷ, mừng vui, bao dung…Xuân Di Lặc, con người với con người vui mà sống, đem lại niềm vui cho nhau, bỏ qua chuyện cũ, gác lại nhưng tị hiềm xích mích, gác lại những dị biệt để cùng nhau sống với mùa xuân mới, sống chan hòa với muôn loài vạn vật trong trời đất thiên nhiên.

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, ngày đầu xuân mới Bắc Mỹ

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/11/2010(Xem: 20850)
Trong khi Đức Phật tạo mọi nỗ lực để dẫn dắt hàng đệ tử xuất gia của Ngài đến những tiến bộ tâm linh cao cả nhất, Ngài cũng nỗ lực để hướng dẫn hàng đệ tử cư sĩ tiến đến sự thành công...
25/11/2010(Xem: 37764)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
25/11/2010(Xem: 23844)
Cuộc sống xô bồ và dồn dập trong các xã hội phương Tây không cho phép một số người có thì giờ đọc toàn bộ những quyển sách liên quan đến các vấn đề khúc mắc của tâm linh. Vì thế nhiều tác giả chọn lọc các lời thuyết giảng, các câuphát biểu ngắn gọn hoặc các đoản văn ý nghĩa nhất để gom lại thành sách giúp người đọc dễ theo dõi và tìm hiểu, vì họ muốn đọc hay muốn dừng lại ở đoạn nàocũng được. Năm 1996, nhà xuất bản Le Pré aux Clercs có phát hành một quyển sáchtheo thể loại trên đây. Sách gồm những lời phát biểu của Đức Đạt-lai Lạt-ma vềPhật giáo và vài vấn đề liên quan đến Phật giáo chọn lọc từ các bài diễn văn,phỏng vấn, các buổi thuyết giảng và các sách của Đức Đạt-Lai Lạt-ma.
23/11/2010(Xem: 11622)
Chiếc y của người xuất gia Phật giáo biểu trưng cho sự thanh bần, giản đơn, và quan trong hơn cả là nó nối kết người mặc với vị thầy bổn sư của mình - Đức Phật...
22/11/2010(Xem: 23872)
Trong phần thứ nhất, Đức Đạt-Lai Lạt-Ma giảng về Bồ-đề tâm và cách tu tập của những người Bồ-tát. Trong phần thứ hai, Ngài giảng về Triết lý của Trung Đạo.
22/11/2010(Xem: 17588)
Hôm nay chúng tôi được duyên lành về đây, trước hết thăm chư Tăng trong mùa an cư, sau có vài lời muốn nói cùng chư Tăng Ni. Chúng tôi thường tự tuyên bố rằng tôi là kẻ nợ của Tăng Ni, nên trọn đời lúc nào tôi cũng canh cánh trong lòng nghĩ đến người tu xuất gia, muốn làm sao tạo duyên tốt cho tất cả Tăng Ni trên đường tu, mỗi ngày một tiến lên và tiến đúng đường lối của Phật đã dạy.
20/11/2010(Xem: 15391)
Khái niệm về "Tám mối lo toan thế tục" tiếng Phạnlà "Astalokadharma",tương đối ít thấy đề cập trong Phậtgiáo Trung hoa, Việt Nam, Triều tiên và Nhật bản, nhưng thường được triển khai trongPhật giáo Ấn độ và Tây tạng. Vậy "Támmối lo toan thế tục" là gì ? Đó là những tình huống, những mối bận tâmvà lo lắng làm xao lãng tâm thức và sự sinh hoạt của người tu tập. Những mối bậntâm đó được phân chia thành bốn cặp :
19/11/2010(Xem: 15684)
Nếu bạn hỏi ta tham dự vào việc lắng nghe, suy niệm và thiền định về giáo lý như thế nào thì câu trả lời là ta cần làm những điều đó không chỉ vì lợi ích của ta, nhưng bởi lợi lạc của tất cả chúng sinh. Như vậy bạn phát triển Bồ Đề tâm ra sao? Trước hết bạn thiền định về lòng từ ái, và sau đó là lòng bi mẫn. Làm thế nào bạn biết là mình có Bồ Đề tâm hay không? Người không phân biệt giữa bạn và thù, người ấy có Bồ Đề tâm. Điều này rất khó khăn đối với người mới bắt đầu, bạn nghĩ thế phải không? Vậy tại sao khó khăn? Từ vô thủy chúng ta đã bám chấp vào ý niệm sai lầm của cái tôi và đã lang thang suốt trong sinh tử.
19/11/2010(Xem: 18282)
Giáo lý này được đưa ra để làm lời nói đầu cho tập sách mỏng về Phật Ngọc và Đại Bảo Tháp Từ bi Thế giới được xây dựng tại Bendigo, Úc châu, theo lời khẩn cầu của ông Ian Green.
18/11/2010(Xem: 21141)
Tôi vừa từ Kuala Lumpur trở về Singapore tối nay. Tôi đã tới đó để dự một lễ Mani Puja trong 5 ngày do Trung tâm Phật giáo Ratnashri Malaysia tổ chức. Đây là trung tâm thuộc Dòng Truyền thừa Drikung Kagyu và có nối kết mật thiết với Đạo sư Drubwang Konchok Norbu Rinpoche. (1) Trong khóa nhập thất này, tôi đã cố gắng để được gặp riêng Đại sư Garchen Rinpoche. Rinpoche đã xác nhận rằng Khóa Nhập thất hàng năm Trì tụng 100 Triệu Thần chú Mani được tiếp tục để làm lợi lạc tất cả những bà mẹ chúng sinh chính là ước nguyện vĩ đại nhất của Đạo sư Drubwang Rinpoche. Rinpoche khuyên rằng chúng ta có thể thành tâm thỉnh cầu Tu viện KMSPKS (Tu viện Kong Meng San Phor Kark See tại Singapore) tiếp tục khóa nhập thất bởi điều này cũng làm lợi lạc cho Tu viện. Rinpoche cũng đề cập rằng các Đạo sư Tâm linh Drikung Kagyu sẽ luôn luôn hết sức quan tâm tới Khóa Nhập Thất Mani bởi nó rất lợi lạc cho tất cả chúng sinh.