Hồi Đầu Thị Ngạn

24/01/201818:34(Xem: 9951)
Hồi Đầu Thị Ngạn



Phat Thanh Dao_11

HỒI ĐẦU THỊ NGẠN

(loạt bài viết về Đời Người và Định Hướng cho Tương Lai)

Có một nhà thơ sau khi thấm thía được nỗi khổ đau của nhân thế đã viết:

“Bể khổ mênh mông nước ngập trời
Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi,
Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió,
Ngẫm lại cùng trong bể khổ thôi.”

 

Chiếc thuyền ở trong biển, dù ngược gió hay xuôi gió cũng đều phải bị sóng gió dập dùi và khổ lụy. Đã sinh ra làm kiếp con người ở trong cõi trần ai này, đều phải chịu tám khổ (sanh, già, bệnh, chết, yêu mà xa nhau, ghét mà gần nhau, cầu mà không được, năm ấm trong người xung đột với nhau). Cho nên con người ở trong bể khổ trầm luân này, dù có tìm được chút vui tạm bợ nào, rồi cũng vui trong khổ mà thôi, chứ chưa phải là cái vui lâu dài, giải thoát.

Cho nên có thơ:

“Trần thế có nhiều cảnh khổ vui
Giác ngộ thoát ra kẻo ngậm ngùi
Vui trong tham dục vui rồi khổ, 

Khổ để tu hành, khổ hóa vui, 
Nếu biết có vui là có khổ, 
Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui, 
Mong sao giữ tâm không vui khổ 
Mới thoát ra ngoài lối khổ vui”. 

Bể khổ mênh mang “quay đầu là bến” Đây là câu nói quen thuộc trong kinh sách Phật giáo, mà quý Thầy, Cô khi đi giảng dạy thường hay sử dụng. Một câu nói tuy ngắn nhưng rất nhiều ý nghĩa, gợi cho ta hình ảnh hay một câu chuyện nào đó của một người đã tạo nhiều ác nghiệp, nay hồi đầu, hướng thiện, nên quay tìm về lại con đường tốt, trong sáng.

Ở đây không phải là người nào, mà là cả một xã hội của thời hiện đại.

Đúng vậy ! nhìn những thảm cảnh của các trận, động đất, sóng thần, bão, lụt, lốc xoáy, vòi rồng…diễn ra trong khắp nơi, chúng ta đã thấy sự cuồng nộ, nỗi giận, tàn phá của thiên nhiên, thật là kinh hoàng khũng khiếp. đã, đang và rồi cũng sẽ có những tan thương chết chóc tiếp tục qua các cuộc khủng bố của những kẻ cuồng tín và chiến tranh hóa học !

Tất cả những hậu quả ấy, là do con người với lòng tham sân si đang chất ngất. Nhóm “tài phiệt” với thế lực ngầm rất mạnh, đã chi phối các cường quốc, dùng kiến thức và sự giàu có của mình, tạo ra các cuộc chiến tranh, hết “ý thức hệ” bây giờ có thể muốn tạo nên “chiến tranh tôn giáo” hay “chiến tranh hóa học” !

Rồi khoa học tiến bộ, mọi tiện nghi vật chất mỗi ngày mỗi đỗi mới, tài nguyên thiên nhiên khai thác cạn kiệt... Nếu con người không biết dừng lại mà cứ muốn thể hiện “bản ngã” để Tham – Sân – Si luôn khởi lên, thì đừng hy vọng có được thái bình, thịnh vượng đích thật.

Qua ba nghiệp thân, miệng và ý con người mặc sức gieo tạo, với thời buổi tiến bộ về kỳ thuật số “bùng nổ truyền thông” này, chỉ cần một phút là trên toàn cầu đều biết và vũ khì hiện đại, chỉ cần nhấn nút là hỏa tiễn liên lục địa, sẽ mang đầu đạn hóa học, hủy diệt cả một vùng rộng lớn, có thể cả một dân tộc, một đất nước. Nên kẻ xấu đã lợi dụng, gây hận thù, chia rẽ, rồi chiến tranh, làm giàu trên sự chết chóc, tan thương của nhân loại.   

Một đời người, sống tối đa một trăm (100) năm, chết rồi cũng bỏ lại tất cả, chỉ mang theo được chăng là “nghiệp” mình đã gieo tạo như: Thành Cát Tư Hản, Adolf Hitler, Saddam Hussein, Gaddafi…lừng lẫy một thời, rồi cũng phải chết thảm thương, bằng cách bị treo cổ và bị bắn chết trong ống cống ! Osama bin Laden hay IS gây khiếp đãm, kinh hoáng qua những trận khủng bố, rồi cũng phải có ngày bị tiêu diệt.

Giàu có như những tỷ phú: Al-Hariri người Lebanon, Tỷ phú Ashraf Marwan là con rể của cựu Tổng thống Ai Cập Gamel Abdel Nasser. Arkady "Badri" Patarkatsishvili là một đại gia đầy quyền lực lẫn tiền bạc của Gruzia…đều có những cái chết thê thảm, hay Job Steve, rồi cũng phải trăn trối những lời đáng suy nghiệm! .
Tại sao chúng ta không học hỏi và làm theo A Dục Vương, hay A Lịch Sơn Đại Đế, biết quay đầu, sám hối tội lỗi của mình, bằng cách theo Phật và truyền bá Phật Pháp ra khắp nơi làm lợi ích cho đời, hay như vợ chồng Bill Gate hy sinh cả thân mạng và tiền của, để nghiên cứu những thứ chống lại và phòng ngừa bệnh tật thời đại, mang trí tuệ đến những nơi nghèo khốn khó.

Thấy những trận động đất, sóng thần…kinh hoàng mà mỗi chúng ta hãy mau thức tỉnh, mà lo quay đầu. “Quay đầu là bờ” tức là sẽ đến được nơi bình yên sung sướng, thanh thoát…

Trong kinh Phật có chuyện Ông Vô Não. Khi Đức Phật còn tại thế, với tâm từ, Ngài đã độ cho tướng cướp Vô Não (Angulimala) do cuồng tín, tin theo lời Thầy, muốn được truyền phép mầu, phải giết một trăm (100) người, rồi chặt lấy ngón tay. Vô Não đã giết được chín mươi chín (99) người, đeo một tràng ngón tay quanh cổ, chỉ còn thiếu một người nữa, thì gặp mẹ chàng đi tới. Chàng xông xáo chạy đến định giết mẹ thì Đức Phật hiện đến, chàng liền đổi ý chạy theo Phật để hạ sát. Chàng chạy như tên bay mà không kịp. Tức quá chàng kêu to: “ Kìa ông sa môn ! sao ông không dừng chân lại ?” Đức Phật đáp: “Này Vô Não, Như Lai dừng bước đã lâu rồi chỉ có ngươi chưa chịu dừng bước đó thôi”. Vô Não hỏi lại: “ Ông nói ông dừng bước sao tôi chạy theo mãi không kịp? ông là người nói dối ”. Phật đáp: “ Như Lai đã dừng bước trên con đường tội lỗi, Như Lai đã trút bỏ gươm giáo từ lâu rồi”. Vừa nghe được bấy nhiêu lời, Vô Não chợt tỉnh mộng điên cuồng, hối ngộ, liệng dao quỳ trước Phật, xin Phật ra tay tế độ. Cuối cùng Vô Não được xuất gia theo Phật, nghiêm mật tu hành, thành bậc A La Hán và viên tịch một cách yên bình, chứng đắc Vô dư Niết bàn. Nên có câu “Buông đao thành Phật” hay “Quay đầu là bờ” chính là vậy.

Cuộc đời là một chuyện thị phi nhiều tập, là vòng phân biệt, đối đãi, đưa ta vào chốn khổ, nếu chạy theo hoặc bị thị phi chi phối, chỉ mất rất nhiều thời gian vô ích, vừa đánh mất chính mình vừa chuốc tội vào thân.

Đã được làm người là có phước lắm rồi, mọi người đều có tính tốt, hãy có cái nhìn sáng suốt và niềm tin chân chính, hầu tương kính nhau, tha thứ, để tất cả cùng hướng thượng, chung sống hòa bình, thì trần gian nầy là Thiên đường rồi!                                                                                                                               

“Gieo gió ắt gặt bão”, “Ở hiền thì gặp lành”. Vậy những ai muốn có cuộc sống an khang, hạnh phúc hãy HỒI ĐẦU “không tạo các việc ác, siêng làm các điều lành, giữ tâm ý trong sạch, làm lợi lạc cho mọi người” thì sẽ được ĐẾN BẾN BỜ BÌNH YÊN mới chính là người đáng được tưởng nhớ, tôn vinh.

Ta có tốt thì mới hy vọng chiến thắng được cái xấu. “Ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng, ai tội nấy mang” chứ không ai, có thể thay thế cho ai được cả, vậy nên mỗi chúng ta hãy mau thức tỉnh, mà noi gương những bậc anh minh, biết “hồi đầu hướng thiện”, như A Dục Vương hay Alịchsơn Đại đế, cho bản thân được cao đẹp, xã hội được an lành, hậu thế tôn vinh, chứ đừng chạy theo “bản ngã” với nhiều vọng tưởng, vô minh mà khổ lụy cuộc đời.

 “Biết dừng lại và quay đầu là đến bến”. Đừng để phải đau xót, ngậm ngùi hát mãi câu: “ Thiên đàng rộng cửa không ai đến, Địa ngục không môn lắm kẻ tìm”.    

 

Pháp Hoa Nam Úc, kỷ niệm ngày Phật Thành Đạo 8/12 Đinh Dậu (1/18)

Thích Viên Thành                                                                         

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14228)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20116)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17361)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14875)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16629)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12652)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11561)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12006)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7978)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9033)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.