Sắc Xuân Lộng Lẫy Đất Trời

12/03/202516:19(Xem: 4498)
Sắc Xuân Lộng Lẫy Đất Trời
mua-xuan
SẮC XUÂN LỘNG LẪY ĐẤT TRỜI

Thế là mùa xuân đến trễ những sáu tuần bởi vì ngày đầu tiên những con groundhogs ra khỏi hang gặp phải ngày nắng, nếu hôm ấy trời mưa thì xuân sẽ đến sớm hơn sáu tuần. Đây là kinh nghiệm về thời tiết của người thổ dân bản địa Bắc Mỹ (Indian native). Điều này cũng giống như người Việt ta, khi thấy én về là biết xuân sang, cánh én chở mùa xuân, báo hiệu xuân. Loài vật có những khả năng đặc biệt mà con người không có được, chẳng hạn như chúng có thể biết trước động đất, sóng thần…mặc dù con người tự phụ văn minh và phát triển cao. Từ bao đời nay, con người dù bên đông hay bên tây cũng đều quan sát hành vi và cách sinh hoạt của động vật để rút ra kinh nghiệm cho mình: Dự báo thời tiết nắng mưa “chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ bay cao thì nắng bay vừa trời râm), báo mùa màng(ve báo hạ, én báo xuân, nai động đực báo thu, chim di cư biết đông về)… Ngày nay thì con người nhờ vào các phương tiện máy móc và kỹ thuật tân tiến để dự báo chính xác và nhanh chóng hơn. Tuy nhiên những hình ảnh loài vật báo xuân như con groundhog, chim én… vẫn mãi còn trong tâm ý con người, vì nó đã ăn sâu vào trong ký ức của con người.

Xuân chưa chính thức sang, tiết trời còn lạnh lắm nhưng trên những cành đào đã có vô số những nụ non, trên mặt đất đã nhú lên những cụm thủy tiên, tulip, nghệ tây…Tất cả dấu hiệu mùa xuân mới sẵn sàng tỏa sắc hương.

Thế rồi xuân cũng về, Bắc Mỹ vào xuân, hoa nở tràn đồng, trong thành ngoài bãi đâu đâu cũng bạt ngàn hoa, rực rỡ sắc hương, bướm ong rộn ràng. Tất cả những hạt cỏ hoa ngủ dưới mặt đất đồng loạt tỉnh thức sau giấc ngủ đông dài. Cả đất trời sáng bừng lên trong nắng xuân, phải nói là muôn hồng nghìn tía. Hoa từ sân vườn, hoa khắp tiểu trấn, thị thành, hoa bạt ngàn trên những thảo nguyên mênh mông. Người vô tâm lãnh đạm nhất cũng phải thốt lên:” ô kìa hoa, đẹp quá”. Trần gian tỉnh tỉnh giấc. Nàng Persephone trở lại trần gian sau sáu tháng ở nơi âm phủ. Nàng mang lại ánh sáng chan hòa ấm áp, cung cấp năng lượng cho cây cỏ lá hoa và muôn loài, mùa màng bội thu. Nàng sẽ ở với con người và muôn loài trên thế gian này suốt sáu tháng xuân và hạ, đây là định mệnh của nàng. Thần thoại Hy Lạp bảo thế, nàng là con gái của nữ thần Demeter và thần Zeus, vì éo le hoàn cảnh mà phải lấy thần âm phủ là Hades và phải chịu cảnh sống tối tăm ở âm phủ trong sáu tháng mỗi năm. Sáu tháng ấy trần gian lạnh lẽo, ảm đạm, điêu tàn… Để rồi sau đó hồi sinh, tăng trưởng và phát triển khi mùa xuân sang, ấy là lúc nàng trở lại nhân gian. Định mệnh của nàng hay quy luật của tự nhiên? Sanh sôi phát triển rồi lụi tàn, lụi tàn để rồi mùa sau lại tái sanh. Cái vòng sanh – tử miên viễn vô cùng tận, không đầu không cuối, không khởi đầu không kết thúc.Thế gian này là cõi vô thường, tất cả luôn trong tình trạng thay đổi, biến hoại trong từng phút giây, không có cái gì vĩnh viễn. Chính vô thường là vĩnh viễn, vĩnh viễn thay đổi và biến hoại.  Đông tây vốn nhiều khác biệt nhưng cũng có những điểm tương đồng, bởi vậy mà ta mới có câu đông tây hội ngộ (east met west). Nhà thiền nói: sanh – trụ - dị - diệt hay thành – trụ - hoại – không cũng ý nghĩa ấy. Nhà thiền còn tiến xa hơn, đạt đến chân lý tuyệt đối, nhìn ra cái bản tánh không sanh không diệt ngay trong sự sanh diệt. Sanh cũng do nhân duyên, diệt cũng do nhân duyên; nhân duyên vốn không có tự tánh. Vật chất và vạn vật muôn loài cũng đều do nhân duyên mà tụ tán, hoàn toàn không có cái “ngã”, không có cái gì độc lập. Tất cả do nhân duyên không có tự tánh, có đó mà là không, là giả có. Không không phải trống không mà là tánh không là bản thể con người, vạn vật muôn loài và của tất cả hiện tượng tự nhiên và xã hội. Không mà là có, có cũng là không, có không khác không, không không khác có…Tánh không bát nhã là trí siêu việt không thể dung chữ nghĩa mà bàn luận, phân tích hay chẻ chia. Càng dùng chữ càng thêm rối, tuy nhiên không dùng chữ nghĩa văn tự thì không sao bày tỏ dù ở mức độ đơn sơ. Vì vậy mà phải tạm mượn chữ nghĩa với tứ cú bách phi mà tạm giải bày. Có một điều dùng chữ nghĩa lý giải tánh không cũng giống như đem dao cùn mà chẻ sợi tơ ánh sáng nhật nguyệt, dẫu cho có biện luận đệ nhất, dẫu có siêu đẳng trong hàng tứ cú bách phi cũng không thể nói hết ý nghĩa diệu dụng của tánh không bát nhã.

Mùa xuân sang, xuân về, xuân đến, xuân đáo… ấy là sanh diệt mới có đến đi. Riêng xuân của bậc liễu đạo hay giác ngộ thì vĩnh viễn không đến không đi, không sanh không diệt. “Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước nở cành mai” – Mãn Giác thiền sư. Hoa trong tâm tưởng, trong hồn, hoa của chân lý, hoa của đệ nhất nghĩa đế… thì làm sao tàn được? vì vốn không sanh không diệt kia mà! Hoa ấy là pháp thân, pháp thân Phật, pháp thân chúng sanh vốn không sanh không diệt, không nhơ không sạch, không tăng không giảm! Chỉ có ứng thân và hóa thân mới có sanh diệt. Pháp thân hoa, pháp thân xuân vĩnh viễn lồng lộng trong đất trời, bao trùm vũ trụ vô biên tế, trải dài vô thủy đến vô chung.

Hóa thân hoa, hóa thân xuân thì sanh diệt, đến đi mỗi mùa, mỗi năm. Khi những con groundhog trồi lên, khi những cánh én chao liệng giữa hư không thì hóa thân hoa lại nở, lại bừng lên hương sắc; hóa thân xuân lại về, đất trời rực rỡ lộng lẫy đến vô biên.

Xuân đất trời ngoại phương đẹp lắm, đẹp đến nao lòng người. Động vật, thực vật, khoáng vật vốn vô tình, không có ý thức ấy vậy mà dường như cũng hoan hỷ với mùa xuân. Ấy là y báo tùy theo chánh báo chuyển, chánh báo chuyển thì y báo chuyển theo.

Xuân phương ngoại nhớ về xuân cố quận với cả một trời thương nhớ, cả một kho ký ức lung linh trong tâm tưởng. Mùa xuân cố quận rộn ràng thanh âm, rực rỡ sắc màu, ngọt ngào hương vị… Xuân cố quận có pháo hồng, có tiếng hô bài chòi, hát bội, lô tô; có mai vàng đào đỏ và muôn loài hoa khác. Có mùi gừng rim thơm nồng ấm và cả rượu mừng. Mùa xuân cố quận vui trẩy hội làng, lễ chùa, tảo mộ, cúng đình, mừng tuổi ông bà cha mẹ, gặp gỡ bạn bè…

Mùa xuân cố quận còn gọi là xuân Di Lặc, ở đây không chỉ là ý nghĩa tôn giáo mà mở rộng ra với nghĩa hoan hỷ, mừng vui, bao dung…Xuân Di Lặc, con người với con người vui mà sống, đem lại niềm vui cho nhau, bỏ qua chuyện cũ, gác lại nhưng tị hiềm xích mích, gác lại những dị biệt để cùng nhau sống với mùa xuân mới, sống chan hòa với muôn loài vạn vật trong trời đất thiên nhiên.

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, ngày đầu xuân mới Bắc Mỹ

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/07/2015(Xem: 26158)
Hề chi một phận đời riêng Buông hơi nằm xuống mà nghiêng đất trời Thiếu ta, đời cũng vậy thôi! Ta là hạt bụi giữa đời bao la..
01/07/2015(Xem: 30380)
Trong sinh hoạt thường nhật ở Chùa ai ai cũng từng nghe qua câu “Ăn cơm Hương Tích, uống trà Tào Khê, ngồi thuyền Bát Nhã, ngắm trăng Lăng Già “, do đó mà nhiều người thắc mắc “Thuyền Bát Nhã” là loại thuyền như thế nào? Bài viết này sẽ giải đáp đôi điều về nghi vấn ấy. Nói theo Thập Nhị Bộ Kinh, Thuyền Bát Nhã là pháp dụ, tức lấy thí dụ trong thực tế đời thường để hiển bày pháp bí yếu của Phật. Thuyền là chỉ cho các loại thuyền, bè, ghe đi lại trên sông, trên biển. Còn Bát Nhã là trí tuệ, một loại trí tuệ thấu triệt cùng tận chân tướng của vạn pháp trên thế gian là không thật có, là huyền ảo không có thực thể, mà nói theo Đại Trí Độ Luận thì mọi thứ trên thế gian này như bóng trong gương, như trăng dưới nước, như mộng, như sóng nắng… để từ đó hành giả đi đến sự giác ngộ giải thoát vì giác ngộ được chân lý “Nhất thiết pháp vô ngã”. Do vậy, Thuyền Bát Nhã chính là con thuyền trí tuệ có thể chuyên chở chúng sanh vượt qua biển khổ sanh tử để đến bến bờ Niết bàn giải thoát an vui.
01/07/2015(Xem: 33704)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 15930)
Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
29/06/2015(Xem: 29070)
Như truyền thông đại chúng đã loan tải vào ngày 24 tháng 4/ 2015 một trận động đất xảy ra tại đất nước Nepal đã làm thiệt mạng gần 9.000 nạn nhân, và làm sập hư trên 100.000 ngôi nhà, trong hiện tại có trên 200.000 người không nhà cửa, và hàng ngàn trẻ em mồ côi cha mẹ. Nhìn thấy cảnh đời bể dâu tang thương đổ nát của người dân Nepal, Hòa Thượng Hội Chủ Thích Như Huệ đã ra thông tư, cũng như tâm thư kêu gọi lòng từ tâm của người con Phật. Sau gần 2 tháng kêu gọi, với tấm lòng tùy tâm của đồng hương Phật tử xa gần trong và ngoài nước Úc, cũng như 37 tự viện thành viên của Giáo Hội đã đem đến kết quả với số tiền cứu trợ là $ 304.900. Úc Kim. Phái Đoàn Cứu Trợ Nepal thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan đã lên đường vào tối ngày 8.6.2015 tại sân bay Melbourne.
29/06/2015(Xem: 10830)
Thời tiết mùa hè năm nay bất thường. Đã có những ngày quá oi bức, và cũng có những ngày lù mù, không mưa không nắng, gió se lạnh. Khí hậu đôi khi cũng tác động vào lòng người, khiến họ dễ bẳn gắt, khó chịu. Những người đã nuôi dưỡng từ lâu sự kỳ thị, thành kiến, hay tỵ hiềm nào đó, có thể bị thời tiết nóng bức châm ngòi cho sân hận và sự bạo động. Đã có những cuộc khủng bố đơn phương hoặc nhân danh tổ chức (thế tục hay tôn giáo) diễn ra khắp hành tinh trong những tháng năm qua.
27/06/2015(Xem: 17464)
Qua 4000 năm Văn Hiến của dân tộc thì trên 2000 năm, Phật giáo có mặt, đồng hành cùng dân tộc. Tính từ thời lập quốc họ Hồng Bàng – Kinh Dương Vương tên nước là Xích Quỷ (năm 2879 trước c.n) đến thời nhà Lý vào năm 1010-1225 đã là 4000 năm, đến nay cũng gần 5.000 năm. Từ thời lập quốc ở Trường Giang, bị Hoa tộc lấn dần cho đến Hùng Vương qua 18 đời, đất nước Văn Lang chỉ còn lại Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay.Quê hương vốn ở Hồ Động Đình, do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh 100 con lập quốc. Kinh Dương Vương là con của Đế Minh và Vụ Tiên, là cháu ba đời của Thần Nông, mà Thần Nông là một trong Tam Hoàng thời thượng cổ.Như thế, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương là họ Hồng Bàng, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền cho Hùng Vương, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Từ thời kinh Dương Vương lập quốc đến nay, dân tộc trãi qua 11 lần thay danh đổi hiệu:
24/06/2015(Xem: 41922)
Lời vàng của Thầy tôi, một Hướng dẫn vào các sự Chuẩn bị cho Tâm-yếu của Phạm Vi Bao La từ Đại Viên Mãn, trình bày các con đường của bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chúng.
23/06/2015(Xem: 18365)
Câu hỏi: Lý do tại sao Trịnh Hội lại đi học tu? Có phải bị mất phương hướng cuộc đời hay chán cuộc đời nhiều phiền toái?(Than Nguyen ) Trả lời: Xin chào anh Than Nguyen. Có hai lý do chính thưa anh. Thứ nhất vì cách đây 3 năm mình có lời cầu nguyện với chư Phật là nếu cho mình cơ hội làm xong công việc giúp những thuyên nhân Việt Nam cuối cùng tại Thái Lan, mình sẽ xuống tóc để cảm ơn. Thứ hai là, một công hai việc, mình muốn và cần một thời gian tĩnh lặng để xem mình thật sự muốn làm gì trong suốt quãng đời còn lại.
23/06/2015(Xem: 16971)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa