Mối Liên Hệ Giữa Thầy và Trò

06/04/201209:48(Xem: 15078)
Mối Liên Hệ Giữa Thầy và Trò

Mối Liên Hệ Giữa Thầy và Trò
Thích Phước Đạt

thayvatroKhông phải ngẫu nhiên giáo lý Phật giáo và đạo lý dân tộc ta đều xác lập mối liên hệ thầy trò thật khắng khít, không thể tách rời trong sự hình thành nhân cách con người. Mỗi cá thể con người hiện hữu ở đời đều do cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng, nhưng sự trưởng thành, lớn khôn, cất bước chân hội nhập với đời đều nhờ công ơn giáo dưỡng của thầy cô. Thế nên, bổn phận của người học trò luôn ý thức tôn kính thờ thầy mà giới luật nhà Phật đề cao cái gọi là “Sự Sư đệ nhị”, còn đạo lý dân tộc thường dạy “Tôn Sư trọng đạo” mà xưa nay người dân Việt Nam thực hiện. Để thiết lập mối quan hệ hai chiều giữa thầy và trò ngày càng bền chặt, thăng hoa trong sự phát triển các mối quan hệ tình người trong cuộc sống,Đức Phật đã giảng dạy mối quan hệ này qua bài kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (Trường bộ kinh IV).

Về quan hệ giữa thầy và trò

Bản kinh nói trên đề cập 5 điểm chính mà người thầy phải có trách nhiệm và bổn phận truyền trao cho người học trò:

1- Rèn luyện cho học trò theo những đức tính mà mình có.

2- Dạy cho học trò giữ gìn và nhớ kỹ điều cần thiết.

3- Dạy cho học trò nắm vững nghề nghiệp đến mức thuần thục.

4- Khen học trò đối với bạn bè quen biết.

5- Đảm bảo nghề nghiệp cho học trò trên mọi mặt.

Rõ ràng, trong các mối quan hệ của con người thiết lập, thì mối quan hệ thầy đối với trò có một vai trò quan trọng trong đời sống thăng tiến tri thức và chuyển hóa tâm linh đối với mọi người. Do đó, người thầy trở thành bậc mô phạm giữa đời, là tấm gương phản ánh để người học dõi theo thực tập. Hay nói một cách cụ thể, vị thầy là người thực thi đời sống hướng nội “tri hành hợp nhất”. Cái biết của thầy là cái biết đúng sự thật chân lý, trên hết là thể nhập một đời sống tâm linh hướng nguyện vào các đối tượng mà mình giảng dạy.

Tại đây, người thầy không chỉ có nhiệm vụ trao truyền kiến thức đến người học trò mà còn hướng họ thể hiện đời sống thực nghiệm qua thân hành, khẩu hành, ý hành. Mục đích đầu tiên mà người thầy hướng đến là hoàn thiện nhân cách tốt đẹp cho người học, từ đó họ mới sẵn sàng tiếp nhận các kiến thức mà người thầy truyền trao. Đây chính là bước đi đầu tiên mà người học trò cần rèn luyện để trưởng thành với những đức tính tốt đẹp mà người thầy thể hiện trong quá trình giảng dạy. Về mặt này, Đức Phật là vị thầy mô phạm ở đời, có tác động lớn đối với bao thế hệ đi qua.

Cho nên, trong quá trình giáo hóa chúng sinh, Đức Phật là người hết lòng dạy cho các học trò của mình những điều cần nhớ kỹ để thực nghiệm, để thăng tiến đạo hạnh. Những điều cần nhớ, cần giữ gìn chính là con đường thực thi nếp sống có giới như kiện toàn về đạo đức, an trú trong định như là sự ổn định tâm thức, không bị dao động bởi sự biến động của đời sống thực tiễn, từ đó thăng tiến về trí tuệ, có đóng góp thiết thực cho đời.

Đây chính là trách nhiệm lớn lao mà người thầy phải truyền trao cho người học. Suy cho cùng, người thầy là người giới thiệu người học cất bước chân thể nhập vào đời. Do đó, người thầy phải nhiệt tâm trao truyền kiến thức chuyên môn để người học thiện xảo trong nghề nghiệp, tháo vát trong hành xử, tạo ra các sản phẩm tốt mang tính hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất con người mong muốn. Sau đó là sự góp phần đem lại hiệu năng của một đời sống hạnh phúc, an lạc cho từng cá thể.

Sự thành công của người học trò sẽ là niềm khích lệ, động viên cho chính họ thăng tiến và đi xa hơn nữa. Trong trường hợp đó, người thầy phải khéo léo khích lệ người học trò trước mọi người, trước các hội chúng, và bạn bè thân hữu. Điểm này nếu được vị thầy tán dương đúng lúc, đúng thời sẽ tạo ra hiệu quả lớn trong việc giáo dục và đào tạo. Nguyên lý giáo dục khích lệ này không chỉ được Đức Phật thực thi mà các nhà giáo dục hiện đại cũng áp dụng và đưa đến những thành tựu giáo dục như chúng ta đã biết.

Không dừng tại đó, người thầy còn có nhiệm vụ hướng cho người học sau khi thành thạo chuyên môn, phải có ý thức thăng tiến nghề nghiệp để có vị trí xứng đáng trong xã hội. Tại đây, người học trò trở thành chuyên gia trong lĩnh vực nào đó mà bản thân họ được đào tạo. Tính chuyên môn cao sẽ tạo ra tính bền vững trong nghề nghiệp. Từ đây, nó sẽ tác động đến mọi mặt đời sống của xã hội trong sự phát triển chung của từng cá thể và cả cộng đồng.

Với 5 điểm chính mà người thầy thể hiện trong mối quan hệ giữa thầy và trò như thế sẽ dẫn đến người học trò có 5 bổn phận, trách nhiệm cần phải thực thi với người thầy của mình mà ta sẽ đề cập dưới đây.

Về quan hệ giữa trò đối với thầy

Bản kinh trên cũng đề cập đến 5 điểm chính như sau:

1- Chào thầy khi thầy đến.

2- Hầu hạ, săn sóc thầy.

3- Hăng hái học tập thầy.

4- Tự mình giúp đỡ thầy.

5- Tự trau dồi nghề nghiệp mà thầy trao truyền cho mình.

Thực chất, 5 điểm này là nói đến tinh thần “Sự Sư đệ nhị”, hay “Tôn Sư trọng đạo” của người học đối với vị thầy mà thôi. Sự thể hiện chào thầy khi thầy xuất hiện chính là hình ảnh người học trò biết tôn kính người thầy mọi lúc mọi nơi. Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” khiến người học lúc nào cũng khắc sâu vào tâm trí của mình để tri ân và báo ân. Khi người học biết tôn kính người thầy thì người đó mới sẵn sàng đón nhận các kiến thức người thầy truyền trao một cách nhiệt tâm trong ý thức cầu học. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nguyên lý giảng dạy, giáo dục luôn đòi hỏi mối quan hệ này phải được thể hiện hai chiều. Thầy phải tạo dấu ấn lớn trong tâm thức người học trò trên mọi phương diện và ngược lại người trò phải hết sức tôn kính người thầy thì hiệu năng giáo dục mới có hiệu quả cao.

Từ đây, việc săn sóc thầy không còn được xem là bổn phận mà được thể hiện qua cái tình người học trò dành cho người thầy. Việc hầu hạ, săn sóc thầy trở thành một công việc tự nguyện, chẳng có gì để nói. Sự thân cận, hết lòng hầu hạ thầy không chỉ giúp người đó học được kiến thức mà còn học được cách tiếp nhận từ một đời sống thực nghiệm mà người thầy đã thể hiện trong đời sống thường nhật.

Rõ ràng, có rất nhiều điều người học trò phải biết lắng nghe, dõi mắt nhìn vào tấm gương mà người thầy dày công tạo dựng. Một người học trò khôn ngoan và trung thành, hiếu kính với người thầy không chỉ sẵn lòng đón nhận các kiến thức trên bục giảng mà phải học và hành những gì thầy đã giảng dạy ở mọi lúc mọi nơi. Sự nhiệt tâm, tinh cần của người học trò trong việc học tập sẽ tạo ra nguồn cảm hứng sáng tạo cho người thầy truyền đạt những kiến thức mới không biết mệt mỏi. Nhờ vậy, người học trò có khả năng thăng tiến trên mọi lĩnh vực.

Có thể nói, đây chính là điều kiện để người học trò tự trau dồi kiến thức mà người thầy đã giảng dạy. Nghề dạy nghề là sự thật xưa nay khi mà mỗi người hội nhập vào đời qua khả năng chuyên môn cũng như sự thích ứng với môi trường làm việc, cộng với sự tích lũy kinh nghiệm thực tiễn trong nghề nghiệp sẽ tạo bước nhảy vọt trong sự nghiệp mà mình đeo đuổi trọn đời. Đây là sự đền ơn đáp nghĩa cao nhất mà người thầy trông đợi ở người học trò.

Tóm lại, trong các mối quan hệ giữa người với người thì mối quan hệ giữa thầy và trò, trò đối với thầy là mối quan hệ tạo khả năng thiết lập rộng rãi các mối quan hệ khác. Có thể nói, từ mối quan hệ này mà thiết lập các mối quan hệ khác đa phương, đa chiều trong xã hội. Điều đó có nghĩa là khi mối quan hệ này được thiết lập và xây dựng trên nền tảng giáo dục tự thân và giáo dục cộng đồng với mục tiêu giải thoát khổ đau, thì chắc chắn chúng ta sẽ có một đời sống hạnh phúc và thành tựu Niết-bàn an lạc ngay trong cõi đời này.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/07/2011(Xem: 23682)
Mùa Vu Lan lại về, tôi bồi hồi xúc động. Ai cũng có một người mẹ trong trái tim. Sương mù và mưa ngâu. Nhớ thương và xót xa một cái gì đã mất.
30/07/2011(Xem: 28948)
Tiếng chuông chùa mãi ngân vang, vào lúc buổi bình minh vừa thức giấc hay lúc chiều về, đem theo âm thanh ấm cúng, chan chứa tâm tình, lan rộng ra khắp không gian. Từ bao đời qua, tiếng chuông chùa trở thành nề nếp đẹp của văn hoá tâm linh cho mọi người, với nhịp khoan thai, nhịp nhàng, trong âm vang như chứa những niềm vui, hỷ lạc, một tấm lòng nào đó, khó diễn tả được.
27/07/2011(Xem: 15735)
Tiếp theo hai tập, Nhận thức và Không tánh (2001) và Tánh khởi và Duyên khởi (2003), sách Nhân quả đồng thời lần này thu góp các bài học Phật luận cứu các vấn đề Tồn tại và Thời gian, Ngôn ngữ, Giáo nghĩa, và Giải hành liên quan đến nguyên lý Duyên khởi mà Bồ tát Long Thọ nêu lên trong bài tụng tán khởi của Trung luận, bản tiếng Phạn. Các vấn đề này được tiếp cận từ hai phía, bản thể luận và triết học ngôn ngữ, và được trình bày trong ba Phần: (1) Vô thường, Duyên khởi, và Không tánh, (2) Phân biệt, Ngôn ngữ, và Tu chứng, (3) Tín, Giải, Hành, Chứng trong Hoa nghiêm. Toàn bộ bản văn quyển sách để in PDF (7,1 MB)
27/07/2011(Xem: 18341)
Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn của Đại Sư Thật Hiền, Thật Hiền tôi là kẻ phàm phu Tăng bất tiếu ngu hèn, khóc ra lệ máu cúi đầu kính lạy, đau buồn khẩn thiết thưa với chư đại chúng hiện tiền, cùng với chư thiện nam tín nữ có đức tin trong sạch trong hiện đời. Cúi mong quý vị thương xót, lưu ý một chút mà nghe và xét cho.
27/07/2011(Xem: 14962)
Hỏi: Tại sao đạo Phật lại đề xướng ăn chay? Đáp:Người ăn chay thì dục niệm nhẹ. Kẻ ăn mặn thì dục niệm nặng nề. Có tôn giáo cho rằng động vật được sanh ra là để cho loài người ăn, cho nên ăn mặn là một việc hợp lý trời đất. Song le, Phật Giáo đề xướng tinh thần "mọi vật đều cùng một thể, đó gọi là Đại Bi," và xem mọi loài chúng sanh đều có Phật-tánh, đều sẽ thành Phật; cho nên chủ trương giới sát, phóng sanh.
27/07/2011(Xem: 18337)
Mỗi người đều có nhân quả báo ứng của riêng mình. Hễ tạo nghiệp gì thì chịu quả báo đó. Không những chỉ có loài người là phải chịu quả báo mà tất cả chúng sanh cũng vậy; tạo nghiệp từ xưa, ngày nay gặt quả. Điều đó không dễ hiểu đâu. Ví như bị đọa làm súc sinh hoặc ở nơi ác đạo thì rất khó khôi phục lại thân người; nên nói rằng:
26/07/2011(Xem: 14768)
Quyển “MỚI VÀO CỔNG CHÙA” ra đời trước, chúng tôi hướng dẫn độc giả vừa mới làm quen với mùi tương dưa, còn ngỡ ngàng khi bước chân vào cổng chùa. Đến quyển “VÀO CỔNG CHÙA”, chúng tôi nhắm đến những độc giả đã quen thuộc với những chiếc mái vốn cong, từng nghe tiếng mộc ngư nhịp đều buổi tối và tiếng chày kình ngân nga buổi khuya. Tuy nhiên vẫn còn là khách thấy nghe thân cận nhà chùa, chưa phải là người sống trong chùa.
24/07/2011(Xem: 16708)
Ngày nay, việc tổ chức đám cưới tại chùa có lẽ không mấy ai còn cho là lạ, nhưng đây là điều đã được mong muốn từ nửa thế kỷ trước, mà Ni trưởng trụ trì chùa Phước Hải hiện nay – ngày đó là sư cô Tịnh Nguyện, là một trong những vị tu sĩ mở đầu cho truyền thống tốt đẹp này. Một số người vẫn hình dung nhà thờ là nơi để tổ chức đám cưới với tiếng đàn Organ sang trọng, âm vang dưới mái vòm trang nghiêm phủ xuống cô dâu chú rể. Còn nhà chùa chỉ là nơi tổ chức đám tang, với những “vãng sanh đường” leo lét ánh nến, nhang khói mờ mờ, âm âm tiếng mõ trầm buồn.
22/07/2011(Xem: 14181)
Bạn bè là sự thể hiện sinh động cho mối quan hệ đặc thù giữa người với người. Mối quan hệ đó được thiết lập căn bản trên sự đồng đẳng hoặc bất đồng đẳng về giới tính, tuổi tác, chí nguyện, đam mê, sở thích,… là tiêu chí quan trọng để khẳng định nhân cách hoặc quan điểm sống của một con người. Với Phật giáo, sống là sống với. Do đó, bạn bè là một thuộc tính riêng có của các loài chúng sanh nói chung và của con người nói riêng, và là một trong những nhân tố quan trọng, có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực lên bối cảnh sống cũng như khả năng thăng hoa tâm linh của một con người. Sống phải có bạn bè. Không có bạn bè, được xem là một trong năm điều bất hạnh đã được Đức Phật cảnh báo(1).
22/07/2011(Xem: 10616)
Bên cạnh sự ảnh hưởng trực tiếp của gia đình, trong cuộc sống chúng ta, mối tương giao với bạn bè cũng đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của mình. Trong mối quen biết ngoài xã hội, hay trong đoàn thể cùng sống chung, ta có nhiều loại bạn hữu; nhưng tìm được người bạn tốt, chân thật hiểu được ta, để có thể chia sẻ tâm tư là điều khó, huống chi là hỗ trợ ta vượt qua những khó khăn trong đời sống thì càng khó gấp bội phần.