Cánh lan rừng

21/01/201201:56(Xem: 11037)
Cánh lan rừng

201181591741934887509
Vào một ngày đầu năm, tiết trời ấm áp, vạn vật như đồng loạt hân hoan chào đón ánh xuân. Quốc vương đưa hoàng gia và các quan văn võ cận thần đến một tu viên nổi danh trong thành viếng cảnh, lễ Phật và cầu quốc thái dân an. Tu viện này có cả trăm Tăng chúng tu tập. Hôm ấy công chúa Thanh Thiên, ái nữ duy nhất của quốc vương và hoàng hậu, tình cờ bắt gặp ánh mắt của Chân Tánh, một Tăng sinh thông minh, tướng hảo, đa tài, mỉm cười rồi quay đi. Nhưng lạ thay, Chân Tánh từ đó cứ thấy mình hình như thiếu vắng một cái gì, học hành tu tập không được thoải mái và tự tin như trước.

Vu Lan năm đó, quốc vương cũng đưa hoàng gia đến chùa lễ Phật và cúng dường trai tăng. Lần này Chân Tánh tìm cách gặp mặt Thanh Thiên, cả hai bẽn lẽn, chào hỏi và bắt chuyện vu vơ rồi tạm biệt. Và từ đó, Thanh Thiên cũng cảm thấy hình như mình đã đánh mất một cái gì, tâm trí hay quên và tánh tình cũng giảm đi phần hồn nhiên tươi mát.

Mùa xuân năm sau, như thường lệ, quốc vương lại dẫn phái đoàn hoàng triều đến tu viện lễ Phật và cầu phúc minh niên. Thanh Thiên và Chân Tánh lần này gặp nhau, dắt nhau ra hồ sen dạo mát và trò chuyện khá lâu. Và từ đó, hai bên hẹn hò, rủ nhau đi chơi mỗi tháng hai lần vào những ngày quy định. Một hôm, đang cùng nhau thả bước bên triền núi, Thanh Thiên bỗng thấy một cành lan rừng rất đẹp, đong đưa trên mỏm đá cheo leo, bèn vỗ tay reo lên: “Ôi… cành hoa đẹp quá!...” Chân Tánh ngước mắt nhìn và nhảy vọt lên ghềnh đá, ra sức bám trèo, rướn lên tuột xuống, tay chân xây xát, chảy máu, nhất là chiếc áo Nhật bình, đứt nút và banh ra trước ngực. Phải vận sức bình sinh năm lần bảy lượt Chân Tánh mới hái được đóa hoa. Nhưng khi hái rồi, làm sao xuống đây! Sơ ý một chút là tán thân thất mạng. Sư bám người trên vách đá giữa trời nắng chang chang như một loài bò sát đang rình mồi. Phần mệt mỏi sợ sệt, phần tìm cách đối phó với tình huống hiểm nghèo, sư cứ bám trụ như thế mà không dám quay mặt nhìn lui. Còn Thanh Thiên thì đứng ngồi không yên, chắp tay, nhắm mắt, bụm miệng, rùng mình, tay chân co giật run rẩy như người mắc bệnh kinh phong. Và, đúng là trong cái khó ló cái khôn, sự ngậm cành hoa bên mép phải để cho những cánh hoa khỏi va vào đá mà dập nát hay rơi rụng, rồi hai tay hai chân tì chặt vào vách đá, nhích từng chút một, và cuối cùng, nhờ ơn trời đất, sư cũng mang được cành hoa tươi thắm đó xuống tặng nàng. Thấy tay chân sư máu me từng vệt, quần áo trầy rách, Thanh Thiên ôm choàng lấy sư, gục đầu vào vai khóc rưng rức. Đoạn Thanh Thiên rút khăn ra lau sạch hai bàn tay sư, nhìn chăm chăm một lát rồi le lưỡi liếm qua những vết trầy sướt còn tươm máu. Cảm động quá, Chân Tánh cũng ôm choàng lấy nàng, vuốt xuôi mái tóc và vỗ về an ủi trong im lặng.

Hai tháng trôi qua, một hôm trên đường dạo mát, Thanh Thiên nắm tay Chân Tánh nói:

- Phải đi thôi anh à!

- Tại sao phải đi!... Và đi đâu?... Chân Tánh ngạc nhiên hỏi.

- Đi đâu cũng được, miễn sao đừng cho ai biết tông tích của chúng mình!

- Em nói gì anh không hiểu!...

- Anh không hiểu thật sao?

- Mô Phật, anh chẳng hiểu gì cả!

- Em đã có thai!...

- Trời đất!... Chết…chết…chết!...

- Chết cái gì?... Đã đốn thì phải vác!... Em không chết thì thôi chứ anh chết cái gì?... Thanh Thiên nắm chặt hai tay Chân Tánh, nhìn thẳng vào mắt và quả quyết nói.

- Nhưng mà... anh còn sư phụ và huynh đệ pháp hữu của anh nữa! Trời ơi!... Anh không thể sống xa đại chúng!... Anh không thể tách rời mái ấm thiền môn. Tất cả đã là một phần máu thịt của anh, em hiểu chưa?...

- Em bé trong bụng này không phải là một phần máu thịt của anh? Thanh Thiên gõ gõ tay vào bụng mình và nghiêm giọng nói.

- Nhưng mà… biết đi đâu bây giờ!... Trời ơi, chết tôi rồi!...

- Chiều nay lên đường rồi sẽ biết đi đâu. Anh chuẩn bị hành trang. Em sẽ chờ anh trước cổng chùa vào lúc chạng vạng.

Thanh Thiên lấy hết vàng bạc châu báu của riêng mình và một số y phục cần thiết, tất cả gói trong một chiếc khăn vuông khá lớn, khoác lên vai rồi trực chỉ đến điểm hẹn, nắm tay Chân Tánh hối hả dắt đi như dân tản cư trong cơn đại loạn. Cả hai men theo bìa rừng đi suốt đêm, đến lúc tảng sáng thì vào hẳn trong rừng, tiếp tục cuốc hành trình định mệnh.

Quốc vương và hoàng hậu cứ tưởng con mình đến chùa lễ Phật, nghe Pháp. Tới khuya không thấy con về, cả hoàng triều náo động, quốc vương truyền lệnh cho đám vệ binh tức tốc lên đường đi tìm công chúa. Cũng may là họ chỉ phi ngựa tìm kiếm trong thành nên Thanh Thiên và Chân Tánh đi được khá xa. Trải qua mấy ngày trèo đèo vượt suối, mệt mỏi đói khát, bụng chửa dạ mang, Thanh Thiên kiệt sức, không đi được nữa. Nàng ngồi bệt xuống thảm cỏ bên triền núi, đưa mắt thẫn thờ nhìn người yêu, nói:

- Em hết đi được nữa rồi!

- Cố lên em ơi!... Chỗ này chưa phải là nơi an trụ của chúng mình.

Để khỏi luộm thuộm, dễ bề dìu dắt bồng bế người yêu, Chân Tánh cởi chiếc áo Nhật bình ướt sũng trên người định vất đi, nhưng lạ thay, ba lần vung tay, ba lần chiếc áo vẫn còn đó, không thể nào buông xả nó. Thanh Thiên thấy vậy nói:

- Đến giờ phút này mà anh còn tiếc nuối nỗi gì!

- Không được em ơi!... Chiếc áo này là mạng mạch của đời anh!

- Mạng mạch của anh như vậy, còn mạng mạch của vợ con anh thì sao?...

Chân Tánh lặng người, hai tay cầm chiếc áo, nhắm mắt xoay người một vòng để vất nó cho xa, khỏi thấy nó rơi nơi nào, nhưng khi mở mắt thì chiếc áo vẫn còn dính chặt trong tay. Bất giác, nước mắt chảy dài, Chân Thánh nâng chiếc áo lên ngang mặt một lát rồi máng nó trên một cành cây và chắp tay xá ba xá.

Thấy Thanh Thiên kiệt sức, Chân Tánh khích lệ đôi lời rồi đưa lưng cõng nàng lên đường tiếp tục.

Một ngày sau, Chân Tánh đi đến một cánh rừng có cây xanh bóng cả, khí hậu mát mẻ, đặc biệt là bên dưới có một dòng suối hiền hòa, nước chảy quanh năm; sư quyết định dừng chân và lập nghiệp tại đó.

Tuy bao năm kinh kệ sách đèn, ít vận dụng công sức, nhưng gặp thời thế thế thời phải thế. Sư ra tay dựng lên một túp lều nho nhỏ, đủ cho hai người trú nắng che mưa. Ngày ngày sư khai khẩn đất hoang, trồng đủ các loại cây hoa màu, nàng ở nhà chăm lo công việc nội trợ. Cuộc sống tuy cô quạnh thiếu thốn nhưng đầy ắp tình yêu thương hạnh phúc.

Sau sáu năm nỗ lực xây dựng một thế giới riêng tư biệt lập, Chân Tánh và Thanh Thiên đã gầy dựng được một gia sản tượng đối ổn định, có ruộng vườn nương rẫy, gia súc đầy chuồng, nhất là hai đứa con, một trai một gái bụ bẫm, trông rất dễ thương.

Tưởng đâu đất lành chim đậu, nào ngờ sóng gió nổi lên. Một buổi trưa nọ, nhân lúc thăm đồng, Chân Tánh nhác thấy một em gái chăn dê, khoảng mười lăm mười sáu tuổi, ngồi dưới một tàng cây. Thế là vô minh thức dậy, dục vọng xông lên, Chân Tánh đuổi bắt em gái để thỏa mãn dục tình. Con nhỏ chạy bạt mạng, và rủi thay, nó vấp chân té ngã, xóc cây lủng bụng và chết ngay tại chỗ.

Để che giấu tội lỗi và tránh né ngục tù, Chân Tánh bán hết tài sản, đưa vợ con đến một nơi xa lạ khác để dựng lại cơ đồ. Và sau bốn năm cật lực phấn đấu, Chân Tánh cũng thiết lập được một trang trại vững vàng và có thêm một bé trai. Trong thâm tâm của Chân Tánh và Thanh Thiên, gia nghiệp như thế có thể gọi là lý tưởng, viên mãn. Tiếc thay, trời còn có gió mưa bất định, người tránh sao họa phúc hôm mai. Một trận lũ lụt kinh hoàng diễn ra mấy ngày, nước trên nguồn chảy xuống đồng bằng như thác, dâng ngập cả trang trại của Chân Tánh. Cả nhà chạy lũ, Chân Tánh lưng cõng đứa con út, hai tay dắt hai đứa con lớn, Thanh Thiên nắm chéo áo chồng, tất cả gồng mình cố vượt qua dòng nước lũ. Bất hạnh thay, nước mỗi lúc một dâng cao và chảy xiết, đứa con út tuột khỏi lưng cha, cuốn theo dòng nước phăng phăng. Chân Tánh hoảng hốt lao tới cứu con, hai bé kia mất đà, té nhào; Thanh Thiên thất kinh lao tới, Chân Tánh cũng lao theo để cứu vợ con; nhưng khốn thay, tất cả đều nhấp nhô cuồn cuộn theo dòng nước bạc.

Mơ màng ngơ ngác, thất lạc bơ vơ, Chân Tánh rùng mình mở mắt, và thấy mình đang tĩnh tọa giữa thiền thất, trước kim tượng Đức Thế Tôn. Sư lặng người một lát, rồi từ từ đứng lên, đảnh lễ Bổn Sư và đưa tay lau hai khóe mắt.

Tịnh Minh
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/07/2015(Xem: 29817)
Trong sinh hoạt thường nhật ở Chùa ai ai cũng từng nghe qua câu “Ăn cơm Hương Tích, uống trà Tào Khê, ngồi thuyền Bát Nhã, ngắm trăng Lăng Già “, do đó mà nhiều người thắc mắc “Thuyền Bát Nhã” là loại thuyền như thế nào? Bài viết này sẽ giải đáp đôi điều về nghi vấn ấy. Nói theo Thập Nhị Bộ Kinh, Thuyền Bát Nhã là pháp dụ, tức lấy thí dụ trong thực tế đời thường để hiển bày pháp bí yếu của Phật. Thuyền là chỉ cho các loại thuyền, bè, ghe đi lại trên sông, trên biển. Còn Bát Nhã là trí tuệ, một loại trí tuệ thấu triệt cùng tận chân tướng của vạn pháp trên thế gian là không thật có, là huyền ảo không có thực thể, mà nói theo Đại Trí Độ Luận thì mọi thứ trên thế gian này như bóng trong gương, như trăng dưới nước, như mộng, như sóng nắng… để từ đó hành giả đi đến sự giác ngộ giải thoát vì giác ngộ được chân lý “Nhất thiết pháp vô ngã”. Do vậy, Thuyền Bát Nhã chính là con thuyền trí tuệ có thể chuyên chở chúng sanh vượt qua biển khổ sanh tử để đến bến bờ Niết bàn giải thoát an vui.
01/07/2015(Xem: 32688)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 15531)
Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
29/06/2015(Xem: 28002)
Như truyền thông đại chúng đã loan tải vào ngày 24 tháng 4/ 2015 một trận động đất xảy ra tại đất nước Nepal đã làm thiệt mạng gần 9.000 nạn nhân, và làm sập hư trên 100.000 ngôi nhà, trong hiện tại có trên 200.000 người không nhà cửa, và hàng ngàn trẻ em mồ côi cha mẹ. Nhìn thấy cảnh đời bể dâu tang thương đổ nát của người dân Nepal, Hòa Thượng Hội Chủ Thích Như Huệ đã ra thông tư, cũng như tâm thư kêu gọi lòng từ tâm của người con Phật. Sau gần 2 tháng kêu gọi, với tấm lòng tùy tâm của đồng hương Phật tử xa gần trong và ngoài nước Úc, cũng như 37 tự viện thành viên của Giáo Hội đã đem đến kết quả với số tiền cứu trợ là $ 304.900. Úc Kim. Phái Đoàn Cứu Trợ Nepal thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan đã lên đường vào tối ngày 8.6.2015 tại sân bay Melbourne.
29/06/2015(Xem: 10336)
Thời tiết mùa hè năm nay bất thường. Đã có những ngày quá oi bức, và cũng có những ngày lù mù, không mưa không nắng, gió se lạnh. Khí hậu đôi khi cũng tác động vào lòng người, khiến họ dễ bẳn gắt, khó chịu. Những người đã nuôi dưỡng từ lâu sự kỳ thị, thành kiến, hay tỵ hiềm nào đó, có thể bị thời tiết nóng bức châm ngòi cho sân hận và sự bạo động. Đã có những cuộc khủng bố đơn phương hoặc nhân danh tổ chức (thế tục hay tôn giáo) diễn ra khắp hành tinh trong những tháng năm qua.
27/06/2015(Xem: 16672)
Qua 4000 năm Văn Hiến của dân tộc thì trên 2000 năm, Phật giáo có mặt, đồng hành cùng dân tộc. Tính từ thời lập quốc họ Hồng Bàng – Kinh Dương Vương tên nước là Xích Quỷ (năm 2879 trước c.n) đến thời nhà Lý vào năm 1010-1225 đã là 4000 năm, đến nay cũng gần 5.000 năm. Từ thời lập quốc ở Trường Giang, bị Hoa tộc lấn dần cho đến Hùng Vương qua 18 đời, đất nước Văn Lang chỉ còn lại Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay.Quê hương vốn ở Hồ Động Đình, do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh 100 con lập quốc. Kinh Dương Vương là con của Đế Minh và Vụ Tiên, là cháu ba đời của Thần Nông, mà Thần Nông là một trong Tam Hoàng thời thượng cổ.Như thế, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương là họ Hồng Bàng, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền cho Hùng Vương, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Từ thời kinh Dương Vương lập quốc đến nay, dân tộc trãi qua 11 lần thay danh đổi hiệu:
24/06/2015(Xem: 41184)
Lời vàng của Thầy tôi, một Hướng dẫn vào các sự Chuẩn bị cho Tâm-yếu của Phạm Vi Bao La từ Đại Viên Mãn, trình bày các con đường của bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chúng.
23/06/2015(Xem: 17654)
Câu hỏi: Lý do tại sao Trịnh Hội lại đi học tu? Có phải bị mất phương hướng cuộc đời hay chán cuộc đời nhiều phiền toái?(Than Nguyen ) Trả lời: Xin chào anh Than Nguyen. Có hai lý do chính thưa anh. Thứ nhất vì cách đây 3 năm mình có lời cầu nguyện với chư Phật là nếu cho mình cơ hội làm xong công việc giúp những thuyên nhân Việt Nam cuối cùng tại Thái Lan, mình sẽ xuống tóc để cảm ơn. Thứ hai là, một công hai việc, mình muốn và cần một thời gian tĩnh lặng để xem mình thật sự muốn làm gì trong suốt quãng đời còn lại.
23/06/2015(Xem: 16261)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa
21/06/2015(Xem: 13902)
Văn phòng Chính phủ Tây Tạng lưu vong, Dharamsala đưa tin – Hội nghị Tôn giáo lần thứ 12 của bốn truyền thống Phật giáo Tây Tạng đã diễn ra vào các ngày 18-20/06/2015 tại Dharamsala miền bắc của bang Himachal Pradesh, Tây Bắc của Ấn Độ.