Giây phút định mệnh

24/07/201502:05(Xem: 10625)
Giây phút định mệnh
Xuat gia gieo duyen

GIÂY PHÚT ĐỊNH MỆNH 
Thiện Ý



Chúng ta mỗi ngày quyết định không biết bao nhiêu việc và phần nhiều là những chuyện không quan trọng. Nhưng có đôi lúc, một quyết định nhỏ có thể ảnh hưởng không chỉ chính mình, mà còn lan rộng đến mọi người chung quanh, như gia đình, bà con, dòng họ, bạn bè, và đôi khi, cả những thế hệ về sau. 
Đối với chúng ta khi ấy, quyết định đó chỉ là chuyện nhỏ, tầm thường. Nhưng nó thật ra là một quyết định có tính định mệnh trong giây phút đó.  
 
Cho nên khi mình đối diện với những chuyện sanh phiền não, bực giận, oán thù mình phải cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định làm một chuyện gì.  Trong lúc mình đang nông nỗi, mình thích làm một chuyện gì đó để giải tỏa sự căng thẳng, bực tức trong tâm mình, và đây là chuyện dễ làm vì mình có thể làm được ngay.  Nhưng mình phải tự nhắc rằng đây là giây phút quyết định quan trọng.  Nó có thể gây ra những việc nghiêm trọng cho mình và cho người khác.  Mình phải chấp nhận khó khăn, kỷ luật bản thân để không làm điều có hại về sau. 

Sự đau đớn, khó chịu trong lúc mình phải khép mình theo giới luật Phật dạy ít đau đớn hơn cái đau khổ khi mình hối hận về điều mình đã làm trong phút giây định mệnh đó!  Mình cảm thấy mãn nguyện với quyết định về cách hành xữ để thỏa mãn lòng giận hờn, ghen tức của mình và nó có thể mang đến sự khoái trá, hả hê tạm bợ khi đó.  Nhưng kết quả của hành động nông nổi đó sẽ có thể đem đến khổ đau lâu dài về sau. 
 
Trong tâm mình khi ấy sẽ nói rằng:  ‘Chuyện này là chuyện nhỏ, không hệ trọng gì cả.  Nhưng, nếu mình không làm vậy, họ sẽ khinh thường mình!’ Mình đừng nghe những lời dụ dỗ dối trá đó.  Nó sẽ khiến anh làm bậy, xâm phạm những nguyên tắc căn bản đạo đức mà mình lâu nay trân quý, giữ gìn, và sẽ hối tiếc lâu dài về sau.

Câu chuyện về một đứa con chuẩn bị ra trường và trong nhiều tháng anh ta ngắm nghía một chiếc xe thể thao trong phòng trưng bày của một đại lý bán xe ô tô.  Biết rằng cha mình có thể mua nổi chiếc xe đó, nên anh đã ám chỉ cho cha anh ta biết về món quà ra trường mà anh thích nhất.  Ngày ra trường, anh mong chờ một dấu hiệu cho thấy cha mình đã mua chiếc xe đó rồi.  
 
Cuối cùng, sáng hôm đó cha anh gọi anh vào phòng riêng và nói rằng, ông rất hảnh diện vì anh và đưa tặng anh một món quà gói trong một chiếc hộp thật đẹp. Háo hức, nhưng hơi thất vọng anh mở món quà ra, và trong đó anh thấy một quyển kinh thánh bọc bằng da thật đẹp.  Tức giận vô cùng vì không thấy món quà mình yêu thích, anh bật la lớn, “Cha giàu như vậy mà chỉ cho con cái thứ này thôi ư?” Và anh giận dữ bỏ chạy ra khỏi nhà, bỏ lại quyển kinh thánh trên bàn.

Sau nhiều năm từ cha, đi biệt vì giận cha mình đã không mua chiếc xe mới như đã hứa.  Một hôm, anh nhận được tin cha anh vừa mới qua đời, và mọi người mong anh về kế thừa sự nghiệp.  Khi anh về đến nhà, nhìn lại cảnh xưa thì một nỗi buồn man mác xâm chiềm hồn anh. Lục lọi trong phòng của cha, anh thấy quyển kinh thánh xưa vẫn còn đó.  Nước mắt tuôn rơi, anh lần giở những trang kinh, và bất ngờ, thấy một phong thư giấu bên trong.  Khi mở ra, anh thấy một cặp chìa khóa xe và một hoá đơn còn mới toanh với dòng chử in đậm “ĐÃ TRẢ XONG HẾT”, của tiệm bán chiếc ô tô anh khao khát khi ra trường. 

Đọc câu chuyện trên, chúng ta mới thấy rằng, đã bao nhiêu lần mình đã hành xử hấp tấp, nóng vội vì những cảm xúc mạnh khi đó.  Và đã bao nhiêu lần mình đã hối hận vì những quyết định nông nổi, sai lầm trên trong suốt cuộc đời mình.   Khi bắt đầu một ngày, mình nên cầu nguyện chư Phật, chư Bồ tát gia hộ cho mình giữ vững tâm bồ đề, tỉnh giác, chánh niệm, không quyết định làm những chuyện sai trái với lương tâm.  
 
Nhớ rằng, mọi chuyện đều bắt đầu bằng một ý nghĩ trong tâm.  Đây chính là trận địa, nơi quyết định sự chiến thắng hay thất bại của mình.  Phật dạy: “ Tránh xa những ý tưởng bất thiện” (chư ác mạc tác) vì nếu mình để cho chúng mọc rễ, và phát triển trong tâm, sớm muộn gì mình cũng sẽ làm theo chúng.

Như trong sách Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ đề cương của Pháp sư Thích Từ Thông: “ Khi Ngài A Nan đi khất thực ngang nhà Ma Đăng Già là một gái làng chơi. Nàng ta bèn dùng tà chú Tiên Phạm Thiên của đạo Saticala bắt ông vào phòng riêng dụng ý lẳng lơ, diễn trò má dựa vai kề, nâng niu âu yếm, làm cho ông A Nan gần mất giới thể ..”  
 
Thực tình mà nói, rất có thể là Ngài A Nan gần trong gang tấc, suýt mất giới thể vì bị sự cám dỗ dục lạc quá mạnh.  Nhưng trong giây phút định mệnh đó,  Ngài nhớ đến đức Phật, và nhờ vậy mà Ngài vượt thoát được sự cám dổ kinh khiếp của Nàng Ma Đăng Già.  Nếu Ngài A Nan phá giới, thì hôm nay chúng ta có thể đã không có đủ tam tạng kinh điển để mà nghiên cứu, tu học, và cũng có thể là không có cả hàng ngũ Ni giới như ngày hôm nay.  Nên nhớ rằng, muốn sống đời an lạc, chân thật mình phải vượt qua được những thử thách.

Rất là dễ dàng cho ta trong đời quyết định một chuyện gì đó căn cứ theo tình cảm, hay cảm xúc của mình lúc đó và nhượng bộ, cũng như chìu theo ý thích của mình.  Nhưng nếu mình muốn đạt được đỉnh cao trong cuộc đời thì mình phải thành công vượt qua những thách đố và học cách tránh rơi vào những cái bẩy của sự cám dỗ dục lạc, và những quyết định sai lầm mà sẽ khiến mình hối hận suốt đời và đánh mất giá trị con người mình.  
 
Cám dỗ luôn có mặt khắp nơi và đủ loại – nào là cám dỗ dụ mình bỏ cuộc, dụ mình nhụt chí, dụ mình đổi đen thành trắng, dụ mình làm bậy để xóa những sai lầm do chính mình tạo ra.  Để cưỡng lại những cám dỗ trên, không phải là điều dễ dàng.  Cho nên hành trì, tu niệm thường xuyên sẽ giúp mình vượt qua những cám dỗ của tâm thức, hoặc theo thói quen đã chứa sẵn trong tâm thức. Nên Tổ Huệ Năng có dạy: “Nếu nói về Phật tánh thì không có gì khác biệt giữa một kẻ ngu và một ông thánh. Một niệm giác ngộ thì người đó sẽ thành Phật. Một niệm si mê thì người kia sẽ thành một kẻ ngu.”

Sở dĩ, Phật dạy mình phải luôn tỉnh giác, chánh niệm là để giúp mình tránh được những giây phút quyết định sai lầm, mà theo tập khí quen thuộc, có thể dễ dàng thực hiện.  Như ông bà mình thường dạy:  Một khi mà ly nước đầy đã hất đổ xuống đất thì khó mà hốt lại được nữa! Cho nên, để tránh được những sai lầm này chúng ta phải luôn tỉnh giác, đặc biệt là trong những lúc mình đang xúc động dâng trào.  
 
Con người, ai cũng có tình cảm nhưng nếu chỉ dựa vào những cảm thọ để hành xử thì chúng ta sẽ làm nhiều điều sai quấy và sẽ hối hận không nguôi. Nên một trong bốn căn bản của thiền quán (quán thân, quán thọ, quán tâm, và quán pháp) mà Phật đã dạy, là quán sát cảm thọ của mình.  Trong Kinh Trung Bộ số 10, có bài kệ dạy quán cảm thọ như sau:

Kế đến, quán cảm thọ
Là cảm giác thân, tâm
Gồm ba loại: Khổ, vui,
Và không vui không khổ.
Tuệ tri từng cảm thọ
Là nghe ngóng theo dõi
Sinh, trú diệt của nó
Chính niệm, gột tham ưu. 
(Ni sư Trí Hải dịch)   

Nhờ có chính niệm chúng ta tránh được những cảm thọ vui, khổ (tham ưu) khiến dẫn mình đến những quyết định sai trái.  Cho nên, tuệ tri hay thấy biết từng cảm thọ sẽ mang ta đến đạo lộ an lạc, giải thoát vì những quyết định sáng suốt, dù đôi lúc, mình phải cắn răng kham nhẫn để vượt qua những cám dỗ để thỏa mãn lòng mình trong nhất thời!  

Những cảm xúc thường ngày như sự cô đơn, lo sợ, buồn chán, hay hoảng sợ sẽ dễ khiến mình hành động nông nỗi.  Tuệ tri hay thấy biết những cảm thọ của mình, không phải là một cách sống che đậy, giấu kín, hay đè nén, mà là nhận biết, cảm thông, và tiếp cận với những xúc cảm mình đang trải nghiệm. 
 
Hầu hiểu rõ con người thật của mình và những thói quen hành xử dựa vào những cảm xúc trên. Những người thành danh trong đời đều phải trải qua những thử thách này.  Và chỉ khi nào họ vượt qua được những cám dỗ, những dằn vặt, khổ đau, và quyết định không nhượng bộ những sự cám dỗ đó để làm những điều trái với lương tâm nhằm thỏa mãn bản ngã của mình, thì họ mới thực sự là kẻ chiến thắng.     


Thiện Ý
 
(tháng 7, 2015)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/02/2021(Xem: 9587)
Tại các nước nông nghiệp hình ảnh con trâu với đứa trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo là một hình ảnh quen thuộc thường gắn liền với đời sống của người dân. Tại Việt Nam, từ lâu hình ảnh này đã đi vào tâm thức mọi người và không chỉ có giá trị trong đời sống lao động thực tiễn mà còn nghiễm nhiên đi vào lãnh vực văn học nghệ thuật nữa. Trong văn học Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng thời hình ảnh con trâu với trẻ mục đồng đã trở thành thi liệu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật. Những hình ảnh này hiển hiện trong truyền thống kinh điển cũng như được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của đức Phật khi Ngài còn tại thế.
01/02/2021(Xem: 19575)
Vào thời thái cổ, theo truyền thuyết Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngủ Lĩnh ( nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung quốc ). Vua Đế Minh đã dừng chân tại nơi nầy, ngài cưới Vu Tiên nữ con vua Động Đình Hồ làm vợ. Đế Minh sinh được một trai tư chất thông minh ngài đặt tên Lộc Tục. Vào năm 2879 trước tây lịch ( khoảng thế kỷ thứ 7 TCN ) Đế Minh phong cho con làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi xưng đế hiệu Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ ngài đóng đô tại Phong châu.
01/02/2021(Xem: 10414)
Kinh Phật đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, kinh Phật cuối cùng là kinh Đại Bát Niết Bàn. Chúng ta học hai kinh nầy để nắm trọn lịch trình của đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn thường gọi là Niết Bàn là kinh vừa kể lại lịch sử đức Phật trước khi nhập diệt vừa là kinh nói về lời giáo huấn cuối cùng của ngài. Vừa tâm lý tình cảm vừa là lời nhắn nhủ sau cùng của Phật cho đạo tràng như người cha trăn trối cho con tiếp tục theo đường đi của ngài. Đời thế gian của Đức Phật khi sinh ra vì bào thai to lớn quá phải giải phẩu bụng của mẹ ngài nên mất máu mà mất sớm, ngài sống qua sự nuôi dưỡng của người dì em của mẹ.
01/02/2021(Xem: 17032)
Phần này bàn về các danh từ gọi dụng cụ gắp cơm và đưa vào miệng (ăn cơm) như đũa hay trợ, khoái, giáp cùng các dạng âm cổ của chúng. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), TQ (Trung Quốc), ĐNA (Đông Nam Á), HT (hài thanh), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), VBL (tự điển Việt Bồ La/1651) ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị/1895).
29/01/2021(Xem: 10598)
Ở đời không phải ai cũng chấp nhận sự chân thành của bạn. Những người quanh ta luôn công nhận việc tốt mà ta đã và đang làm, trở thành đương nhiên như thế… và đến một ngày kia bạn quá mệt mỏi liệu có ai bên cạnh bạn và cảm thông với bạn không? Vì trong suy nghĩ của họ bạn là người tự nguyện cho đi..., trong hoàn cảnh như thế liệu bạn có tiếp tục cho đi nữa hay không? Tất nhiên là có, chúng ta hãy tiếp tục sống tốt nhưng phải là người tốt thông minh. Hãy tin rằng không có nỗ lực nào là uổng phí, hãy có quan điểm và lý tưởng của chính mình, luật nhân quả luôn đền bù cho bạn xứng đáng. Nhà Phật dạy có Luân Hồi-Ngiệp Báo. Không ai phủ nhận rằng quan tâm chăm sóc người khác là tốt, nhường nhịn người khác đều là tốt, tuy nhiên quan tâm quá, họ sẽ làm khó ta vạn lần, nhiệt tình quá họ sẽ đâm ra nghi ngờ, thậm chí khiến bạn bị tổn thương …
28/01/2021(Xem: 10581)
Chúng ta đã quen với thể loại thơ Thiền sáng tác nhiều thế kỷ trước từ các ngài Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Hương Hải… Hay gần đây như với thơ của các ngài Nhất Hạnh, Mãn Giác, Tuệ Sỹ, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Ni Trưởng Trí Hải… Đó là nói cho chặt chẽ. Nếu nói cho nới rộng hơn, thơ Thiền cũng là Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Trịnh Công Sơn… Mỗi thời đại đều có những nét riêng, mỗi tác giả cũng là một thế giới độc đáo. Mặt khác, thơ Thiền mỗi quốc độ cũng khác. Trong khi phần lớn thơ Thiền Nhật Bản cô đọng với thể haiku, thơ Thiền Trung Hoa có nhiều bài hùng mạnh như tiếng sư tử hống, như với Chứng Đạo Ca của ngài Huyền Giác, hay Tín Tâm Minh của ngài Tăng Xán. Không ngộ được tự tâm, sẽ không có văn phong đầy sức mạnh như thế. Nơi đây, chúng ta nêu câu hỏi: Làn gió Thiền Tông đã ảnh hưởng vào thơ Hoa Kỳ ra sao? Và sẽ giới thiệu về bốn nhà thơ.
28/01/2021(Xem: 13087)
Mọi người đều biết câu chuyện Xá Lợi Phất thăm Cấp Cô Độc khi bị bịnh nặng và giảng cho Cấp Cô Độc bài pháp về quán chiếu, khi thiền trong Tứ Niệm Xứ mà chữa bịnh cho Cấp Cô Độc. Quán về Phật pháp tăng, 18 giới gồm 6 căn 6 trần 6 thức, rồi quán về 7 đại: đất nước gió lửa không kiến thức, quán về thời gian không gian và cuối cùng là quán về 5 uẩn. Cấp Cô Độc nghe xong hết bịnh. Cũng câu chuyện như vậy, nhưng nó khác đi chi tiết là lúc về già sắp mất: Xá Lợi Phất khai thị Cấp Cô Độc chú trọng về 5 uẩn, hãy trả 5 uẩn về lại cho 5 uẩn khi duyên hội tụ đã hết. Hãy trả Pháp về lại cho Pháp. Và Cấp Cô Độc chết thành A la hán vì đã ngộ được đạo về cõi trời.
28/01/2021(Xem: 13054)
Chùa Thiếu Lâm Tự mở ra khóa ngồi thiền cho 18 vị tu thành A la Hán. Khoá tu này trong 30 ngày ngồi trong tịnh thất suốt ngày đêm. Vị chủ trì là Hòa thượng trụ trì của Thiếu Lâm Tự. Thời bấy giờ là mùa xuân, cảnh đẹp hoa nở và thời tiết ấm áp. Mọi thiền sinh miệt mài tập trung thiền định đạt được 30 ngày miên mật thì bỗng xảy ra tiếng nói vọng vào từ ngoài cửa. Giọng nói đầy êm dịu thanh thoát và trong trẻo của một cô gái. Mỗi tiếng phát âm đi sâu vào tim người nghe một cảm giác êm dịu nhẹ nhàng như vuốt ve trái tim của con người.
27/01/2021(Xem: 8088)
Kính thưa quý đọc giả, tôi đột nhiên thấy được quyển sách với nhan đề “Khéo Dùng Cái Tâm” do Hội Phật Học Bát Nhã biên soạn, liền mượn về ngay để nghiên cứu. Tôi sở dĩ nghiên cứu tác phẩm này là do chủ đề “Khéo Dùng Cái Tâm” lôi cuốn tư tưởng của tôi. Chủ đề rất hấp dẫn khiến tôi tò mò không biết nội dung trong đó nói gì đành phải bỏ hết thời gian để đọc cho xong. Toàn bộ quyển sách chỉ nói về Ma Nhập, nhưng quý đọc giả cần phải đọc qua để biết Ma Nhập quan hệ như thế nào đối với con người chúng ta, đồng thời cần phải tỏ tường để tránh né và đối trị.
27/01/2021(Xem: 7935)
Đức Phật ngồi thiền 49 ngày dưới cội Bồ Đề mới ngộ được đạo tìm được đường giải thoát cho chúng sinh khỏi sinh tử luân hồi. Từ đó đến nay trên 2000 năm biết bao nhiêu cách tọa thiền, đi thiền, nằm thiền, trà thiền, tất cả quá nhiều phương pháp đường lối. Từ Nguyên thủy đến Đại thừa, có rất nhiều đường lối thiền.