Tiêu Sử Ajahn Chah

17/08/201916:27(Xem: 9675)
Tiêu Sử Ajahn Chah

ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ CỦA ĐẠI THIỀN SƯ AJAHN CHAH

 

Thiền sư Ajahn Chah là một vị cao Tăng tu tập theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy. Ngài sinh năm 1918, tại một ngôi làng phía Đông Bắc, Thái Lan. Ngài xuất gia lúc thiếu thời và năm lên 20 đã được thọ giới Cụ túc. Ngài hành trì hạnh đầu-đà, sống trong rừng, dưới sự hướng dẫn pháp học và pháp hành trực tiếp từ Thiền sư Ajahn Mun, Ngài thực tập tinh tấn và tự mình thể nghiệm Giáo pháp.

Ngài thành lập tu viện Nong Pah Pong đồng thời mở rộng thêm một vài chi nhánh ở miền rừng núi phía Bắc Thái Lan và một số nước trên thế giới. Suốt hơn 50 năm thực tập Pháp và giáo hóa, Ngài thường chia sẻ Pháp ngang qua kinh nghiệm tu tập tự thân, và hướng dẫn mọi người quán chiếu pháp tu ngay nơi thân và các đối tượng đang hiệu hữu xung quanh mình. Ngài khuyến khích mọi người kham nhẫn, hiểu rõ Pháp trong tinh thần Chánh kiến và tinh tấn hành trì Pháp trong mọi lúc không mệt mỏi. Ngài giảng giải sự Vô thường của các pháp, về Khổ, Vô ngã và khuyên mọi người chánh niệm, trở về nội tâm, tập buông xuống các pháp để trực nhận bản thể siêu việt nơi chính mình.

Giáo pháp qua lời dạy của Ngài chân xác, uyển chuyển, dung dị, rõ ràng đã chuyển hóa cho rất nhiều người hữu duyên trong đất nước Thái Lan và nhiều nước trên thế giới. Nhiều vị Tăng Tây phương đến học pháp với Ngài vào thập niên 70 - 80 và trở thành những vị Thầy tâm linh nổi tiếng ngày nay.

Ngài viên tịch vào ngày 16 tháng 1 năm 1992, tại tu viện Nong Pah  Pong, ở Ubon Ratchatani. Năm ấy Ngài tròn 74 tuổi.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 34157)
Quyển sách không nhằm vào chủ đích phân tích những gì trong kinh điển mà đúng hơn là để nhắc nhở chúng ta hãy nên nhìn thẳng vào bản chất của chính mình và của mọi vật thể chung quanh hầu giúp chúng ta biết ứng xử thích nghi hơn với cái bản chất ấy của chúng và để giúp chúng ta trở thành những con người sáng suốt, hoàn hảo và an vui hơn. Bản dịch sang tiếng Việt này được dựa vào ấn bản tiếng Anh của Rod Bucknell và tiếng Pháp của Jeanne Schut trên đây.
08/04/2013(Xem: 20051)
Thời gian cứ mãi trôi. Vạn vật tiếp nối đổi dời thay hình biến sắc chẳng dừng. Bởi tâm người bất định, nên hình thành cảnh vật không thường. Chúng sanh tâm vô thường, nên hình thành cảnh vật bất an. Khác với tâm chúng sanh, tâm những người giác ngộ thì an định, nên tạo thành cảnh vật thường lạc. Vọng tưởng là trạng thái tâm thức si mê, tham vọng, phiền não đảo điên. Bất loạn là thể hiện tâm trí giác ngộ, thường nhiên an lạc.
08/04/2013(Xem: 38713)
Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) trong Kinh tạng Pali (Suttanta Pitaka). Ðây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Pháp (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời dạy của Ðức Phật; Cú (Pada) là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali, "Pada" còn có nghĩa là con đường. Do đó, Dhammapada thường được dịch là Con đường Chân lý (Path of Truth), Con đường Phật Pháp (Path of the Buddha's Teaching).
08/04/2013(Xem: 18775)
Đứng nhìn Tượng Đức Bồ Tát Quán Thế Âm vươn cao lên trên bầu trời, một hình ảnh quá thiêng liêng và tuyệt đẹp. Tượng Ngài màu trắng nổi bật trên nền màu xanh, có những đám mây trôi qua, nhẹ nhàng càng tô điểm thêm vẻ đẹp, . . .
08/04/2013(Xem: 15041)
Trong tâm mỗi chúng sanh đều có một vị Quán Thế Âm Bồ-tát. Nhân dịp vía đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Bồ Đề Hải xin đăng một bài giảng của Hòa Thượng vào ngày 16 tháng 3 năm 1976 trong dịp Quán Âm Thất.
08/04/2013(Xem: 16778)
Mấy ngày vừa qua, thành phố Houston- Texas, mưa thật nhiều. Không biết lượng nước mưa từ đâu đổ dồn về, có lúc kéo dài 21 ngày liên tục. nhiều vùng bị lụt, nhiều nơi bị những cơn giông làm sụp nhà cửa. Theo tin tức đã có 13 người chết.
08/04/2013(Xem: 16223)
Cuộc đời hoằng pháp của Đức Thích Ca được nhân loại chiêm ngưỡng, khảo nghiệm dưới nhiều góc độ: giải thoát học, tôn giáo học, khoa học, triết học, sử học... Song, tất cả đều có chung một mẫu số rằng: "Suốt 25 thế kỷ qua, Đức Phật, người sáng lập ra đạo Phật ...
08/04/2013(Xem: 33934)
Sa di nam, tiếng Phạn là Sramanera, và Sa di ni là Sramanerika. Sa di thường được dịch là tức từ. Tức là chấm dứt, quyết tâm chấm dứt nếp sống hệ lụy và khổ đau. Từ là thương yêu, học hỏi thương yêu mọi người và mọi loài bằng trái tim của một vị bồ tát, không vướng mắc, không phân biệt. Sa di cũng có nghĩa là cần sách, nghĩa là chuyên cần và luôn luôn được nhắc nhở.
08/04/2013(Xem: 18303)
Chợt thấy xuân mời, vào một sáng ngồi rơi im lặng, hơi thở bay vào trong phong bão, cơn say tỉnh cơn gió mỉm cười, lay cánh mai
08/04/2013(Xem: 11679)
“Tu Bồ Đề! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn sơ nhựt phần dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí; trung nhựt phần diệc dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí; hậu nhựt phần diệc dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí, như thị vô lượng bách thiên vạn ức kiếp dĩ thân bố thí. Nhược phục hữu nhơn văn thử kinh điển tín tâm bất nghịch, kỳ phước thắng bỉ; hà huống thơ tả, thọ trì đọc tụng, vi nhơn giải thuyết”.