Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chiếc áo cô đơn

10/04/201313:10(Xem: 2837)
Chiếc áo cô đơn

muathu_2

CHIẾC ÁO CÔ ĐƠN
Cư Sĩ Liên Hoa
http://www.lien-hoa.net

Trên vai mang cánh hạc
Thỏng tay vào cuộc đời
Tìm ai trong say tỉnh
Tỉnh say một cuộc chơi
Hỏi rằng sanh là mộng?
Hay tử là bến mơ?

Mùa thu lãng đãng trở về đưa theo từng cơn gió nhẹ, dịu mát. Cả bầu trời như trở mình sống lại, để chuyển rơi rụng những chiếc lá vàng. Tôi không phải là nhà văn hay thi sĩ để diễn tả những mảng hình chung quanh, nhưng cả bầu trời tuyệt đẹp. Có ai đã từng nhặt chiếc lá vàng rơi còn hương nhụy vẫy vùng muốn sống, muốn trở về thân cây mẹ nên tuôn những hương xót xa, lià cành. Cái mùi hương nầy thật dễ chịu, thoáng mát. Àø, quên, xin được nói nhỏ, đây chỉ là tưởng tượng cho ra văn vẻ, chứ đừng nên làm như vậy. Còn nếu muốn chứng tỏ mình nhiều thi tính, mộng mơ, nên nhớ đừng cho ai thấy, vì khi thấy mình gom lá nhiều quá, người ta sẽ nghĩ đó là người phu quét rác hoặc nếu mơ mộng, cứ cầm lá vàng lên ngửi tới ngửi lui, e rằng họ sẽ nghĩ chắc là từ nhà thương …mới ra.

Tôi không nhớ rõ đã quen được con người nầy bao lâu rồi và trong hoàn cảnh nào. Chỉ biết là khi mới gặp nhau mà đã như thân lắm. Tôi là một thanh niên mới lớn, một sinh viên, sống phong trần, xa cha mẹ, anh em, họ hàng …một thân một mình trên đất Saigon. Saigon của những năm trong thập niên 70, lăn lóc trong hoàn cảnh đất nước đang bị chiến tranh, một xã hội đang bị xáo trộn tận gốc. Mọi giá trị tinh thần đều như đang bị định giá lại, tuổi trẻ không biết được ngày mai ra sao? Và, tôi đã gặp vị tu sĩ nầy, cùng học chung lớp với nhau tại Trường Đại học

Không biết tại sao tôi lại bị quyến rũ bởi dáng dấp thư thái, an nhàn, nhưng tôn nghiêm của người nầy hay như một nhân duyên nào đó. Thực tình, tôi không muốn làm quen với các vị tu sĩ, vì cảm thấy chán lắm, không có gì để mà sôi động hoặc thích thú cả. Tóc tai thì không có, cái model kỳ lạ. Tôi nghỉ nếu mà đầu mình láng như ông thầy, có nuớc phải chạy trốn hết mấy đứa bạn hoặc phải đội tóc giả quá. Mặt thì lúc nào trang nghiêm, dù hơi cười mỉm. Và ông ta- hình như cũng chẳng mấy quan tâm đến thái độ của mọi người chung quanh đối với mình, “kính nhi viễn chi”.

Bạn bè rất nhiều, nhưng rồi tôi lại lân la làm quen với vị tu sĩ nầy. Có lẽ, vì tò mò, vì khoảng trống vắng đang nở dần trong tâm hồn, cô đơn trước cuộc đời, bạn bè mỗi ngày thưa dần, đứa bỏ học, bỏ nhà ra đi bụi đời vì chán hoàn cảnh sống, đứa lên đường vì đất nước cần, đứa phơi thây ngoài trận địa. Chung quanh tôi, bóng đen đang dần dần bao phủ, quyện cuộc đời vào tâm trạng khắc khoải, buồn chán, hoang mang của tuổi trẻ thời chiến. Có nhiều lúc tự hỏi đời sống là gì? Lý tưởng của tuổi trẻ ra sao? Bấp bênh, vô định v.v..

- Nầy ông , tôi phải kêu ông như thế nào hả?

- Anh cứ gọi tôi tự nhiên, Sư hay Thầy gì cũng được.

- Vậy, gọi là Thầy nha. Sao Thầy đi tu vậy, đi tu hồi nào vậy? Thầy có chán đời hay gì gì đó….không? Xin lỗi nha, vì hỏi như vậy kỳ quá.

- Anh nói gì là gì hả? À, anh muốn ám chỉ thất tình, phải vậy không? Thú thật, tôi đi tu từ còn nhỏ, nên chưa hiểu thất tình là gì. Mà anh có thấy khi nào đứa bé 9-10 tuổi thất tình không há?

Cả hai chúng tôi đều cười, nhất là câu hỏi nguợc lại dí dỏm của ông Sư nầy. Như vậy là tốt rồi. Tình thân giữa tôi và ổng càng ngày càng gần, bớt khoảng cách.

-Thầy à! Mấy thầy tu có bao giờ biết yêu không Thầy?

Vừa hỏi, tôi nhìn thẳng vào mặt của Thầy, tò mò muốn khám phá một phần nào bí ẩn đời sống của vị tu hành. Sao mặt ổng vẫn thản nhiên, cười cuời. Một vẻ cười an nhiên, tự tại.

- Anh nghỉ sao? Người tu chúng tôi đâu phải là người ngoài hành tinh xuống, hì hì…Tôi cũng là con người, cũng biết xúc cảm, biết rung động trước ngoại cảnh, chẳng hạn như sắc đẹp đổ nước nghiêng thùng. Tuy nhiên, Đạo Phật rất tự do. Khi mình không còn duyên tu hay đúng hơn, nếu mình không thể cuỡng lại những đam mê, ham muốn hay yêu đương của mình, mình có thể cởi áo ra tu. không ai cấm hết. Nhưng nếu đã quyết chí tu, thì do tuơng chao mỗi ngày, nên hì hì…mình sẽ chuyển những tình yêu cá nhân làm cho thăng hoa lên. Từ vị mình dần dần sẽ chuyển hoá thành vị nguời. Nè, vị người là vô ngã đó nha, chứ không phải vị một người nào đâu- có nghĩa sống cho nhiều người hơn. Khi mình sống vô ngã, mình sẽ thấy con đường rất thênh thang và tâm hồn mở rộng. Và Thầy chợt đọc bài thơ ngắn …

Sao ta nỡ bắt mùi huơng

Trong đôi tay bé nhốt từng mây hương

Mở tay huơng thoát bay xa

Để hương lan toả, ta - người thảnh thơi(Minh Thanh )

- Uả mà Thầy cũng biết làm thơ nữa hả? Hay thiệt ! Tại sao lại đi tu làm chi cho uổng vậy đểø phải cạo đầu? Phải mặc áo nâu? Phải ăn chay? Phải tụng kinh? Phải và phải……??? Tu có phải chán đời không?

Nghe những câu hỏi dồn dập của tôi, ông Thầy cuời quá chừng chừng, làm tôi cũng ngượng. Dù gì thì tôi cũng không muốn mất người bạn nầy.

- Rất nhiều người mang thành kiến giống anh. Cứ thấy mấy ông sư hay ni cô là nghỉ rằng họ là những kẻ chán đời hay thất tình mới đi tu. Có lẻ họ bị ảnh hưỡng của câu chuyện cải luơng ” Chuyện tình Lan và Điệp ” đó. Nếu mình đi tu mà tất cả giống như ở ngoài, thì còn gì để nói. Khi lià gia (xuất gia) có nghĩa là chấp nhận cuộc sống khác thuờng tình, thì mình mới nương vào hình tướng đơn sơ đó làm khuông giữ mình. Nguời tu phải cạo đầu để hoại sắc, để không còm bám víu vào những giả tuớng, phải mặc những quần áo tầm thường để khỏi tham đắm, mê nhiễm và ăn chay là để nuôi dưỡng lòng từ v.v…”

Có lẻ vì muốn cho tôi hiểu, ông còn nói về Tam thường bất túc(ăn, mặc, ngủ phải không đủ ) của tu sĩ và còn nói, nói nhiều lắm. Oång giảng cho tôi biết cặn kẽ từng chút một để hiểu và để thông cảm với nhau. Tôi thật thán phục lối trình bày, khúc chiết và đồng ý với những lý giải đó.

- Thực ra, nếu phải nói ai là nguời yêu đời nhất, thì đó chính là người tu sĩ. Tôi không nói suông đâu nha. Anh nghĩ xem. Sống ở đời, hầu hết ai nấy đều lo cho mình, bản thân mình, gia dình mình, người thân mình, những gì liên quan hay thuộc về mình v.v.. nguời tu sĩ lại khác, biến mỗi nguời thành người thân của mình. Họ là những người đa tình nhất như Đấng Cha Lành mà họ quy y- sau khi thành Chánh giác, Ngài đã qua 49 năm lăn lội khắp bao nẻo đường, tiếp cận với tất cả mọi nguời để hướng dẫn đến bờ Giác. Đó là tấm lòng quá cao cả. Cho nên, nguời tu sĩ yêu con nguời và cũng muốn hoàn thiện mọi người, huớng dẫn tất cả đến Chân Thiện Mỹ. Sống và yêu lý tưởng đó theo con đuờng “Phục sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật”…

- Thầy nghỉ sao về cuộc sống hiện sinh của thanh niên hiện nay?

Tôi không phải là con người đang đi tìm cho mình một lý tưởng để sống, nhưng muốn tìm hiểu, qua vị sư trẻ nầy- quan niệm của Phật giáo hay tư tuởng của Thầy như thế nào về hiện sinh. Bởi vì, như nói ở trên. Hoàn cảnh đất nuớc tôi bị chiến tranh và tất cả cho chiến tranh. Mạng sống con người vô nghĩa. Luân lý, đạo đức cần phải hỏi lại vì sự chênh lệc giữa mọi giai tầng trong xã hội đang bị giao độngmãnh liệt. Thanh niên chán đời, sống hiện sinh. Tóc tai dài thược, quần ống loa, rộng thênh thang và …đó là những nổi đau lòng da diết, nếu còn chút ý nghĩ về cuộc sống, về xã hội, về con người v.v…

- Tôi muốn chia xẻ cùng anh về con đuờng của Đạo Phật. Anh có biết Phật giáo là con đường Siêu Hiện Sinh không? Tuy nhiên, hiện sinh của lớp thanh niên hay trí thức v.v.. bây giờ khác xa với hiện sinh của Phật giáo.

Hiện sinh của tầng lớp nguời đang sôi nổi hiện giờ chỉ là một phong trào hay một lối sống bắt chước Tây phương. Sau Đệ nhị thế chiến, con nguời của xã hội Tây phương bỗng trở nên chán nản, vì thấy đời sống quá vô lý. Sự hoang tàn, chết chóc thê luơng, tàn bạo. Thượng Đế đối với họ đã chết, vì nếu có thì tại sao lại để cho chiến tranh tàn khốc xẩy ra, tiêu hoang, hũy diệt biết bao nhiêu sinh mạng con người. Đó không thể cho là mầu nhiệm thử thách hay trừng phạt v.v.. Cho nên, để phản kháng lại sự vô nghĩa lý cùng cực nầy, họ lý luận rằng không cần đến thần linh, Thượng đế. Họ chính là Thượng đế hay là chủ nhân của con nguời họ, sống bất cần ngày mai, sống cho mình và vì mình. Đó cũng có thể là một phần trong lý do phát triển của chủ nghiã cá nhân cực đoan và lan tràn qua nhiếu quốc gia, trong đó, có Việt Nam.

Descartes nói rằng:”Tôi suy tư tức là tôi hiện hữu”.Như vậy, nếu tôi không suy tư thì tôi ở đâu, là gì? Sự hiện hữu của tôi là hiện hữu có điều kiện, lệ thuộc vào một đối tượng, dù là tinh thần hay vật chất. Câu nói nầy quá nguy hiểm, đã làm bao nhiêu con thiêu thân lao vào. Tạo sự phản kháng, dù là tiêu cực để cuộc đời băng hoại, sống cá nhân vị kỹ hay bằng hành động tích cực, như đả phá thần tượng, phản đối cuộc đời, xã hội.

Một Jean Paul Sartre, một Albert camus, một Francois Sagan và bao lớp nhà trí thức hiện sinh khác nữa v.v…đã đóng góp thêm cho sự sinh động của quan niệm hiện sinh nầy và hậu quả ra sao thì mọi nguời đều rõ.

Tôi không phê phán mà chỉ muốn chia xẻ với anh hay với họ. Họ rất đáng thương, đáng tội nghiệp vì bị vẫy vùng trong sự cô đơn. Bởi vì chính những gì họ phản kháng, đập vỡ… lại vô tình làm cho họ đau khổ, cô đơn hơn. Tất cả suy tư để hiện hữu chỉ là những vọng tưởng. Ráng nắm bắt vọng tưởng như một thực hữu, chỉ còn lại là khoảng không. Họ ráng đi tìm bản ngã, nhưng lại không dám đối diện hay sờ mó bản ngã, vì nó không thực hữu. Chia cắt nó ra, chỉ còn là tên gọi, họ đâm ra sợ hãi. Cho nên, hiện sinh chỉ là một phương pháp tạm thời,để chạy trốn thực tại chứ không phải là cách giải quyết toàn diệ khổ đau.

Như tôi đã nói với anh ở trên, người tu sĩ Phật giáo là những con người yêu đời và yêu con ngườ. Những người con của Đức Phật là những người cô đơn, chứ không cô độc như con nguời hiện sinh vị kỷõ. Họ cô đơn quán chiếu nội tâm và họ khám phá ra rằng tất cả mọi hiện tượng dù tâm hay vật đều vô thường, đều không có thực ngã, mà do duyên hợp. Cho nên, bám víu vào đó sẽ đưa đến đau khổ.

Và điều hạnh phúc vô cùng của họ, chính là khám phá ra rằng trong tâm họ, Tánh giác thường hằng, rực sáng dù qua bao lớp sóng vô minh và tất cả mọi người đều có tánh Phật. Đó chính là lý tưởng tuyệt đẹp mà họ dấn thân. Hoàn thiện con nguời Giác ngộ của mình và giúp mọi nguời đều hoàn thiện Tánh giác của họ.

Họ có biết bao nhiêu là Bậc Trưởng thượng, Tôn túc, Thầy Tổ v.v…đã làm. đang dấn thân và sau nầy, sẽ có còn nhiều, nhiều nữa, những con người mang chiếc áo cô đơn tiếp nối, vì đó là sứ mạng của họ.

Chúng sanh nhiều vô kể , con xin thề nguyện độ

Phiền não nhiều vô tận, con xin thệ nguyện đoạn

Pháp môn nhiều vô số, con đều xin được học

Phật đạo rất cao thượng, con xin thệ nguyện thành

Ngài A-nan nguyện rằng:”Xin Đức Phật chứng minh cho con. Nếu ngày nào còn một chúng sanh chưa thành Phật, con sẽ không vào Niết bàn”. Ngài Địa Tạng:”Ngày nào còn chúng sanh khổ dau trong địa ngục, con sẽ không thành Phật”.

Đó phải chăng là con đuờng Siêu Hiện Sinh tuyệt vời. Hiện sinh với mình, sống hiện tại với tâm và làm nẩy nở Phật chất trong mình và đồng thời, chia xẻ với mọi nguời để giúp họ nhìn thấy và sống với Tánh Phật của chính họ. Sống với Tánh giác, đầy đủ suối nguồn Từ bi và trí tuệ, biên giới ích kỷ, chia cách giữa người người chấm dứt và mọi người đều chan hoà trong hạnh phúc của cõi Cực Lạc trần gian, biến nơi đây là Tịnh thổ như bản hoài của Đức Phật.

Tôi vội vàng chạy đến ngôi chùa, nơi vị tu sĩ nầy đang ở. Nghe văn phòng của truờng học, các vị Giáo sư phụ trách lớp và các bạn sinh viên cùng lớp cho biết vị sư đã qua đời và ngày mai, sẽ đem đi hoả thiêu. Họ vừa được tin sáng nay, và báo cho tôi, vì ai cũng biết chúng tôi rất thân với nhau. Tôi giật mình, gằng giọng hỏi: Có thật vậy không? Và hy vọng câu trả lời của mấy đứa bạn là chỉ đùa giởn. Không được, cả các Giáo sư cũng đều cho biết như vậy mà. Nếu mấy tên nầy không thì còn có thể nói là vui đùa được, vì sự sống chết lúc nầy rất bất thường, đối với mọi người trong thời buổi nhiễu nhương, chiến tranh. Do đó, chúng tôi thường hay vui đùa với nhau, dù rằng có đem cái chết ra nói nữa.

Trong gian phòng của Vãng Sanh Đường, chiếc quan tài nằm im lặng, bất động giữa phòng. Chỗ đầu quan tài, trên cao, sát vách tường, có hình vị Phật cầm hoa sen, tay phải buông xuôi xuống như đang tiếp ruớc. Khuông hình long lanh hình ảnh của vị Thầy nằm phía dưới, như đang mỉm cười. Bài vị có tên ho, pháp danhï…. ngày mất 14.07.1972. Như vậy là đúng rồi! Thầy chết còn trẻ quá. Ước nguyện làm ích lợi cho Đạo, giúp Đời mà ngày nào Thầy tâm sự cùng tôi còn đó. Từ vị sư nầy, tôi học được nhiều, nhiều lắm. Cái cách đi, cách nói, đứng, cười, lý giải, cách sống theo 6 Nguyên tắc sống hoà thuậnv.v…đã bao lần làm tôi bình tỉnh, an tâm trong những lúc hoang mang, cùng quẫn với con đường trước mặt. Tôi không những quý kính Thầy vì là Thầy tu, mà còn là một người bạn thân thiết. Thầy ra đi để lại trong tôi khoảng trống vô biên. Nước mắt tôi rơi xuống, đứng lặng yên thật lâu trước di ảnh của Thầy. Vẫn biết đời sống con người ngắn ngủi, nhưng tình thân thì thật là dài. Và như không dằn được, tôi quỳ xuống..Thầy! Thầy ơi! Tôi buột miệng kêu lên và bất đôäng.

Thầy có tuổi trẻ, tôi cũng vậy. Nhưng con đường Thầy chọn nó đẹp và nên thơ, qua cách sống và lý tưởng của Thầy. Tuổi trẻ của tôi là những nổi loạn, bất mãn, chán đời, vì chỉ có những xáo trộn, điên cuồng nầy mới biểu lộ được sự hiện hữu của chúng tôi. Còn với Thầy thì tuổi trẻ là chia xẻ, ban cho và đi với người để chỉ đến con đuờng an lạc. Thầy thường nói Đạo Phật không phải là các tuợng Phật đang được tôn thờ, là những kinh sách dầy đặc như rừng, mà là phải sống với Tánh Phật của chính mình, mình mới không bị đau khổ và mới có sự an lạc để đem chia xẻ đến mọi người.

Đó là những dấu ấn của tâm linh, nuôi dưỡng tâm tôi trong những sắc màu của Phật giáo. Người ta nói Đạo Phật rất cao siêu, huyền diệu v.v…Nhưng đối với tôi, qua một khoảng thời gian dài quen biết vị Thầy nầy, với những bài Pháp ngắn gọn, thực tế, trẻ trung cùng những cách chỉ làm sao chăm chút ngôi vườn tâm, là những dấu ấn tinh thần sinh động. Hiểu Đạo Phật đâu cần phải nơi xa, cao siêu, đâu cần phải triết lý nầy hay triết lý nọ, nếu chúng ta không dẩm chân trên mặt đất nầy, với từng giờ phút sống hiện tại. Nếu chúng ta cứ bay bổng trên cao vời vợi, nhưng guơng mặt lúc nào cũng không tươi mát, cau có như…

Tôi không tôn thờ Thầy như một thần tượng, nhưng là một người bạn thân. Thầy đã đến và chia xẻ với tôi như vậy. Trong Phật giáo không có sự tôn thờ thần tượng. Khi chúng ta tôn Đức Phật như một vị thần linh, cầu ban phuớc- mà quên rằng Đức Phật chỉ là vị thầy chỉ đường cho chúng sanh thấy được tánh Phậât của mình- rồi chúng ta cầu khẩn, van xin những thứ tầm thường theo uớc vọng của mình, chúng ta đã đi sai đường và làm mất ý nghiã của Đạo Phật. Khi chúng ta tôn vị Thầy, dù là bất cứ ai-lên làm thần tượng, vô tình chúng ta đã biến vị Thầy đó là sở hữu của mình, để biến hoá vị Thầy theo ý mình muốn hay tình cảm của mình. Biến phương trời cao rộng của vị Thầy thành những thứ thường tình, lạt lẻo, vô nghĩa.

Chúng ta rất vui mừng vì hiện nay, Phật giáo đang nở rộ, phát triển mạnh tại nhiều quốc gia trên thế giới. Phật giáo như một biểu tượng của Tình thương - Trí tuệ sáng suốt và Hoà bình, cùng vơi những truyền thống tâm linh khác, đóng góp và đem lại niềm an lạc thực sự cho nhân loại. Riêng Việt Nam, suốt dòng lịch sử truyền thừa của Đạo Phật và truớc năm 1975, trong các vị Tơn Đức, Tăng Ni … chỉ có vài vị có được học vị ngoài đời với cấp bằng Tiến sĩ hay Cử nhân v.v..nhưng sức sống tâm linh của Phật giáo qua các vị Thạc đức- cuồn cuộn đi vào cuộc đời, phổ cập ở mọi miền đất nuớc, chia xẻ và đem lại an lạc tinh thần cho biết bao nhiêu nguời Việt. Đơn giản nhất là khi ăn, mà các Ngài vẫn còn nghỉ đến : “1-Công khó của nguời làm ra vật thực. 2-xem xét đức hạnh của mình. 3- không được tham đắm .4- đây chỉ là lương dược nuôi sức khoẻ.5-và quan trọng, phải thành Phật quả“.

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của Tổ tông( Huyền Không )

Qua nhiều lần may mắn được tiếp xúc với các Bậc Tôn túc, trong chỗ riêng tư, các Ngài có nổi băn khoăn cho sự phát triển Phật giáo tại quê nhà. Ngày nay, quý Thầy đang cố gắng để hoàn thành Bộ Tam tạng bằng chữ Việt cho Phật giáo Việt Nam như một uớc vọng vô cùng quan trọng, phải có.

Bên cạnh đó, Phật giáo đang có rất nhiều quý Thầy trẻ có học vị cao, hơn 200 Tiến sĩ, Cử nhân v.v…hãy Nhập thể để phát triển, sống với Tánh giác, trưởng duỡng thân Huệ mạng và hãy Nhập thế- đem Từ bi và Trí tuệ- để ban vui, cứu giải các vấn nạn khổ đau, bức xúc của con người. Chúng tôi mong rằng qua những học vị trí thức, sẽ hoà cùng sức sống nội tâm do công phu tu tập, Phật giáo tại quê nhà, qua quý Thầy- những nguời mang chiếc áo cô đơn, sẽ làm sáng rực Phật giáo đến mọi nguời như các Thầy Tổ đã làm., thì đó phải chăng là niềm hạnh phúc vô biên của nguời con Phật ! Mong lắm thay!

Viết xong ngày 05.05.06

Kỷ niệm ngày đứa con gái lớn chúng tôi: Nguyễn Hà Bảo Vương
Tốt nghiệp: RN, MSN, FNP
University of Houston, Texas

----o0o---

Trình bày: Phổ Trí

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/05/202003:48(Xem: 6936)
Công đức hoằng khai nhiếp hóa của Ngài cao hơn núi cao Tấm lòng từ bi độ lượng của Ngài sâu hơn biển sâu Chữ nghĩa của trần gian làm sao phô diễn
29/09/202020:00(Xem: 53)
Bảy đại diện của Hội nghị Hàn Quốc về Tôn Giáo và Hòa Bình (KCRP), bao gồm Hòa thượng Viên Hạnh (원행스님 - 圓行和尚), Tổng vụ Viện trưởng Thiền phái Tào Khê đời thứ 36, đã gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ Hàn Quốc Chung Sye-kyun (정세균; Đinh Thế Quân), và cam kết hợp lực để tìm ra một kế hoạch hợp tác, đôi bên cùng có lợi cho cả các hoạt động tôn giáo và phòng chống cơn đại dịch hiểm ác Virus corona.
29/09/202017:49(Xem: 72)
Có lẽ chuyến du lịch hành hương không gian mạng, các bạn nhìn thấy một thứ tương tự như thế này từ một cửa hàng trực tuyến: “Chuỗi hạt Tây Tạng Mala Charm Vòng đeo tay Cát tường tuyệt đẹp này với các hạt màu phấn nhẹ nhàng, phù hợp để thực hành chân ngôn thần chú, và để đeo làm đồ trang sức”.
29/09/202009:28(Xem: 95)
Tứ là bốn, nhiếp là thu phục, pháp là phương pháp. “Tứ Nhiếp Pháp” là bốn phương pháp lợi tha, đã được Đức Phật Thích Ca dạy cho các đệ tử tại gia cũng như xuất gia của Ngài. Bốn pháp này nếu thực hành đúng đắn sẽ có công năng giúp con người lìa xa cuộc sống buông lung, phóng túng… mà theo đó dễ có những hành động bất thiện gieo khổ đau cho người và phiền não cho mình. Tứ Nhiếp Pháp giúp con người quay về với đường ngay nẻo phải, hay chính xác hơn là trở về với Phật pháp. Phật pháp là con đường tu hành chân chính, hướng về tâm linh đi đến giác ngộ giải thoát.
29/09/202007:49(Xem: 129)
Trong khi ý tưởng về Phật giáo đã đạt đến một vị thế rõ ràng trong triều đại nhà Minh (1368-1644) đã lỗi thời trong giới học giả, nó vẫn tồn tại bởi vì vẫn còn tồn tại quan niệm phổ biến, ngay cả trong giới Phật giáo đương đại, rằng Phật giáo đã đạt đến đỉnh cao về trí tuệ, và triết học vào triều đại nhà Đường (618-907), trước khi bị tê liệt bởi nhiều cuộc khủng hoảng và đàn áp, sau đó suy tàn vào triều đại nhà Tống (960-1279) và kế đến triều đại nhà Minh. Đây không phải là hoàn toàn nhầm lẫn, cũng không phải là đầy đủ câu chuyện. Nhà xuất bản Đại học Columbia một lần nữa đã phát hành một nghiên cứu đột phá, có thể thay đổi sự hiểu biết của học giả - và có lẽ là nhiều năm sau, sự hiểu biết phổ biến – về kinh nghiệm của Phật giáo vào triều đại nhà Minh.
29/09/202007:47(Xem: 154)
“So sánh với thế giới ngày nay, tôi nghĩ rằng mọi người ở khắp nơi đều cảm thấy hòa bình là rất quan trọng. Vào thế kỷ trước, chúng ta đã chi rất nhiều tiền và kiến thức khoa học để chế tạo vũ khí, bao gồm cả vũ khí hạt nhân. Bây giờ tôi nghĩ rằng phải khai trừ thái độ tinh thần đó và đã thay đổi nhiều. Bây giờ mọi người đang thể hiện mối quan tâm nghiêm túc về hòa bình; điều đó rất quan trọng. Ngày nay do đại dịch hiểm ác Covid-19 nên tình hình kinh tế đang gặp nhiều khó khăn. Trong thời kỳ nguy khốn như vậy, suy nghĩ về vũ khí là không thực tế và lỗi thời. Bây giờ chúng ta phải nghĩ về một thế giới hòa bình.
29/09/202007:36(Xem: 64)
Hai cây đàn gỗ, thường gọi là đàn thùng, được chủ nhân treo gần bên nhau trên chung một vách gần bên kệ kinh sách. Sáng sớm, cây Đàn Mới Đẹp được chủ mang đi hòa tấu ở đâu đó đến trưa mới mang về treo lại bên cây Đàn Cũ Kỹ. Gần bên nhau hơn cả giờ đồng hồ, thấy Đàn Cũ Kỹ vẫn im thin thít không hỏi han gì, Đàn Mới Đẹp ấm ức hỏi: "Sao anh không hỏi gì?"
28/09/202019:03(Xem: 150)
Họa sĩ Nhân dân Mông Cổ, Cư sĩ Urjingiin Yadamsuren (1905–1986) là cha đẻ của Nghệ thuật Mông Cổ hiện đại, đặc biệt là một phong cách chịu ảnh hưởng của “Hiện thực xã hội chủ nghĩa” (Socialist realism), cũng như các phong cách và kỹ thuật truyền thống của Mông Cổ, được gọi là Mongol Zurag. Phong cách lấy chủ đề Mông Cổ thường nhật và làm cho những người bình thường và thực hành chủ đề này.
28/09/202018:32(Xem: 148)
Sáng nay chúng con, chúng tôi lại tiếp tục lên đường gieo hạt tình thương, nơi đến cứu trợ hôm nay là một địa điểm đặc biệt liên quan đến lộ trình hoằng pháp của đức Phật, đó là nơi Ngài đã thuyết Bài Kinh Lửa Cháy (Aditta-pariyaya Sutta- Tương Ưng Bộ Kinh- Kinh 35.28). Như trong kinh tả lại, vài tháng sau khi giác ngộ, Đức Phật giảng bài pháp nầy cho 1,000 tu sĩ theo phái thờ thần lửa. Qua lối giảng siêu việt của Ngài, Đức Phật đã dùng ví dụ về lửa cháy (lửa tham, sân, si) để dạy về tâm xả ly đối với các cảm thọ qua sáu căn. Sau khi nghe bài giảng nầy, toàn thể thính chúng đắc quả A la hán.(Đường Link để tham khảo bài Kinh: Kinh Lua Chay)
28/09/202007:56(Xem: 244)
Dharamshala: Thủ tướng Chính phủ Tây Tạng lưu vong (Sikyong), Tiến sĩ Lobsang Sangay, nhà lãnh đạo Chính trị được bầu dân chủ Tây Tạng, Cục Quản lý Trung ương Tây Tạng lưu vong đã ra mắt cuốn sách do Hoà thượng Acharya Yeshi Phuntsok, Phó Chủ tịch Quốc hội Lưu vong Tây Tạng biên soạn với chủ đề “So sánh Hiến pháp của các Quốc gia Dân chủ Khác nhau” (Comparative Constitutions of Various Democratic Nations). Tác phẩm tập trung vào việc so sánh Hiếp pháp của các quốc gia dân chủ khách nhau trên thế giới, và giải thích các loại Hiếp pháp Dân chủ khác nhau một cách đơn giản nhưng sâu sắc.