Ý Nghĩa Đời Người

07/02/201816:54(Xem: 10646)
Ý Nghĩa Đời Người



Duc The Ton 5

Ý NGHĨA ĐỜI NGƯỜI


Phước báu sanh được thân người

Sống cho ý nghĩa một đời vinh quang

Thương yêu hiểu biết dịu dàng

Sẻ chia lợi ích an khang giúp đời…

 

Thật vậy! Một cuộc đời có ý nghĩa, khi sống có ích lợi cho xã hội, cũng như thấu rõ, thực hành và thấm thía được triết lý sống sau:

 

“Tất cả niềm vui có được trên đời

Đều do mang an lạc cho kẻ khác

Tất cả khổ đau có ra trên đời

Đều do muốn hạnh phúc cho riêng minh”

 

Bởi vì:

Ta sinh ra bao nhiêu người lo lắng

Từ mẹ cha bác sĩ cả nhà thương

Lo mẹ tròn con vuông khỏe bình thường

Đến khôn lớn biết bao người nuôi dưỡng

Ơn nghĩa trả chứ đừng lo thụ hưởng

Công sức cùng tâm trí vị tha nhân

Lòng khoan dung tùy hỷ mãi chuyên cần

Luôn chia sẻ nụ cười tâm mở rộng…

 

Đúng vậy !

Ta nợ cuôc đời này quá lớn, từ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, cho đến bút, tập, sách, đèn…Cha mẹ, anh chị em, bà con thân thuộc, xã hội, đã nuôi dưỡng ta, rồi bảo vệ, ủng hộ ta, cho ta được bình yên trong phận sự, từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, cho đến bây giờ. Ta cứ ngồi tính kỷ lại, với mấy chục năm, có mặt trên cõi đời này, ta đã thọ nhận những gì và làm được gì cho xã hội? cho tha nhân ? Nhiệt tình giúp được ai trong khả năng, của mình chưa ? Rồi chỉ cần một ngày, ta phải chạy lo đủ ăn, mặc, sẽ thấy và biết rõ được, công ơn ấy to lớn biết chừng nào!   

“Hai tay bưng bát cơm đầy, dẻo thơm từng hạt, đắng cay muôn phần”

Bao nhiêu công ơn ấy, ta không lo đền ơn, đáp trả là mắc nợ suốt đời, không những chỉ mắc nợ, mà còn mang tiếng “bất hiếu” hay “vong ân bội nghĩa”!

Con người chỉ biết sống “ích kỷ” lo cho riêng mình, không biết ơn và lo đền ơn như vậy, sống không còn ý nghĩa gì với xã hội, sẽ bị người đời nguyền rủa. Hơn nữa một khi đã mắc nợ rồi, không lo trả sớm, thì nợ sẽ sinh lời, cứ như vậy mà cấp số nhân lên, ta trả hết đời nầy đến kiếp khác, có thể mang lông đội sừng, làm thân tôi mọi, cực khổ, tủi nhục vô cùng, để  trả cho đến hết.

 

Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm , Phật dạy: “Ai biết ơn thì người ấy đáng kính, người ấy ơn nhỏ còn không quên, huống chi ơn lớn, người ấy dù cách xa ta ngàn dặm hay trăm ngàn dặm, mà vẫn không xa ta. Vì lẽ ấy ta luôn ca tụng. Người không biết ơn, trả ơn, thì ơn lớn cũng quên huống chi ơn nhỏ. Kẻ ấy sẽ không gần ta, ta không gần kẻ ấy. Kẻ ấy dù mặc pháp y và ở ngay bên trái hay bên phải của ta đi nữa. Cũng vẫn xa ta.”

 

Sống trong một xã hội, cùng cộng nghiệp và tương giao mật thiết với nhau, hạnh phúc của ta cũng là hạnh phúc của mọi người. Nên ta mang niềm vui và hạnh phúc đến cho mọi người, cũng đang là mang niềm vui và hạnh phúc lại cho ta. 

 

Nếu bạn sốt sắng thành thật quan tâm đến người khác thì trong vòng hai tháng bạn sẽ có nhiều bạn thân hơn là hai năm cố gắng bắt người khác quan tâm tới bạn” – Dale Carnergie

 

Triết gia Alfred Adler nói:
“Kẻ nào không quan tâm đến người khác, chẳng những sẽ gặp nhiều sự khó khăn nhất trong đời, mà còn là người có hại nhất cho xã hội”.

Đúng vậy! người không quan tâm đến kẻ khác, chứng tỏ “bản ngã” quá lớn, khi “bản ngã” đã lớn rồi, thì hệ lụy cho bản thân và xã hội cũng thật là tồi tệ. Xem ta là hơn hết, ta luôn luôn đúng, mọi người phải nghe lời ta, phải cúi lòn và lệ thuộc vào ta!

Từ đấy sống cuộc đời ngạo mạn, coi thường mọi người, được thời, được thế, lo vun vén tư riêng, hay củng cố địa vị, danh lợi, cho bàn thân và gia đình. Dẫn đến xem nhẹ việc chung, sẵn sàng triệt hạ những người biết rõ về mình, nhưng không phục, hay không đồng quan điểm với mình. Thấy cái tốt của người thì khó chịu và tìm hoặc dựng lên những điều chưa tốt, để bêu xấu người, hầu che cái xấu của mình, khiến nhiều tội lỗi, oan trái, hận thù xảy ra.

Điều tốt không chịu nhìn thấy để phát huy, trong khi đó, để cỏ dại được nhân lên, lấn áp hết những hoa thơm, trái ngọt, nguy hại cho đời, bản thân mất đức, hết phước cũng từ đây.

 

Luật nhân quả, như gương soi, rất công minh. Ở đời, nếu ta không quan tâm đến người thì dĩ nhiên, người cũng đáp lại ta như vậy. Trái lại, nếu ta chân thành quan tâm đến người, thì người yêu mến ta, đối xử tốt, giúp đỡ ta, lắm lúc còn hơn những gì ta đã trao cho họ.

 

“Ý nghĩa cuộc đời một con người là ở chỗ phải trở thành nguồn nhiệt lượng và ánh sáng cho người khác” Rô-bin-xơn.

 

Quan tâm đến kẻ khác, điều này không đòi hỏi ta phải giàu có, phải đầu tư nhiều vốn liếng, hay quyền uy, danh vị, mà ta chỉ cần nở một nụ cười, hay một lời hỏi thăm chân tình, với mọi người khi giao tiếp, hay khi cần thiết, là ta có thể tạo ra của cải, vì khi người ta cảm mến, thân thiện mình rồi, thì việc gì cũng có thể giúp đỡ, ủng hộ ta.

Tán dương người khác, tức là biết “tùy hỷ” trước những thành tựu, những việc làm cao đẹp, ích lợi của người khác, chẳng những ta được lợi ích, phước đức như người, mà còn là động lực, tạo thêm sức mạnh cho người, tiến hành thêm nhiều điều tốt nữa. Hay là biết thông cảm, chia sẻ với người, ta không hao tốn điều chi, nhưng có thể giảm bớt nỗi buồn và nhân niềm vui lên gấp bội !

 

Phước đức có được là do nơi sự ăn ở, đối nhân xử thế, biết khiêm cung, lắng nghe, tôn trọng và giúp đỡ mọi người, của ta.

Thánh hiền có dạy: “Đức hạnh phát khởi do không mong cầu, Trí tuệ phát khởi do không vọng động” hay “Trong tâm khiêm tốn là Công, ngoài hành lễ phép là Đức” (Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ).

 

Vậy ta hạ “bản ngã” xuống, sống đơn giãn, với tinh thần “vô ngã, vị tha” sẽ không còn sống với bản năng, chỉ biết lo “sinh tồn” và “hưởng thụ” nữa, mà sống trong phương châm “ít muốn, biết đủ” để không còn đấu tranh hay mong cầu với đời, với người nữa. Sống “vị tha nhân”, từ đó có “ý nghĩa cuộc đời” và có được phước đức.

Khi có phước đức rồi, thì ta sống cuộc đời bình dị, hài hòa, mọi người vẫn tôn kính, quý trọng, chứ không cần phải tỏ ra nghiêm nghị, uy quyền, hay phải sử dụng hình thức phủ đầu, thị uy!

 

Người có được tấm lòng bao dung, độ lượng, “tâm như thái hư, lượng châu sa giới” sẽ có được nhiều niềm vui, vì không phân biệt đối xử, hay so đo tính toán, như vậy dung chứa được tất cả. Không phiền não điều gì nơi người, mà thấy toàn những điều hay, đẹp, của người, nếu thấy điều gì còn chưa tốt, qua lăng kính của “tâm tốt” cũng hóa giải thành “tốt” (vì người vui cảnh chẳng đeo sầu) hay biến thành “bài học” cho cuộc đời, trong sự hiểu biết, thông cảm, sẻ chia. Từ đó, theo Phật giáo, tùy theo “tâm tốt” mà “chiêu cảm” những điều “tốt”.  

 

Niềm vui luôn đi cùng những người khoan dung, của cải luôn sánh vai cùng những người biết giữ chữ tín, trí tuệ luôn song hành cùng những người cao thượng, sức hấp dẫn luôn xuất hiện bên người hài hước và sức khỏe luôn đến với những người vui vẻ, mở rộng trái tim”. (MP Bes Việt Nam). Những điều này ta dễ dàng thực hiện, không tốn kém gì cả, nhưng sẽ cho ta niềm vui, thêm “ý nghĩa cuộc đời”.

 

Đời người lấy đạo đức, tình thương cùng trí tuệ, làm căn bản và lý tưởng cho cuộc sống, luôn quán chiếu, để thấy được điều sai mà sửa, điều tốt mà phát huy, luôn sống vì người khác, có thể hy sinh bản thân mình, để đem lợi ích, an vui cho mọi người. Đó là sống một cuộc sống cao đẹp, một “đời người đầy ý nghĩa”. Tuy thấy có thiệt thòi trước mắt, nhưng rồi luật nhân quả sẽ bù trừ xứng đáng: Cỗ nhân có dạy: “Thiệt thòi là phước” Vòng tay mở rộng chừng nào, Là ôm vũ trụ gôm vào bấy nhiêu

Trước mắt ta có được niềm vui và sự kính trọng của mọi người, sau đó phước đức và uy tín sẽ tăng, mọi điều tốt đẹp sẽ đến.

Sống phục vụ với tinh thần vô ngã

Mọi người thương kính trọng cũng từ đây

Đời ý nghĩa hạnh phúc mãi đong đầy

Xã hội tốt cuộc đời nhiều an lạc…

 

Pháp Hoa Nam Úc, Rằm, tháng Chạp, Đinh Dậu                 

Thích Viên Thành

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 20056)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17307)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14796)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16272)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12266)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11157)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11713)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7703)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8738)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8062)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.