Vị đại đức và bầy con nuôi trên đỉnh Thiên Cầm

12/03/201420:34(Xem: 11348)
Vị đại đức và bầy con nuôi trên đỉnh Thiên Cầm
Mỗi đứa trẻ một hoàn cảnh, nhưng tất cả đều như cây cỏ thiếu ánh nắng, thiếu nước tưới nên cằn khô chai sạn, và chỉ biết đến tiếng cười khi được một tu sĩ Phật giáo đưa về ngôi nhà chung ở Thiên Cầm
Đại đức Thích Hạnh Nhẫn và một trong những đứa con nuôi của mình.

Ám ảnh vì đôi mắt bé thơ

Xuất gia từ nhỏ, cuộc sống của thầy Thích Hạnh Nhẫn gắn liền với câu kinh bài kệ. Không chỉ thấm nhuần giáo lý nhà Phật, năm 2001 thầy thi đậu thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm của học viện Phật giáo. Trong thời gian tu học ở thủ đô, đại đức Thích Hạnh Nhẫn thường xuyên hoằng pháp tại các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ. Sau mỗi chuyến đi, hình ảnh mà thầy mang theo là những câu chuyện, những mảnh đời đơn côi nghèo khó cần một bàn tay giúp đỡ.
Thầy nhớ lại: “Trong cơn mưa chiều tầm tã từ thành phố Hà Tĩnh về Cẩm Xuyên, tôi đã bắt gặp một cụ già đi nhặt ve chai cùng đứa trẻ chừng năm tuổi lững thững theo sau. Tôi dừng lại hỏi, thì ra bố mẹ bỏ đi từ khi cháu còn đỏ hỏn. Đứa bé ở với bà. Khuôn mặt, đôi mắt trong veo đó cứ ám ảnh tôi suốt chặng đường về”.
Năm 2006, sau khi tốt nghiệp, thầy không trở về quê hương Phan Thiết mà đến Hà Tĩnh.
Bức tranh hạnh phúc của đứa trẻ mồ côi
Chiều hôm trước nhận bằng, sáng hôm sau thầy Hạnh Nhẫn bắt xe đò từ Hà Nội chạy thẳng về Hà Tĩnh, và xin ở trong chùa Cầm Sơn, huyện Cẩm Xuyên. Sau khi sửa sang lại chùa, thầy Nhẫn bắt tay ngay vào việc đi tìm lại những mảnh đời đã bắt gặp trong những chuyến hoằng pháp trước đó.
Ngôi nhà trên đỉnh Thiên Cầm được dựng lên, nhưng không phải đứa trẻ mồ côi nào cũng hoan hỉ đón nhận tấm chân tình của nhà sư. Có nhiều em đang lấy gầm cầu làm nhà, quen với cuộc sống lang thang nên khi thầy ngỏ ý đưa về chùa cho ăn, cho ở, cho ngủ và được đến trường thì không tin đó là sự thật.
Thầy vui vẻ kể: “Có đứa còn nghi ngờ, có đứa thấy thầy là sợ, bỏ chạy vì nghĩ thầy lừa đảo! Thầy đã nghĩ ra cách mang cho các em vài cái kẹo hay bánh, sau đó mới trò chuyện với chúng”.
Bây giờ ngôi nhà chung của thầy đã có 22 thành viên, đứa lớn nhất thầy đang cho đi học trung cấp, nhỏ nhất mới năm tuổi. Nơi đó, vị tu sĩ chăm lo từ bữa cơm, giấc ngủ, tập vở để bọn trẻ được đủ đầy như bạn bè cùng trang lứa. “Chúng là những đứa trẻ thiệt thòi, kém may mắn nên rất dễ tổn thương, tuỳ từng đứa mà mình có cách cư xử khác nhau. Nhưng không vì thế mà nuông chiều. Đứa nào hư, không học thuộc bài thầy phạt buổi sáng chạy thể dục thêm một vòng nữa”, Thầy Hạnh Nhẫn cho biết.
Cảnh đầm ấm của mái nhà chung.
Những câu chuyện mà vị sư thầy kể về “bầy con” của mình khiến hành trình từ thành phố Hà Tĩnh xuống huyện Cẩm Xuyên như gần hơn. Tôi rất nóng lòng muốn tận mục sở thị ngôi nhà trên đỉnh Thiên Cầm. Xe vừa dừng dưới chân núi, những chỏm đầu trái đào ùa xuống ríu rít: “Con chào thầy! Con chào cô!” và ôm chầm lấy thầy. Đứa xách tay nải, đứa cầm quạt giấy giúp thầy, có đứa nhanh nhảu hỏi: “Thầy có mua quà cho tụi con không?”… mỗi đứa một câu làm thầy Hạnh Nhẫn không kịp trả lời. Không khí nhộn nhịp ấy cứ kéo dài mãi lên đến tận đỉnh núi.
Tranh thủ lúc những đứa trẻ đang ngồi tụng kinh, tôi đi vòng quanh chùa thì bắt gặp một cậu bé đang cặm cụi ngồi tô tô vẽ vẽ. Hỏi thì biết em tên Vũ Long, 11 tuổi, đến ngôi nhà chung này được hai năm và đang học lớp 2. Thấy tôi ngạc nhiên, Long kể: “Vì trước đây con không có cha mẹ, con không được đến trường. Về đây, thầy cho con đi học, con biết ước mơ. Con coi thầy như bông hoa hồng của con vậy”.

Tôi nhìn xuống bức tranh Long đang vẽ, đó chính là bãi biển Thiên Cầm, với ngọn núi đang nghiêng mình đón ánh nắng mặt trời, xa xa là vị sư thầy cùng 22 đứa trẻ đang vui đùa trên bãi cát.

TheoSgtt.vn

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/07/2011(Xem: 15102)
Tiếp theo hai tập, Nhận thức và Không tánh (2001) và Tánh khởi và Duyên khởi (2003), sách Nhân quả đồng thời lần này thu góp các bài học Phật luận cứu các vấn đề Tồn tại và Thời gian, Ngôn ngữ, Giáo nghĩa, và Giải hành liên quan đến nguyên lý Duyên khởi mà Bồ tát Long Thọ nêu lên trong bài tụng tán khởi của Trung luận, bản tiếng Phạn. Các vấn đề này được tiếp cận từ hai phía, bản thể luận và triết học ngôn ngữ, và được trình bày trong ba Phần: (1) Vô thường, Duyên khởi, và Không tánh, (2) Phân biệt, Ngôn ngữ, và Tu chứng, (3) Tín, Giải, Hành, Chứng trong Hoa nghiêm. Toàn bộ bản văn quyển sách để in PDF (7,1 MB)
27/07/2011(Xem: 18139)
Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn của Đại Sư Thật Hiền, Thật Hiền tôi là kẻ phàm phu Tăng bất tiếu ngu hèn, khóc ra lệ máu cúi đầu kính lạy, đau buồn khẩn thiết thưa với chư đại chúng hiện tiền, cùng với chư thiện nam tín nữ có đức tin trong sạch trong hiện đời. Cúi mong quý vị thương xót, lưu ý một chút mà nghe và xét cho.
27/07/2011(Xem: 14487)
Hỏi: Tại sao đạo Phật lại đề xướng ăn chay? Đáp:Người ăn chay thì dục niệm nhẹ. Kẻ ăn mặn thì dục niệm nặng nề. Có tôn giáo cho rằng động vật được sanh ra là để cho loài người ăn, cho nên ăn mặn là một việc hợp lý trời đất. Song le, Phật Giáo đề xướng tinh thần "mọi vật đều cùng một thể, đó gọi là Đại Bi," và xem mọi loài chúng sanh đều có Phật-tánh, đều sẽ thành Phật; cho nên chủ trương giới sát, phóng sanh.
27/07/2011(Xem: 18092)
Mỗi người đều có nhân quả báo ứng của riêng mình. Hễ tạo nghiệp gì thì chịu quả báo đó. Không những chỉ có loài người là phải chịu quả báo mà tất cả chúng sanh cũng vậy; tạo nghiệp từ xưa, ngày nay gặt quả. Điều đó không dễ hiểu đâu. Ví như bị đọa làm súc sinh hoặc ở nơi ác đạo thì rất khó khôi phục lại thân người; nên nói rằng:
26/07/2011(Xem: 14212)
Quyển “MỚI VÀO CỔNG CHÙA” ra đời trước, chúng tôi hướng dẫn độc giả vừa mới làm quen với mùi tương dưa, còn ngỡ ngàng khi bước chân vào cổng chùa. Đến quyển “VÀO CỔNG CHÙA”, chúng tôi nhắm đến những độc giả đã quen thuộc với những chiếc mái vốn cong, từng nghe tiếng mộc ngư nhịp đều buổi tối và tiếng chày kình ngân nga buổi khuya. Tuy nhiên vẫn còn là khách thấy nghe thân cận nhà chùa, chưa phải là người sống trong chùa.
24/07/2011(Xem: 16392)
Ngày nay, việc tổ chức đám cưới tại chùa có lẽ không mấy ai còn cho là lạ, nhưng đây là điều đã được mong muốn từ nửa thế kỷ trước, mà Ni trưởng trụ trì chùa Phước Hải hiện nay – ngày đó là sư cô Tịnh Nguyện, là một trong những vị tu sĩ mở đầu cho truyền thống tốt đẹp này. Một số người vẫn hình dung nhà thờ là nơi để tổ chức đám cưới với tiếng đàn Organ sang trọng, âm vang dưới mái vòm trang nghiêm phủ xuống cô dâu chú rể. Còn nhà chùa chỉ là nơi tổ chức đám tang, với những “vãng sanh đường” leo lét ánh nến, nhang khói mờ mờ, âm âm tiếng mõ trầm buồn.
22/07/2011(Xem: 13990)
Bạn bè là sự thể hiện sinh động cho mối quan hệ đặc thù giữa người với người. Mối quan hệ đó được thiết lập căn bản trên sự đồng đẳng hoặc bất đồng đẳng về giới tính, tuổi tác, chí nguyện, đam mê, sở thích,… là tiêu chí quan trọng để khẳng định nhân cách hoặc quan điểm sống của một con người. Với Phật giáo, sống là sống với. Do đó, bạn bè là một thuộc tính riêng có của các loài chúng sanh nói chung và của con người nói riêng, và là một trong những nhân tố quan trọng, có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực lên bối cảnh sống cũng như khả năng thăng hoa tâm linh của một con người. Sống phải có bạn bè. Không có bạn bè, được xem là một trong năm điều bất hạnh đã được Đức Phật cảnh báo(1).
22/07/2011(Xem: 10412)
Bên cạnh sự ảnh hưởng trực tiếp của gia đình, trong cuộc sống chúng ta, mối tương giao với bạn bè cũng đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của mình. Trong mối quen biết ngoài xã hội, hay trong đoàn thể cùng sống chung, ta có nhiều loại bạn hữu; nhưng tìm được người bạn tốt, chân thật hiểu được ta, để có thể chia sẻ tâm tư là điều khó, huống chi là hỗ trợ ta vượt qua những khó khăn trong đời sống thì càng khó gấp bội phần.
22/07/2011(Xem: 12485)
Suốt ngàn năm bị nội thuộc Trung Quốc dân tộc Việt không ngừng nỗi dậy đấu tranh giành lại quyền độc lập, tự chủ. Năm 968 (Mậu Thân) Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên nạn cát cứ 12 sứ quân, thống nhất non sông xưng là Đại Thắng Minh hoàng đế. Nhà Đinh đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), lập nên triều đại quân chủ đầu tiên của nước Đại Việt.
22/07/2011(Xem: 11113)
Có những biện giải Phật học mà đôi khi ý nghĩa thực tiển vượt thoát khỏi cái võ ngôn từ. Đó là khi hiện thực nương gá vào sự biện giải đó bị biến dạng theo lịch sử, thời gian. Gần gũi hơn, có những phạm trù, khái niệm mà khi vận dụng, ta vô tình quên mất nghĩa gốc ban đầu của chúng. Vấn dề Phật sự là một trường hợp như vậy.