Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Giây phút định mệnh

24/07/201502:05(Xem: 3390)
Giây phút định mệnh
Xuat gia gieo duyen

GIÂY PHÚT ĐỊNH MỆNH 
Thiện Ý



Chúng ta mỗi ngày quyết định không biết bao nhiêu việc và phần nhiều là những chuyện không quan trọng. Nhưng có đôi lúc, một quyết định nhỏ có thể ảnh hưởng không chỉ chính mình, mà còn lan rộng đến mọi người chung quanh, như gia đình, bà con, dòng họ, bạn bè, và đôi khi, cả những thế hệ về sau. 
Đối với chúng ta khi ấy, quyết định đó chỉ là chuyện nhỏ, tầm thường. Nhưng nó thật ra là một quyết định có tính định mệnh trong giây phút đó.  
 
Cho nên khi mình đối diện với những chuyện sanh phiền não, bực giận, oán thù mình phải cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định làm một chuyện gì.  Trong lúc mình đang nông nỗi, mình thích làm một chuyện gì đó để giải tỏa sự căng thẳng, bực tức trong tâm mình, và đây là chuyện dễ làm vì mình có thể làm được ngay.  Nhưng mình phải tự nhắc rằng đây là giây phút quyết định quan trọng.  Nó có thể gây ra những việc nghiêm trọng cho mình và cho người khác.  Mình phải chấp nhận khó khăn, kỷ luật bản thân để không làm điều có hại về sau. 

Sự đau đớn, khó chịu trong lúc mình phải khép mình theo giới luật Phật dạy ít đau đớn hơn cái đau khổ khi mình hối hận về điều mình đã làm trong phút giây định mệnh đó!  Mình cảm thấy mãn nguyện với quyết định về cách hành xữ để thỏa mãn lòng giận hờn, ghen tức của mình và nó có thể mang đến sự khoái trá, hả hê tạm bợ khi đó.  Nhưng kết quả của hành động nông nổi đó sẽ có thể đem đến khổ đau lâu dài về sau. 
 
Trong tâm mình khi ấy sẽ nói rằng:  ‘Chuyện này là chuyện nhỏ, không hệ trọng gì cả.  Nhưng, nếu mình không làm vậy, họ sẽ khinh thường mình!’ Mình đừng nghe những lời dụ dỗ dối trá đó.  Nó sẽ khiến anh làm bậy, xâm phạm những nguyên tắc căn bản đạo đức mà mình lâu nay trân quý, giữ gìn, và sẽ hối tiếc lâu dài về sau.

Câu chuyện về một đứa con chuẩn bị ra trường và trong nhiều tháng anh ta ngắm nghía một chiếc xe thể thao trong phòng trưng bày của một đại lý bán xe ô tô.  Biết rằng cha mình có thể mua nổi chiếc xe đó, nên anh đã ám chỉ cho cha anh ta biết về món quà ra trường mà anh thích nhất.  Ngày ra trường, anh mong chờ một dấu hiệu cho thấy cha mình đã mua chiếc xe đó rồi.  
 
Cuối cùng, sáng hôm đó cha anh gọi anh vào phòng riêng và nói rằng, ông rất hảnh diện vì anh và đưa tặng anh một món quà gói trong một chiếc hộp thật đẹp. Háo hức, nhưng hơi thất vọng anh mở món quà ra, và trong đó anh thấy một quyển kinh thánh bọc bằng da thật đẹp.  Tức giận vô cùng vì không thấy món quà mình yêu thích, anh bật la lớn, “Cha giàu như vậy mà chỉ cho con cái thứ này thôi ư?” Và anh giận dữ bỏ chạy ra khỏi nhà, bỏ lại quyển kinh thánh trên bàn.

Sau nhiều năm từ cha, đi biệt vì giận cha mình đã không mua chiếc xe mới như đã hứa.  Một hôm, anh nhận được tin cha anh vừa mới qua đời, và mọi người mong anh về kế thừa sự nghiệp.  Khi anh về đến nhà, nhìn lại cảnh xưa thì một nỗi buồn man mác xâm chiềm hồn anh. Lục lọi trong phòng của cha, anh thấy quyển kinh thánh xưa vẫn còn đó.  Nước mắt tuôn rơi, anh lần giở những trang kinh, và bất ngờ, thấy một phong thư giấu bên trong.  Khi mở ra, anh thấy một cặp chìa khóa xe và một hoá đơn còn mới toanh với dòng chử in đậm “ĐÃ TRẢ XONG HẾT”, của tiệm bán chiếc ô tô anh khao khát khi ra trường. 

Đọc câu chuyện trên, chúng ta mới thấy rằng, đã bao nhiêu lần mình đã hành xử hấp tấp, nóng vội vì những cảm xúc mạnh khi đó.  Và đã bao nhiêu lần mình đã hối hận vì những quyết định nông nổi, sai lầm trên trong suốt cuộc đời mình.   Khi bắt đầu một ngày, mình nên cầu nguyện chư Phật, chư Bồ tát gia hộ cho mình giữ vững tâm bồ đề, tỉnh giác, chánh niệm, không quyết định làm những chuyện sai trái với lương tâm.  
 
Nhớ rằng, mọi chuyện đều bắt đầu bằng một ý nghĩ trong tâm.  Đây chính là trận địa, nơi quyết định sự chiến thắng hay thất bại của mình.  Phật dạy: “ Tránh xa những ý tưởng bất thiện” (chư ác mạc tác) vì nếu mình để cho chúng mọc rễ, và phát triển trong tâm, sớm muộn gì mình cũng sẽ làm theo chúng.

Như trong sách Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ đề cương của Pháp sư Thích Từ Thông: “ Khi Ngài A Nan đi khất thực ngang nhà Ma Đăng Già là một gái làng chơi. Nàng ta bèn dùng tà chú Tiên Phạm Thiên của đạo Saticala bắt ông vào phòng riêng dụng ý lẳng lơ, diễn trò má dựa vai kề, nâng niu âu yếm, làm cho ông A Nan gần mất giới thể ..”  
 
Thực tình mà nói, rất có thể là Ngài A Nan gần trong gang tấc, suýt mất giới thể vì bị sự cám dỗ dục lạc quá mạnh.  Nhưng trong giây phút định mệnh đó,  Ngài nhớ đến đức Phật, và nhờ vậy mà Ngài vượt thoát được sự cám dổ kinh khiếp của Nàng Ma Đăng Già.  Nếu Ngài A Nan phá giới, thì hôm nay chúng ta có thể đã không có đủ tam tạng kinh điển để mà nghiên cứu, tu học, và cũng có thể là không có cả hàng ngũ Ni giới như ngày hôm nay.  Nên nhớ rằng, muốn sống đời an lạc, chân thật mình phải vượt qua được những thử thách.

Rất là dễ dàng cho ta trong đời quyết định một chuyện gì đó căn cứ theo tình cảm, hay cảm xúc của mình lúc đó và nhượng bộ, cũng như chìu theo ý thích của mình.  Nhưng nếu mình muốn đạt được đỉnh cao trong cuộc đời thì mình phải thành công vượt qua những thách đố và học cách tránh rơi vào những cái bẩy của sự cám dỗ dục lạc, và những quyết định sai lầm mà sẽ khiến mình hối hận suốt đời và đánh mất giá trị con người mình.  
 
Cám dỗ luôn có mặt khắp nơi và đủ loại – nào là cám dỗ dụ mình bỏ cuộc, dụ mình nhụt chí, dụ mình đổi đen thành trắng, dụ mình làm bậy để xóa những sai lầm do chính mình tạo ra.  Để cưỡng lại những cám dỗ trên, không phải là điều dễ dàng.  Cho nên hành trì, tu niệm thường xuyên sẽ giúp mình vượt qua những cám dỗ của tâm thức, hoặc theo thói quen đã chứa sẵn trong tâm thức. Nên Tổ Huệ Năng có dạy: “Nếu nói về Phật tánh thì không có gì khác biệt giữa một kẻ ngu và một ông thánh. Một niệm giác ngộ thì người đó sẽ thành Phật. Một niệm si mê thì người kia sẽ thành một kẻ ngu.”

Sở dĩ, Phật dạy mình phải luôn tỉnh giác, chánh niệm là để giúp mình tránh được những giây phút quyết định sai lầm, mà theo tập khí quen thuộc, có thể dễ dàng thực hiện.  Như ông bà mình thường dạy:  Một khi mà ly nước đầy đã hất đổ xuống đất thì khó mà hốt lại được nữa! Cho nên, để tránh được những sai lầm này chúng ta phải luôn tỉnh giác, đặc biệt là trong những lúc mình đang xúc động dâng trào.  
 
Con người, ai cũng có tình cảm nhưng nếu chỉ dựa vào những cảm thọ để hành xử thì chúng ta sẽ làm nhiều điều sai quấy và sẽ hối hận không nguôi. Nên một trong bốn căn bản của thiền quán (quán thân, quán thọ, quán tâm, và quán pháp) mà Phật đã dạy, là quán sát cảm thọ của mình.  Trong Kinh Trung Bộ số 10, có bài kệ dạy quán cảm thọ như sau:

Kế đến, quán cảm thọ
Là cảm giác thân, tâm
Gồm ba loại: Khổ, vui,
Và không vui không khổ.
Tuệ tri từng cảm thọ
Là nghe ngóng theo dõi
Sinh, trú diệt của nó
Chính niệm, gột tham ưu. 
(Ni sư Trí Hải dịch)   

Nhờ có chính niệm chúng ta tránh được những cảm thọ vui, khổ (tham ưu) khiến dẫn mình đến những quyết định sai trái.  Cho nên, tuệ tri hay thấy biết từng cảm thọ sẽ mang ta đến đạo lộ an lạc, giải thoát vì những quyết định sáng suốt, dù đôi lúc, mình phải cắn răng kham nhẫn để vượt qua những cám dỗ để thỏa mãn lòng mình trong nhất thời!  

Những cảm xúc thường ngày như sự cô đơn, lo sợ, buồn chán, hay hoảng sợ sẽ dễ khiến mình hành động nông nỗi.  Tuệ tri hay thấy biết những cảm thọ của mình, không phải là một cách sống che đậy, giấu kín, hay đè nén, mà là nhận biết, cảm thông, và tiếp cận với những xúc cảm mình đang trải nghiệm. 
 
Hầu hiểu rõ con người thật của mình và những thói quen hành xử dựa vào những cảm xúc trên. Những người thành danh trong đời đều phải trải qua những thử thách này.  Và chỉ khi nào họ vượt qua được những cám dỗ, những dằn vặt, khổ đau, và quyết định không nhượng bộ những sự cám dỗ đó để làm những điều trái với lương tâm nhằm thỏa mãn bản ngã của mình, thì họ mới thực sự là kẻ chiến thắng.     


Thiện Ý
 
(tháng 7, 2015)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/05/202105:58(Xem: 182)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
01/01/202109:18(Xem: 78472)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
15/05/202112:01(Xem: 132)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/202111:49(Xem: 57)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/202111:23(Xem: 155)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/202111:18(Xem: 102)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/202111:13(Xem: 99)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/202119:02(Xem: 76)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/202111:49(Xem: 162)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.
04/05/202118:51(Xem: 301)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra ở quê hương ngài và cố gắng để có được sự giúp đở cho người dân của ngài. Ngài cũng phải chạm trán với sự tuyên truyền của truyền thông Tàu Cộng rằng ngài đã bị bắt cóc. Tuy nhiên, nhu cầu thiết yếu nhất là để bảo đảm nhà ở và thực phẩm cho những người Tây Tạng đã đi theo ngài lưu vong. Ngài đã hướng đến chính phủ Ấn Độ, và họ đã không làm ngài thất vọng. Trong thực tế, Ấn Độ cuối cùng đã tiếp nhận hơn một trăm nghìn người tị nạn, cung cấp chỗ ở, và nuôi dưỡng họ, cho họ làm việc, và thiết lập những ngôi trường đặc biệt cho trẻ em Tây Tạng. Những tu viện Phật giáo Tây Tạng cũng được xây dựng ở Ấn Độ và Nepal.