02. Lời Cẩn Bạch

17/08/201916:28(Xem: 8135)
02. Lời Cẩn Bạch

LỜI CẨN BẠCH

 

Người dịch đã chuyển ngữ tác phẩm này trong thời gian nhập thất chuyên sâu thiền tập ở vùng rừng núi Colombo, Tích Lan, vào khoảng cuối năm 2012. Sự bắt gặp tác phẩm cũng là một nhân duyên và khi được đọc vài trang, bất giác nhiều nút thắt trong việc tu tập của mình được tháo gỡ dần. Nhất là những lời nói giản dị, gần gũi của Ngài Thiền sư Ajhan Chah, tưởng chừng như lời của người cha từ ái dành cho các con của mình, đã truyền thêm năng lượng tinh tấn thực tập không mệt mỏi cho người dịch.

Một kỷ niệm khi dịch tập sách này, thân mẫu Ngọc Thiện chính là độc giả đầu tiên. Khi dịch đến mấy bài cuối, người dịch mới hay tin thân mẫu lâm trọng bệnh và sau đó không lâu qua đời. Trong những ngày cuối, được kề cận bên Người, có lần, thân mẫu nói: “Những bài nói chuyện của Thiền sư đã giúp má rất nhiều, khiến tâm má bình an và có sức chịu đựng cơn đau nhiều hơn.” Thế mới thấy, giáo pháp lan tỏa, lợi lạc cho người hữu duyên không luận không gian hay thời gian.

Năm nay, nhân Lễ Tự Tứ - Tri ân Báo Hiếu và Lễ Khánh Thành Tịnh xá Ngọc Chơn, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk, được sự khích lệ của chư Tôn đức, dịch phẩm này được in thành sách, như một món quà tri ân thành kính cúng dường Tam Bảo, cúng dường chư Tổ Thầy, Ni trưởng Bổn sư - Trụ trì Tịnh xá Ngọc Túc (Đăk Pơ, Gia Lai) và dâng lên hai đấng sinh thành trong dịp Lễ ý nghĩa này.

          Dịch phẩm này cũng mong được chia sẻ những trải nghiệm tu tập đến chư vị đồng Phạm hạnh, chư vị đang bước đi trên con đường thiền tập, nhận được nhiều lợi ích thù thắng.

Dù người dịch đã cố gắng rất nhiều trong việc chuyển ngữ, dịch rõ nghĩa lời Pháp, nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều khiếm khuyết, ngưỡng mong chư Tôn đức, thiện hữu tri thức từ bi chỉ dạy và hoan hỷ lượng thứ.

Ngưỡng chúc chư Tôn đức pháp thể khinh an; kính chúc quý độc giả thường an lạc.

 

Gia Lai, ngày 15. 5. Kỷ Hợi (17. 6. 2019)

Kính bút

Tỳ-kheo-ni Liên Hòa

 

 

MỤC LỤC

 

1. Lời giới thiệu của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam

2. Lời cẩn bạch

3. Lời giới thiệu của Thượng tọa Thanissaro

4. Cuộc chiến trong pháp

5. Am hiểu giới luật

6. Duy trì mức chuẩn

7. Thực tập đúng đắn – Thực tập kiên định

8. Chánh niệm – Viễn ly tham mọi lúc

9. Dòng lũ tham dục

10. Một đêm với sự chết

11. Xúc giác – Cội nguồn trí tuệ

12. “Không có thật” – Tiêu chuẩn của bậc Thánh

13. Bản thể siêu việt

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/12/2013(Xem: 28323)
Những người dân Tây Tạng thân mến của tôi, ở cả trong lẫn ngoài đất nước Tây Tạng, cùng tất cả những ai đang tu tập theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng và những ai đang có những nối kết với Tây Tạng và người Tây Tạng.
10/12/2013(Xem: 28025)
Cánh cửa của thế kỷ 20 sắp khép lại, tất cả chúng ta đều nhận thấy rằng thế giới đã trở nên nhỏ hơn, loài người trên hành tinh đã trở thành một cộng đồng lớn, các liên minh về chính trị và quân sự đã tạo ra những khối đa quốc gia, làn sóng của thương mại và công nghiệp thế giới đã cho ra nền kinh tế toàn cầu, những phương tiện thông tin của thế giới đã loại bỏ những chướng ngại về ngôn ngữ và chủng tộc.
10/12/2013(Xem: 31811)
Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện đời của Đức Phật. Chúng ta biết rằng thái tử Siddhattha đã rời bỏ cung điện lộng lẫy của vua cha, để bắt đầu cuộc sống không nhà của người lữ hành lang thang đi tìm con đường tâm linh, và sau nhiều năm tu hành tinh tấn, Ngài đã đạt được giác ngộ khi đang nhập định dưới gốc cây bồ đề. Sau khi xả thiền, Đức Phật đã đi đến thành phố Benares, giờ được gọi là Varanasi. Ở đó, trong Vườn Nai, lần đầu tiên Ngài thuyết pháp về những gì Ngài đã khám phá về con đường đi đến hạnh phúc toàn vẹn. Lời dạy của Đức Phật rất đơn giản nhưng sâu sắc.
10/12/2013(Xem: 17825)
Đây là một đề tài khá phức tạp và dễ bị hiểu lầm. Có câu nói: ‘Hành trình ngàn dặm khởi đầu bằng một bước đi (a journey of a thousand miles begins with a single step). Vì vậy, vấn đề cần phải nêu ra là khi nào và từ đâu chúng ta bắt đầu cất bước trên con đường tâm linh? Đa phần chúng ta đi tìm con đường tâm linh cho mình khá trễ. Trễ là do mình không cảm thấy nhu cầu cần thiết cho tâm linh lúc trẻ vì quan niệm rằng chùa chiền không thể nào giải quyết được những ưu phiền, đau khổ trong cuộc sống của tuổi trẻ. Chùa là dành cho những người lớn tuổi, xế chiều. Họ cần đến chùa là để vun bồi phước đức như làm việc thiện, bố thí, công quả .v..v… để ‘sau này’ được hưởng phước tốt lành.
09/12/2013(Xem: 9863)
Gia đình nghèo kia có ba người: Bố – Mẹ – và Con trai. Họ sống âm thầm và bình lặng trong một thôn làng hẻo lánh, người Bố đi làm thuê để kiếm cơm gạo nuôi gia đình, người mẹ lo việc bếp núc, trồng mấy luống rau, và chăm sóc con. - Một buổi trưa hè nắng nóng, người mẹ trên đường từ chợ về nhà chợt nhặt được một trái cam ai đó đánh rơi bên đường, cơn khát và mệt nhọc dường như tiêu tan khi bà nghĩ đến miếng cam ngọt lịm và mọng nước. Nhưng nghĩ đến đứa con ngoan ngoãn chẳng mấy khi được ăn hoa trái thơm ngon, bà liền lau sạch trái cam và cất vào túi.
09/12/2013(Xem: 13529)
Giáo lý đạo Phật không chỉ nói về những vấn đề “xuất thế”, mà Đức Phật cũng đã rất chú trọng về vấn đề “nhập thế” - hoàn thiện nhân cách trước khi đạt được thánh cách - giúp cho tất cả chúng ta một phương pháp ứng xử phù hợp với đạo lý làm người, tạo nên một nhân cách sống. Nhân cách sống đó, dù bất cứ ở đâu và bất cứ thời điểm nào, cũng có thể ứng dụng và mang lại những kết quả tốt đẹp...
09/12/2013(Xem: 12269)
Có thầy trò một nhà kia làm nghề hát xiệc. Người thầy là một người đàn ông góa vợ và người học trò là một cô gái nhỏ tên là Kathullika. Hai thầy trò đi đây đó trình diễn để kiếm ăn. Màn trình diễn của họ là người thầy đặt một thanh tre cao trên đỉnh đầu mình, trong khi bé gái leo dần lên đầu cây rồi dừng lại trên đó, để người thầy tiếp tục đi trên đất. Cả hai thầy trò đều phải vận dụng sự tập trung tâm ý đến một mức độ khá cao, để giữ thăng bằng và để ngăn chặn tai nạn có thể xảy ra.
09/12/2013(Xem: 13773)
Tự thủy uyên nguyên, khắp các loài chúng sanh cùng với Phật đồng một tâm, tức cái tâm tánh tuyệt đối, chơn thường, vắng lặng, trong trẻo, tròn đầy, trùm khắp, không lay không động, không đến không đi, không sanh không diệt, vô thỉ vô chung, cực linh cực mầu, hay sanh các pháp. Do Phật tâm thanh tịnh, vắng lặng, huyền mầu, nhưng lại khéo sanh vạn pháp, nên cổ đức mới tạm mượn lời mà đặt tên, gọi cái tánh huyền mầu đó là "chơn không diệu hữu", tức từ cái tánh linh diệu trong trẻo, không một vật mà pháp pháp tuỳ duyên trùng trùng sanh khởi.
09/12/2013(Xem: 11968)
Nguyện là mong cho, cầu mong cho, ước mong rằng… Khi nguyện cho người khác được hạnh phúc, chính ta liền có được hạnh phúc. Tại sao như thế? - Khi nguyện cho người khác hạnh phúc, chính trong lúc đó tâm ta thoát khỏi những tình cảm tiêu cực như đố kỵ, ích kỷ, ghét bỏ… Khi ấy chúng ta xóa bỏ được, dù chỉ là tạm thời, sự phân biệt chia cách kiên cố giữa ta và người khác. Chính sự thoát khỏi những ràng buộc tiêu cực nặng nề này đưa chúng ta đến miền đất chung của hạnh phúc.