Giây phút định mệnh

24/07/201502:05(Xem: 10572)
Giây phút định mệnh
Xuat gia gieo duyen

GIÂY PHÚT ĐỊNH MỆNH 
Thiện Ý



Chúng ta mỗi ngày quyết định không biết bao nhiêu việc và phần nhiều là những chuyện không quan trọng. Nhưng có đôi lúc, một quyết định nhỏ có thể ảnh hưởng không chỉ chính mình, mà còn lan rộng đến mọi người chung quanh, như gia đình, bà con, dòng họ, bạn bè, và đôi khi, cả những thế hệ về sau. 
Đối với chúng ta khi ấy, quyết định đó chỉ là chuyện nhỏ, tầm thường. Nhưng nó thật ra là một quyết định có tính định mệnh trong giây phút đó.  
 
Cho nên khi mình đối diện với những chuyện sanh phiền não, bực giận, oán thù mình phải cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định làm một chuyện gì.  Trong lúc mình đang nông nỗi, mình thích làm một chuyện gì đó để giải tỏa sự căng thẳng, bực tức trong tâm mình, và đây là chuyện dễ làm vì mình có thể làm được ngay.  Nhưng mình phải tự nhắc rằng đây là giây phút quyết định quan trọng.  Nó có thể gây ra những việc nghiêm trọng cho mình và cho người khác.  Mình phải chấp nhận khó khăn, kỷ luật bản thân để không làm điều có hại về sau. 

Sự đau đớn, khó chịu trong lúc mình phải khép mình theo giới luật Phật dạy ít đau đớn hơn cái đau khổ khi mình hối hận về điều mình đã làm trong phút giây định mệnh đó!  Mình cảm thấy mãn nguyện với quyết định về cách hành xữ để thỏa mãn lòng giận hờn, ghen tức của mình và nó có thể mang đến sự khoái trá, hả hê tạm bợ khi đó.  Nhưng kết quả của hành động nông nổi đó sẽ có thể đem đến khổ đau lâu dài về sau. 
 
Trong tâm mình khi ấy sẽ nói rằng:  ‘Chuyện này là chuyện nhỏ, không hệ trọng gì cả.  Nhưng, nếu mình không làm vậy, họ sẽ khinh thường mình!’ Mình đừng nghe những lời dụ dỗ dối trá đó.  Nó sẽ khiến anh làm bậy, xâm phạm những nguyên tắc căn bản đạo đức mà mình lâu nay trân quý, giữ gìn, và sẽ hối tiếc lâu dài về sau.

Câu chuyện về một đứa con chuẩn bị ra trường và trong nhiều tháng anh ta ngắm nghía một chiếc xe thể thao trong phòng trưng bày của một đại lý bán xe ô tô.  Biết rằng cha mình có thể mua nổi chiếc xe đó, nên anh đã ám chỉ cho cha anh ta biết về món quà ra trường mà anh thích nhất.  Ngày ra trường, anh mong chờ một dấu hiệu cho thấy cha mình đã mua chiếc xe đó rồi.  
 
Cuối cùng, sáng hôm đó cha anh gọi anh vào phòng riêng và nói rằng, ông rất hảnh diện vì anh và đưa tặng anh một món quà gói trong một chiếc hộp thật đẹp. Háo hức, nhưng hơi thất vọng anh mở món quà ra, và trong đó anh thấy một quyển kinh thánh bọc bằng da thật đẹp.  Tức giận vô cùng vì không thấy món quà mình yêu thích, anh bật la lớn, “Cha giàu như vậy mà chỉ cho con cái thứ này thôi ư?” Và anh giận dữ bỏ chạy ra khỏi nhà, bỏ lại quyển kinh thánh trên bàn.

Sau nhiều năm từ cha, đi biệt vì giận cha mình đã không mua chiếc xe mới như đã hứa.  Một hôm, anh nhận được tin cha anh vừa mới qua đời, và mọi người mong anh về kế thừa sự nghiệp.  Khi anh về đến nhà, nhìn lại cảnh xưa thì một nỗi buồn man mác xâm chiềm hồn anh. Lục lọi trong phòng của cha, anh thấy quyển kinh thánh xưa vẫn còn đó.  Nước mắt tuôn rơi, anh lần giở những trang kinh, và bất ngờ, thấy một phong thư giấu bên trong.  Khi mở ra, anh thấy một cặp chìa khóa xe và một hoá đơn còn mới toanh với dòng chử in đậm “ĐÃ TRẢ XONG HẾT”, của tiệm bán chiếc ô tô anh khao khát khi ra trường. 

Đọc câu chuyện trên, chúng ta mới thấy rằng, đã bao nhiêu lần mình đã hành xử hấp tấp, nóng vội vì những cảm xúc mạnh khi đó.  Và đã bao nhiêu lần mình đã hối hận vì những quyết định nông nổi, sai lầm trên trong suốt cuộc đời mình.   Khi bắt đầu một ngày, mình nên cầu nguyện chư Phật, chư Bồ tát gia hộ cho mình giữ vững tâm bồ đề, tỉnh giác, chánh niệm, không quyết định làm những chuyện sai trái với lương tâm.  
 
Nhớ rằng, mọi chuyện đều bắt đầu bằng một ý nghĩ trong tâm.  Đây chính là trận địa, nơi quyết định sự chiến thắng hay thất bại của mình.  Phật dạy: “ Tránh xa những ý tưởng bất thiện” (chư ác mạc tác) vì nếu mình để cho chúng mọc rễ, và phát triển trong tâm, sớm muộn gì mình cũng sẽ làm theo chúng.

Như trong sách Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ đề cương của Pháp sư Thích Từ Thông: “ Khi Ngài A Nan đi khất thực ngang nhà Ma Đăng Già là một gái làng chơi. Nàng ta bèn dùng tà chú Tiên Phạm Thiên của đạo Saticala bắt ông vào phòng riêng dụng ý lẳng lơ, diễn trò má dựa vai kề, nâng niu âu yếm, làm cho ông A Nan gần mất giới thể ..”  
 
Thực tình mà nói, rất có thể là Ngài A Nan gần trong gang tấc, suýt mất giới thể vì bị sự cám dỗ dục lạc quá mạnh.  Nhưng trong giây phút định mệnh đó,  Ngài nhớ đến đức Phật, và nhờ vậy mà Ngài vượt thoát được sự cám dổ kinh khiếp của Nàng Ma Đăng Già.  Nếu Ngài A Nan phá giới, thì hôm nay chúng ta có thể đã không có đủ tam tạng kinh điển để mà nghiên cứu, tu học, và cũng có thể là không có cả hàng ngũ Ni giới như ngày hôm nay.  Nên nhớ rằng, muốn sống đời an lạc, chân thật mình phải vượt qua được những thử thách.

Rất là dễ dàng cho ta trong đời quyết định một chuyện gì đó căn cứ theo tình cảm, hay cảm xúc của mình lúc đó và nhượng bộ, cũng như chìu theo ý thích của mình.  Nhưng nếu mình muốn đạt được đỉnh cao trong cuộc đời thì mình phải thành công vượt qua những thách đố và học cách tránh rơi vào những cái bẩy của sự cám dỗ dục lạc, và những quyết định sai lầm mà sẽ khiến mình hối hận suốt đời và đánh mất giá trị con người mình.  
 
Cám dỗ luôn có mặt khắp nơi và đủ loại – nào là cám dỗ dụ mình bỏ cuộc, dụ mình nhụt chí, dụ mình đổi đen thành trắng, dụ mình làm bậy để xóa những sai lầm do chính mình tạo ra.  Để cưỡng lại những cám dỗ trên, không phải là điều dễ dàng.  Cho nên hành trì, tu niệm thường xuyên sẽ giúp mình vượt qua những cám dỗ của tâm thức, hoặc theo thói quen đã chứa sẵn trong tâm thức. Nên Tổ Huệ Năng có dạy: “Nếu nói về Phật tánh thì không có gì khác biệt giữa một kẻ ngu và một ông thánh. Một niệm giác ngộ thì người đó sẽ thành Phật. Một niệm si mê thì người kia sẽ thành một kẻ ngu.”

Sở dĩ, Phật dạy mình phải luôn tỉnh giác, chánh niệm là để giúp mình tránh được những giây phút quyết định sai lầm, mà theo tập khí quen thuộc, có thể dễ dàng thực hiện.  Như ông bà mình thường dạy:  Một khi mà ly nước đầy đã hất đổ xuống đất thì khó mà hốt lại được nữa! Cho nên, để tránh được những sai lầm này chúng ta phải luôn tỉnh giác, đặc biệt là trong những lúc mình đang xúc động dâng trào.  
 
Con người, ai cũng có tình cảm nhưng nếu chỉ dựa vào những cảm thọ để hành xử thì chúng ta sẽ làm nhiều điều sai quấy và sẽ hối hận không nguôi. Nên một trong bốn căn bản của thiền quán (quán thân, quán thọ, quán tâm, và quán pháp) mà Phật đã dạy, là quán sát cảm thọ của mình.  Trong Kinh Trung Bộ số 10, có bài kệ dạy quán cảm thọ như sau:

Kế đến, quán cảm thọ
Là cảm giác thân, tâm
Gồm ba loại: Khổ, vui,
Và không vui không khổ.
Tuệ tri từng cảm thọ
Là nghe ngóng theo dõi
Sinh, trú diệt của nó
Chính niệm, gột tham ưu. 
(Ni sư Trí Hải dịch)   

Nhờ có chính niệm chúng ta tránh được những cảm thọ vui, khổ (tham ưu) khiến dẫn mình đến những quyết định sai trái.  Cho nên, tuệ tri hay thấy biết từng cảm thọ sẽ mang ta đến đạo lộ an lạc, giải thoát vì những quyết định sáng suốt, dù đôi lúc, mình phải cắn răng kham nhẫn để vượt qua những cám dỗ để thỏa mãn lòng mình trong nhất thời!  

Những cảm xúc thường ngày như sự cô đơn, lo sợ, buồn chán, hay hoảng sợ sẽ dễ khiến mình hành động nông nỗi.  Tuệ tri hay thấy biết những cảm thọ của mình, không phải là một cách sống che đậy, giấu kín, hay đè nén, mà là nhận biết, cảm thông, và tiếp cận với những xúc cảm mình đang trải nghiệm. 
 
Hầu hiểu rõ con người thật của mình và những thói quen hành xử dựa vào những cảm xúc trên. Những người thành danh trong đời đều phải trải qua những thử thách này.  Và chỉ khi nào họ vượt qua được những cám dỗ, những dằn vặt, khổ đau, và quyết định không nhượng bộ những sự cám dỗ đó để làm những điều trái với lương tâm nhằm thỏa mãn bản ngã của mình, thì họ mới thực sự là kẻ chiến thắng.     


Thiện Ý
 
(tháng 7, 2015)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 20017)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17269)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14772)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16253)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12241)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11117)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11688)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7630)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8693)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8030)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.