Chiếc áo cô đơn

10/04/201313:10(Xem: 11099)
Chiếc áo cô đơn

muathu_2

CHIẾC ÁO CÔ ĐƠN
Cư Sĩ Liên Hoa
http://www.lien-hoa.net

Trên vai mang cánh hạc
Thỏng tay vào cuộc đời
Tìm ai trong say tỉnh
Tỉnh say một cuộc chơi
Hỏi rằng sanh là mộng?
Hay tử là bến mơ?

Mùa thu lãng đãng trở về đưa theo từng cơn gió nhẹ, dịu mát. Cả bầu trời như trở mình sống lại, để chuyển rơi rụng những chiếc lá vàng. Tôi không phải là nhà văn hay thi sĩ để diễn tả những mảng hình chung quanh, nhưng cả bầu trời tuyệt đẹp. Có ai đã từng nhặt chiếc lá vàng rơi còn hương nhụy vẫy vùng muốn sống, muốn trở về thân cây mẹ nên tuôn những hương xót xa, lià cành. Cái mùi hương nầy thật dễ chịu, thoáng mát. Àø, quên, xin được nói nhỏ, đây chỉ là tưởng tượng cho ra văn vẻ, chứ đừng nên làm như vậy. Còn nếu muốn chứng tỏ mình nhiều thi tính, mộng mơ, nên nhớ đừng cho ai thấy, vì khi thấy mình gom lá nhiều quá, người ta sẽ nghĩ đó là người phu quét rác hoặc nếu mơ mộng, cứ cầm lá vàng lên ngửi tới ngửi lui, e rằng họ sẽ nghĩ chắc là từ nhà thương …mới ra.

Tôi không nhớ rõ đã quen được con người nầy bao lâu rồi và trong hoàn cảnh nào. Chỉ biết là khi mới gặp nhau mà đã như thân lắm. Tôi là một thanh niên mới lớn, một sinh viên, sống phong trần, xa cha mẹ, anh em, họ hàng …một thân một mình trên đất Saigon. Saigon của những năm trong thập niên 70, lăn lóc trong hoàn cảnh đất nước đang bị chiến tranh, một xã hội đang bị xáo trộn tận gốc. Mọi giá trị tinh thần đều như đang bị định giá lại, tuổi trẻ không biết được ngày mai ra sao? Và, tôi đã gặp vị tu sĩ nầy, cùng học chung lớp với nhau tại Trường Đại học

Không biết tại sao tôi lại bị quyến rũ bởi dáng dấp thư thái, an nhàn, nhưng tôn nghiêm của người nầy hay như một nhân duyên nào đó. Thực tình, tôi không muốn làm quen với các vị tu sĩ, vì cảm thấy chán lắm, không có gì để mà sôi động hoặc thích thú cả. Tóc tai thì không có, cái model kỳ lạ. Tôi nghỉ nếu mà đầu mình láng như ông thầy, có nuớc phải chạy trốn hết mấy đứa bạn hoặc phải đội tóc giả quá. Mặt thì lúc nào trang nghiêm, dù hơi cười mỉm. Và ông ta- hình như cũng chẳng mấy quan tâm đến thái độ của mọi người chung quanh đối với mình, “kính nhi viễn chi”.

Bạn bè rất nhiều, nhưng rồi tôi lại lân la làm quen với vị tu sĩ nầy. Có lẽ, vì tò mò, vì khoảng trống vắng đang nở dần trong tâm hồn, cô đơn trước cuộc đời, bạn bè mỗi ngày thưa dần, đứa bỏ học, bỏ nhà ra đi bụi đời vì chán hoàn cảnh sống, đứa lên đường vì đất nước cần, đứa phơi thây ngoài trận địa. Chung quanh tôi, bóng đen đang dần dần bao phủ, quyện cuộc đời vào tâm trạng khắc khoải, buồn chán, hoang mang của tuổi trẻ thời chiến. Có nhiều lúc tự hỏi đời sống là gì? Lý tưởng của tuổi trẻ ra sao? Bấp bênh, vô định v.v..

- Nầy ông , tôi phải kêu ông như thế nào hả?

- Anh cứ gọi tôi tự nhiên, Sư hay Thầy gì cũng được.

- Vậy, gọi là Thầy nha. Sao Thầy đi tu vậy, đi tu hồi nào vậy? Thầy có chán đời hay gì gì đó….không? Xin lỗi nha, vì hỏi như vậy kỳ quá.

- Anh nói gì là gì hả? À, anh muốn ám chỉ thất tình, phải vậy không? Thú thật, tôi đi tu từ còn nhỏ, nên chưa hiểu thất tình là gì. Mà anh có thấy khi nào đứa bé 9-10 tuổi thất tình không há?

Cả hai chúng tôi đều cười, nhất là câu hỏi nguợc lại dí dỏm của ông Sư nầy. Như vậy là tốt rồi. Tình thân giữa tôi và ổng càng ngày càng gần, bớt khoảng cách.

-Thầy à! Mấy thầy tu có bao giờ biết yêu không Thầy?

Vừa hỏi, tôi nhìn thẳng vào mặt của Thầy, tò mò muốn khám phá một phần nào bí ẩn đời sống của vị tu hành. Sao mặt ổng vẫn thản nhiên, cười cuời. Một vẻ cười an nhiên, tự tại.

- Anh nghỉ sao? Người tu chúng tôi đâu phải là người ngoài hành tinh xuống, hì hì…Tôi cũng là con người, cũng biết xúc cảm, biết rung động trước ngoại cảnh, chẳng hạn như sắc đẹp đổ nước nghiêng thùng. Tuy nhiên, Đạo Phật rất tự do. Khi mình không còn duyên tu hay đúng hơn, nếu mình không thể cuỡng lại những đam mê, ham muốn hay yêu đương của mình, mình có thể cởi áo ra tu. không ai cấm hết. Nhưng nếu đã quyết chí tu, thì do tuơng chao mỗi ngày, nên hì hì…mình sẽ chuyển những tình yêu cá nhân làm cho thăng hoa lên. Từ vị mình dần dần sẽ chuyển hoá thành vị nguời. Nè, vị người là vô ngã đó nha, chứ không phải vị một người nào đâu- có nghĩa sống cho nhiều người hơn. Khi mình sống vô ngã, mình sẽ thấy con đường rất thênh thang và tâm hồn mở rộng. Và Thầy chợt đọc bài thơ ngắn …

Sao ta nỡ bắt mùi huơng

Trong đôi tay bé nhốt từng mây hương

Mở tay huơng thoát bay xa

Để hương lan toả, ta - người thảnh thơi(Minh Thanh )

- Uả mà Thầy cũng biết làm thơ nữa hả? Hay thiệt ! Tại sao lại đi tu làm chi cho uổng vậy đểø phải cạo đầu? Phải mặc áo nâu? Phải ăn chay? Phải tụng kinh? Phải và phải……??? Tu có phải chán đời không?

Nghe những câu hỏi dồn dập của tôi, ông Thầy cuời quá chừng chừng, làm tôi cũng ngượng. Dù gì thì tôi cũng không muốn mất người bạn nầy.

- Rất nhiều người mang thành kiến giống anh. Cứ thấy mấy ông sư hay ni cô là nghỉ rằng họ là những kẻ chán đời hay thất tình mới đi tu. Có lẻ họ bị ảnh hưỡng của câu chuyện cải luơng ” Chuyện tình Lan và Điệp ” đó. Nếu mình đi tu mà tất cả giống như ở ngoài, thì còn gì để nói. Khi lià gia (xuất gia) có nghĩa là chấp nhận cuộc sống khác thuờng tình, thì mình mới nương vào hình tướng đơn sơ đó làm khuông giữ mình. Nguời tu phải cạo đầu để hoại sắc, để không còm bám víu vào những giả tuớng, phải mặc những quần áo tầm thường để khỏi tham đắm, mê nhiễm và ăn chay là để nuôi dưỡng lòng từ v.v…”

Có lẻ vì muốn cho tôi hiểu, ông còn nói về Tam thường bất túc(ăn, mặc, ngủ phải không đủ ) của tu sĩ và còn nói, nói nhiều lắm. Oång giảng cho tôi biết cặn kẽ từng chút một để hiểu và để thông cảm với nhau. Tôi thật thán phục lối trình bày, khúc chiết và đồng ý với những lý giải đó.

- Thực ra, nếu phải nói ai là nguời yêu đời nhất, thì đó chính là người tu sĩ. Tôi không nói suông đâu nha. Anh nghĩ xem. Sống ở đời, hầu hết ai nấy đều lo cho mình, bản thân mình, gia dình mình, người thân mình, những gì liên quan hay thuộc về mình v.v.. nguời tu sĩ lại khác, biến mỗi nguời thành người thân của mình. Họ là những người đa tình nhất như Đấng Cha Lành mà họ quy y- sau khi thành Chánh giác, Ngài đã qua 49 năm lăn lội khắp bao nẻo đường, tiếp cận với tất cả mọi nguời để hướng dẫn đến bờ Giác. Đó là tấm lòng quá cao cả. Cho nên, nguời tu sĩ yêu con nguời và cũng muốn hoàn thiện mọi người, huớng dẫn tất cả đến Chân Thiện Mỹ. Sống và yêu lý tưởng đó theo con đuờng “Phục sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật”…

- Thầy nghỉ sao về cuộc sống hiện sinh của thanh niên hiện nay?

Tôi không phải là con người đang đi tìm cho mình một lý tưởng để sống, nhưng muốn tìm hiểu, qua vị sư trẻ nầy- quan niệm của Phật giáo hay tư tuởng của Thầy như thế nào về hiện sinh. Bởi vì, như nói ở trên. Hoàn cảnh đất nuớc tôi bị chiến tranh và tất cả cho chiến tranh. Mạng sống con người vô nghĩa. Luân lý, đạo đức cần phải hỏi lại vì sự chênh lệc giữa mọi giai tầng trong xã hội đang bị giao độngmãnh liệt. Thanh niên chán đời, sống hiện sinh. Tóc tai dài thược, quần ống loa, rộng thênh thang và …đó là những nổi đau lòng da diết, nếu còn chút ý nghĩ về cuộc sống, về xã hội, về con người v.v…

- Tôi muốn chia xẻ cùng anh về con đuờng của Đạo Phật. Anh có biết Phật giáo là con đường Siêu Hiện Sinh không? Tuy nhiên, hiện sinh của lớp thanh niên hay trí thức v.v.. bây giờ khác xa với hiện sinh của Phật giáo.

Hiện sinh của tầng lớp nguời đang sôi nổi hiện giờ chỉ là một phong trào hay một lối sống bắt chước Tây phương. Sau Đệ nhị thế chiến, con nguời của xã hội Tây phương bỗng trở nên chán nản, vì thấy đời sống quá vô lý. Sự hoang tàn, chết chóc thê luơng, tàn bạo. Thượng Đế đối với họ đã chết, vì nếu có thì tại sao lại để cho chiến tranh tàn khốc xẩy ra, tiêu hoang, hũy diệt biết bao nhiêu sinh mạng con người. Đó không thể cho là mầu nhiệm thử thách hay trừng phạt v.v.. Cho nên, để phản kháng lại sự vô nghĩa lý cùng cực nầy, họ lý luận rằng không cần đến thần linh, Thượng đế. Họ chính là Thượng đế hay là chủ nhân của con nguời họ, sống bất cần ngày mai, sống cho mình và vì mình. Đó cũng có thể là một phần trong lý do phát triển của chủ nghiã cá nhân cực đoan và lan tràn qua nhiếu quốc gia, trong đó, có Việt Nam.

Descartes nói rằng:”Tôi suy tư tức là tôi hiện hữu”.Như vậy, nếu tôi không suy tư thì tôi ở đâu, là gì? Sự hiện hữu của tôi là hiện hữu có điều kiện, lệ thuộc vào một đối tượng, dù là tinh thần hay vật chất. Câu nói nầy quá nguy hiểm, đã làm bao nhiêu con thiêu thân lao vào. Tạo sự phản kháng, dù là tiêu cực để cuộc đời băng hoại, sống cá nhân vị kỹ hay bằng hành động tích cực, như đả phá thần tượng, phản đối cuộc đời, xã hội.

Một Jean Paul Sartre, một Albert camus, một Francois Sagan và bao lớp nhà trí thức hiện sinh khác nữa v.v…đã đóng góp thêm cho sự sinh động của quan niệm hiện sinh nầy và hậu quả ra sao thì mọi nguời đều rõ.

Tôi không phê phán mà chỉ muốn chia xẻ với anh hay với họ. Họ rất đáng thương, đáng tội nghiệp vì bị vẫy vùng trong sự cô đơn. Bởi vì chính những gì họ phản kháng, đập vỡ… lại vô tình làm cho họ đau khổ, cô đơn hơn. Tất cả suy tư để hiện hữu chỉ là những vọng tưởng. Ráng nắm bắt vọng tưởng như một thực hữu, chỉ còn lại là khoảng không. Họ ráng đi tìm bản ngã, nhưng lại không dám đối diện hay sờ mó bản ngã, vì nó không thực hữu. Chia cắt nó ra, chỉ còn là tên gọi, họ đâm ra sợ hãi. Cho nên, hiện sinh chỉ là một phương pháp tạm thời,để chạy trốn thực tại chứ không phải là cách giải quyết toàn diệ khổ đau.

Như tôi đã nói với anh ở trên, người tu sĩ Phật giáo là những con người yêu đời và yêu con ngườ. Những người con của Đức Phật là những người cô đơn, chứ không cô độc như con nguời hiện sinh vị kỷõ. Họ cô đơn quán chiếu nội tâm và họ khám phá ra rằng tất cả mọi hiện tượng dù tâm hay vật đều vô thường, đều không có thực ngã, mà do duyên hợp. Cho nên, bám víu vào đó sẽ đưa đến đau khổ.

Và điều hạnh phúc vô cùng của họ, chính là khám phá ra rằng trong tâm họ, Tánh giác thường hằng, rực sáng dù qua bao lớp sóng vô minh và tất cả mọi người đều có tánh Phật. Đó chính là lý tưởng tuyệt đẹp mà họ dấn thân. Hoàn thiện con nguời Giác ngộ của mình và giúp mọi nguời đều hoàn thiện Tánh giác của họ.

Họ có biết bao nhiêu là Bậc Trưởng thượng, Tôn túc, Thầy Tổ v.v…đã làm. đang dấn thân và sau nầy, sẽ có còn nhiều, nhiều nữa, những con người mang chiếc áo cô đơn tiếp nối, vì đó là sứ mạng của họ.

Chúng sanh nhiều vô kể , con xin thề nguyện độ

Phiền não nhiều vô tận, con xin thệ nguyện đoạn

Pháp môn nhiều vô số, con đều xin được học

Phật đạo rất cao thượng, con xin thệ nguyện thành

Ngài A-nan nguyện rằng:”Xin Đức Phật chứng minh cho con. Nếu ngày nào còn một chúng sanh chưa thành Phật, con sẽ không vào Niết bàn”. Ngài Địa Tạng:”Ngày nào còn chúng sanh khổ dau trong địa ngục, con sẽ không thành Phật”.

Đó phải chăng là con đuờng Siêu Hiện Sinh tuyệt vời. Hiện sinh với mình, sống hiện tại với tâm và làm nẩy nở Phật chất trong mình và đồng thời, chia xẻ với mọi nguời để giúp họ nhìn thấy và sống với Tánh Phật của chính họ. Sống với Tánh giác, đầy đủ suối nguồn Từ bi và trí tuệ, biên giới ích kỷ, chia cách giữa người người chấm dứt và mọi người đều chan hoà trong hạnh phúc của cõi Cực Lạc trần gian, biến nơi đây là Tịnh thổ như bản hoài của Đức Phật.

Tôi vội vàng chạy đến ngôi chùa, nơi vị tu sĩ nầy đang ở. Nghe văn phòng của truờng học, các vị Giáo sư phụ trách lớp và các bạn sinh viên cùng lớp cho biết vị sư đã qua đời và ngày mai, sẽ đem đi hoả thiêu. Họ vừa được tin sáng nay, và báo cho tôi, vì ai cũng biết chúng tôi rất thân với nhau. Tôi giật mình, gằng giọng hỏi: Có thật vậy không? Và hy vọng câu trả lời của mấy đứa bạn là chỉ đùa giởn. Không được, cả các Giáo sư cũng đều cho biết như vậy mà. Nếu mấy tên nầy không thì còn có thể nói là vui đùa được, vì sự sống chết lúc nầy rất bất thường, đối với mọi người trong thời buổi nhiễu nhương, chiến tranh. Do đó, chúng tôi thường hay vui đùa với nhau, dù rằng có đem cái chết ra nói nữa.

Trong gian phòng của Vãng Sanh Đường, chiếc quan tài nằm im lặng, bất động giữa phòng. Chỗ đầu quan tài, trên cao, sát vách tường, có hình vị Phật cầm hoa sen, tay phải buông xuôi xuống như đang tiếp ruớc. Khuông hình long lanh hình ảnh của vị Thầy nằm phía dưới, như đang mỉm cười. Bài vị có tên ho, pháp danhï…. ngày mất 14.07.1972. Như vậy là đúng rồi! Thầy chết còn trẻ quá. Ước nguyện làm ích lợi cho Đạo, giúp Đời mà ngày nào Thầy tâm sự cùng tôi còn đó. Từ vị sư nầy, tôi học được nhiều, nhiều lắm. Cái cách đi, cách nói, đứng, cười, lý giải, cách sống theo 6 Nguyên tắc sống hoà thuậnv.v…đã bao lần làm tôi bình tỉnh, an tâm trong những lúc hoang mang, cùng quẫn với con đường trước mặt. Tôi không những quý kính Thầy vì là Thầy tu, mà còn là một người bạn thân thiết. Thầy ra đi để lại trong tôi khoảng trống vô biên. Nước mắt tôi rơi xuống, đứng lặng yên thật lâu trước di ảnh của Thầy. Vẫn biết đời sống con người ngắn ngủi, nhưng tình thân thì thật là dài. Và như không dằn được, tôi quỳ xuống..Thầy! Thầy ơi! Tôi buột miệng kêu lên và bất đôäng.

Thầy có tuổi trẻ, tôi cũng vậy. Nhưng con đường Thầy chọn nó đẹp và nên thơ, qua cách sống và lý tưởng của Thầy. Tuổi trẻ của tôi là những nổi loạn, bất mãn, chán đời, vì chỉ có những xáo trộn, điên cuồng nầy mới biểu lộ được sự hiện hữu của chúng tôi. Còn với Thầy thì tuổi trẻ là chia xẻ, ban cho và đi với người để chỉ đến con đuờng an lạc. Thầy thường nói Đạo Phật không phải là các tuợng Phật đang được tôn thờ, là những kinh sách dầy đặc như rừng, mà là phải sống với Tánh Phật của chính mình, mình mới không bị đau khổ và mới có sự an lạc để đem chia xẻ đến mọi người.

Đó là những dấu ấn của tâm linh, nuôi dưỡng tâm tôi trong những sắc màu của Phật giáo. Người ta nói Đạo Phật rất cao siêu, huyền diệu v.v…Nhưng đối với tôi, qua một khoảng thời gian dài quen biết vị Thầy nầy, với những bài Pháp ngắn gọn, thực tế, trẻ trung cùng những cách chỉ làm sao chăm chút ngôi vườn tâm, là những dấu ấn tinh thần sinh động. Hiểu Đạo Phật đâu cần phải nơi xa, cao siêu, đâu cần phải triết lý nầy hay triết lý nọ, nếu chúng ta không dẩm chân trên mặt đất nầy, với từng giờ phút sống hiện tại. Nếu chúng ta cứ bay bổng trên cao vời vợi, nhưng guơng mặt lúc nào cũng không tươi mát, cau có như…

Tôi không tôn thờ Thầy như một thần tượng, nhưng là một người bạn thân. Thầy đã đến và chia xẻ với tôi như vậy. Trong Phật giáo không có sự tôn thờ thần tượng. Khi chúng ta tôn Đức Phật như một vị thần linh, cầu ban phuớc- mà quên rằng Đức Phật chỉ là vị thầy chỉ đường cho chúng sanh thấy được tánh Phậât của mình- rồi chúng ta cầu khẩn, van xin những thứ tầm thường theo uớc vọng của mình, chúng ta đã đi sai đường và làm mất ý nghiã của Đạo Phật. Khi chúng ta tôn vị Thầy, dù là bất cứ ai-lên làm thần tượng, vô tình chúng ta đã biến vị Thầy đó là sở hữu của mình, để biến hoá vị Thầy theo ý mình muốn hay tình cảm của mình. Biến phương trời cao rộng của vị Thầy thành những thứ thường tình, lạt lẻo, vô nghĩa.

Chúng ta rất vui mừng vì hiện nay, Phật giáo đang nở rộ, phát triển mạnh tại nhiều quốc gia trên thế giới. Phật giáo như một biểu tượng của Tình thương - Trí tuệ sáng suốt và Hoà bình, cùng vơi những truyền thống tâm linh khác, đóng góp và đem lại niềm an lạc thực sự cho nhân loại. Riêng Việt Nam, suốt dòng lịch sử truyền thừa của Đạo Phật và truớc năm 1975, trong các vị Tơn Đức, Tăng Ni … chỉ có vài vị có được học vị ngoài đời với cấp bằng Tiến sĩ hay Cử nhân v.v..nhưng sức sống tâm linh của Phật giáo qua các vị Thạc đức- cuồn cuộn đi vào cuộc đời, phổ cập ở mọi miền đất nuớc, chia xẻ và đem lại an lạc tinh thần cho biết bao nhiêu nguời Việt. Đơn giản nhất là khi ăn, mà các Ngài vẫn còn nghỉ đến : “1-Công khó của nguời làm ra vật thực. 2-xem xét đức hạnh của mình. 3- không được tham đắm .4- đây chỉ là lương dược nuôi sức khoẻ.5-và quan trọng, phải thành Phật quả“.

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của Tổ tông( Huyền Không )

Qua nhiều lần may mắn được tiếp xúc với các Bậc Tôn túc, trong chỗ riêng tư, các Ngài có nổi băn khoăn cho sự phát triển Phật giáo tại quê nhà. Ngày nay, quý Thầy đang cố gắng để hoàn thành Bộ Tam tạng bằng chữ Việt cho Phật giáo Việt Nam như một uớc vọng vô cùng quan trọng, phải có.

Bên cạnh đó, Phật giáo đang có rất nhiều quý Thầy trẻ có học vị cao, hơn 200 Tiến sĩ, Cử nhân v.v…hãy Nhập thể để phát triển, sống với Tánh giác, trưởng duỡng thân Huệ mạng và hãy Nhập thế- đem Từ bi và Trí tuệ- để ban vui, cứu giải các vấn nạn khổ đau, bức xúc của con người. Chúng tôi mong rằng qua những học vị trí thức, sẽ hoà cùng sức sống nội tâm do công phu tu tập, Phật giáo tại quê nhà, qua quý Thầy- những nguời mang chiếc áo cô đơn, sẽ làm sáng rực Phật giáo đến mọi nguời như các Thầy Tổ đã làm., thì đó phải chăng là niềm hạnh phúc vô biên của nguời con Phật ! Mong lắm thay!

Viết xong ngày 05.05.06

Kỷ niệm ngày đứa con gái lớn chúng tôi: Nguyễn Hà Bảo Vương
Tốt nghiệp: RN, MSN, FNP
University of Houston, Texas

----o0o---

Trình bày: Phổ Trí

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/07/2015(Xem: 29826)
Trong sinh hoạt thường nhật ở Chùa ai ai cũng từng nghe qua câu “Ăn cơm Hương Tích, uống trà Tào Khê, ngồi thuyền Bát Nhã, ngắm trăng Lăng Già “, do đó mà nhiều người thắc mắc “Thuyền Bát Nhã” là loại thuyền như thế nào? Bài viết này sẽ giải đáp đôi điều về nghi vấn ấy. Nói theo Thập Nhị Bộ Kinh, Thuyền Bát Nhã là pháp dụ, tức lấy thí dụ trong thực tế đời thường để hiển bày pháp bí yếu của Phật. Thuyền là chỉ cho các loại thuyền, bè, ghe đi lại trên sông, trên biển. Còn Bát Nhã là trí tuệ, một loại trí tuệ thấu triệt cùng tận chân tướng của vạn pháp trên thế gian là không thật có, là huyền ảo không có thực thể, mà nói theo Đại Trí Độ Luận thì mọi thứ trên thế gian này như bóng trong gương, như trăng dưới nước, như mộng, như sóng nắng… để từ đó hành giả đi đến sự giác ngộ giải thoát vì giác ngộ được chân lý “Nhất thiết pháp vô ngã”. Do vậy, Thuyền Bát Nhã chính là con thuyền trí tuệ có thể chuyên chở chúng sanh vượt qua biển khổ sanh tử để đến bến bờ Niết bàn giải thoát an vui.
01/07/2015(Xem: 32691)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 15533)
Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
29/06/2015(Xem: 28382)
Như truyền thông đại chúng đã loan tải vào ngày 24 tháng 4/ 2015 một trận động đất xảy ra tại đất nước Nepal đã làm thiệt mạng gần 9.000 nạn nhân, và làm sập hư trên 100.000 ngôi nhà, trong hiện tại có trên 200.000 người không nhà cửa, và hàng ngàn trẻ em mồ côi cha mẹ. Nhìn thấy cảnh đời bể dâu tang thương đổ nát của người dân Nepal, Hòa Thượng Hội Chủ Thích Như Huệ đã ra thông tư, cũng như tâm thư kêu gọi lòng từ tâm của người con Phật. Sau gần 2 tháng kêu gọi, với tấm lòng tùy tâm của đồng hương Phật tử xa gần trong và ngoài nước Úc, cũng như 37 tự viện thành viên của Giáo Hội đã đem đến kết quả với số tiền cứu trợ là $ 304.900. Úc Kim. Phái Đoàn Cứu Trợ Nepal thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan đã lên đường vào tối ngày 8.6.2015 tại sân bay Melbourne.
29/06/2015(Xem: 10378)
Thời tiết mùa hè năm nay bất thường. Đã có những ngày quá oi bức, và cũng có những ngày lù mù, không mưa không nắng, gió se lạnh. Khí hậu đôi khi cũng tác động vào lòng người, khiến họ dễ bẳn gắt, khó chịu. Những người đã nuôi dưỡng từ lâu sự kỳ thị, thành kiến, hay tỵ hiềm nào đó, có thể bị thời tiết nóng bức châm ngòi cho sân hận và sự bạo động. Đã có những cuộc khủng bố đơn phương hoặc nhân danh tổ chức (thế tục hay tôn giáo) diễn ra khắp hành tinh trong những tháng năm qua.
27/06/2015(Xem: 16685)
Qua 4000 năm Văn Hiến của dân tộc thì trên 2000 năm, Phật giáo có mặt, đồng hành cùng dân tộc. Tính từ thời lập quốc họ Hồng Bàng – Kinh Dương Vương tên nước là Xích Quỷ (năm 2879 trước c.n) đến thời nhà Lý vào năm 1010-1225 đã là 4000 năm, đến nay cũng gần 5.000 năm. Từ thời lập quốc ở Trường Giang, bị Hoa tộc lấn dần cho đến Hùng Vương qua 18 đời, đất nước Văn Lang chỉ còn lại Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay.Quê hương vốn ở Hồ Động Đình, do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh 100 con lập quốc. Kinh Dương Vương là con của Đế Minh và Vụ Tiên, là cháu ba đời của Thần Nông, mà Thần Nông là một trong Tam Hoàng thời thượng cổ.Như thế, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương là họ Hồng Bàng, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền cho Hùng Vương, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Từ thời kinh Dương Vương lập quốc đến nay, dân tộc trãi qua 11 lần thay danh đổi hiệu:
24/06/2015(Xem: 41190)
Lời vàng của Thầy tôi, một Hướng dẫn vào các sự Chuẩn bị cho Tâm-yếu của Phạm Vi Bao La từ Đại Viên Mãn, trình bày các con đường của bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chúng.
23/06/2015(Xem: 17654)
Câu hỏi: Lý do tại sao Trịnh Hội lại đi học tu? Có phải bị mất phương hướng cuộc đời hay chán cuộc đời nhiều phiền toái?(Than Nguyen ) Trả lời: Xin chào anh Than Nguyen. Có hai lý do chính thưa anh. Thứ nhất vì cách đây 3 năm mình có lời cầu nguyện với chư Phật là nếu cho mình cơ hội làm xong công việc giúp những thuyên nhân Việt Nam cuối cùng tại Thái Lan, mình sẽ xuống tóc để cảm ơn. Thứ hai là, một công hai việc, mình muốn và cần một thời gian tĩnh lặng để xem mình thật sự muốn làm gì trong suốt quãng đời còn lại.
23/06/2015(Xem: 16264)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa
21/06/2015(Xem: 13902)
Văn phòng Chính phủ Tây Tạng lưu vong, Dharamsala đưa tin – Hội nghị Tôn giáo lần thứ 12 của bốn truyền thống Phật giáo Tây Tạng đã diễn ra vào các ngày 18-20/06/2015 tại Dharamsala miền bắc của bang Himachal Pradesh, Tây Bắc của Ấn Độ.