Nhân Sinh Yếu Nghĩa (sách)

29/03/201519:59(Xem: 29030)
Nhân Sinh Yếu Nghĩa (sách)


Nhan Sinh Yeu Nghia

NHÂN SINH YẾU NGHĨA

Hòa Thượng TUYÊN HÓA
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Định

Mục Lục

 

Năm Pháp Bình Đẳng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .5
Thiền Thất Khai Thị . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .10
Diệu Dụng Của Sự Nhẫn Nhục . . . . . . . . . . . . . . . . . . 68
Bạn Có Nghĩ Chân Chánh Tu Hành Chăng ? . . . . . . . . 76
Không Cải Quốc Tịch . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 81
Sinh Mạng Không Phải Là Tiền . . . . . . . . . . . . . . . . . . 84
Ngồi Thiền Thì Ai Đánh Ai ? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 87
Ngồi Thiền Như Luyện Công Phu . . . . . . . . . . . . . . . . 91
Quỷ Bức Thiền Sư . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 93
Đạt Ma Tổ Sư Độ Chim Oanh Vũ . . . . . . . . . . . . . . . . 97
Toạ Thiền Vì Nhiếp Tâm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 101
Thu Thập Nhân Tâm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .104
Phật Căn Địa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 108
Kiên Nhẫn Hằng Tâm Lại Tham Thiền . . . . . . . . . . . .111
Tiêu Diệt Nguồn Gốc Tật Ác . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .115
Thu Hồi Phóng Tâm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 118
Ngưng Bặc Vọng Tưởng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 121
Bắt Lấy Con Khỉ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 124
Nước Cam Lồ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .127
Đừng Muốn Nhanh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 130
Mượn Giả Tu Chân . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .133
Tâm Thanh Thuỷ Hiện Nguyệt . . . . . . . . . . . . . . . . . .137
Biến Hoá Khí Chất Cải Tập Khí Tốt . . . . . . . . . . . . . . 140
Cửa Khai Mở Trí Huệ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 144
Không Cho Rằng Chứng Thánh Mới . . . . . . . . . . . . . . 147
Tam Xa Tổ Sư . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 150
Trì Giới Thanh Tịnh Như Trăng Rằm . . . . . . . . . . . . .154
Tham Thiền Không Nên Bị Cảnh Chuyển . . . . . . . . 156
Thuận Nghịch Đều Tinh Tấn . . . . . . . . . . . . . . . . . . .159
Từ Bỏ Tâm Ý Thức. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .162
Tám Gió Thổi Không Lay . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 164
Mộng Huyễn Bọt Ảnh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .167
Tĩnh Toạ Trong Chốc Lát . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 170
Lão Tăng Một Khi Ngồi . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .174
Nhận Rõ Trách Nhiệm Làm Người . . . . . . . . . . . . . .178
Thanh Tâm Quả Dục . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .180
Điều Phụ Con Khỉ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 185
Công Đức Tĩnh Toạ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .187
Tứ Thiền Không Phải Là Tứ Quả . . . . . . . . . . . . . . . . 190
Tại Sao Vọng Tưởng Điên Đảo . . . . . . . . . . . . . . . . . 192
Nhìn Thủng Cảnh Giới Sáu Trần . . . . . . . . . . . . . . . .196
Cảnh Giới Nhị Quả A La Hán . . . . . . . . . . . . . . . . . . 199
Pháp Thân Y Thực Thuỳ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 202
Mọi Sự Nhẫn Nhục Đều Chịu Được . . . . . . . . . . . . . 205
Khai Quang Thánh Tượng Bồ Tát . . . . . . . . . . . . . . . .209
Chân Linh Dung Hội Giáo Chủ . . . . . . . . . . . . . . . . . 211
Sáu Con Đường Vào Cửa Phật . . . . . . . . . . . . . . . . . .220
Nghiệp Và Tình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .228
Trở Về Cội Nguồn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .232
Lược Nói Phẩm Tịnh Hạnh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 235
Người Vì Tài Mà Chết . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 243
Tham Thiền Minh Bạch Bổn Lai Diện Mục . . . . . . . .249
Năm Thìn Biến Hoá Khó Lường . . . . . . . . . . . . . . . . 254
Tứ Hoằng Thệ Nguyện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 257
Tri Túc Thường Lạc . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 262
Nhân Chi Sơ Tánh Bổn Thiện . . . . . . . . . . . . . . . . . .264
Nguy Cơ Vong Quốc Diệt Chủng . . . . . . . . . . . . . . . 267
Biện Pháp Tốt Nhất Tiêu Trừ Chiến Tranh . . . . . . . .273
Mất Chỗ Nào Thì Tìm Chỗ Đó . . . . . . . . . . . . . . . . .276
Vía Quán Thế Âm Bồ Tát Thành Đạo . . . . . . . . . . .278
Tinh Khí Thần Là Tam Bảo Của Tự Tính . . . . . . . . .281
Kệ Cảnh Chúng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 284
Tự Chuốt Lấy Diệt Vong . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .289
Pháp Đại Tốt Nghiệp Điển Lễ . . . . . . . . . . . . . . . . . .292
Nguyên Nhân Thế Giới Hư Hoại . . . . . . . . . . . . . . . 295
Làm Sao Cứu Vãn Nền Giáo Dục ? . . . . . . . . . . . . . 298
Kỷ Niệm Ngày Bố Tát Quán Thế Âm Xuất Gia . . . . 302
Hoa Sen Mọc Trong Bùn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .305
Ngư Mục Hỗn Châu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 309
Niệm Phật Có Thể Khiến Cho Thế Giới Hoà Bình . . 312
Chúng Ta Phải Học Mô Phạm Của Phật . . . . . . . . . . 315
Ý Nghĩa Đạo Đức Và Thực Tiễn . . . . . . . . . . . . . . . . 321
Lão Thực Học Phật, Hưng Thạnh Chánh Pháp . . . . . 328
Mạng Người Vô Thường Trong Hơi Thở . . . . . . . . . 331
Làm Thế Nào Cứu Vãn Kiếp Vận . . . . . . . . . . . . . . . 335
Phật Pháp Không Rời Tâm Của Mỗi Người . . . . . . . 340
Phải Lạy Phật Trong Nội Tâm . . . . . . . . . . . . . . . . . . 347

pdf
Nhân Sinh Yếu Nghĩa, HT Tuyên Hóa, Thích Minh Định dịch

***




hoa sung

Kính mời xem:

Kinh Hoa Nghiem 1

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14353)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20291)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17476)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14995)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16791)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12802)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11678)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12185)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8122)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9174)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.