Lên Núi Thăm Thầy

11/04/201119:49(Xem: 10602)
Lên Núi Thăm Thầy

LÊN NÚI THĂM THẦY

Tâm Diệu & Tâm Linh


blankChúng tôi đến thăm Thầy vào một buổi chiều cuối tháng Tư. Trời Cali bắt đầu vào Hạ nhưng vẫn còn cái se lạnh của mùa Xuân chưa hết. Thầy ra cửa đón chúng tôi tại một ngôi chùa ngập bóng cây ở thành phố Pomona. Mới cách đây hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi còn hòa vào dòng xe tấp nập trên các xa lộ mà giờ như lạc vào một khung cảnh yên bình, ít xe cộ và người qua lại. Cảnh chùa chiều thứ Sáu thật yên tĩnh, không một bóng người, chỉ nghe thấy tiếng lá rì rào.

Mặc dầu được biết Thầy qua các sách trước tác, qua các tác phẩm văn học nghệ thuật và nhất là qua các bức hình Thầy với những bước chân trần đi khất thực trên các nẻo đường cố kinh, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi được diện kiến Thầy. Với thân hình mảnh khảnh, với khuôn mặt quắc thước, đôi lông mày trắng cong, Thầy như dáng dấp của một ông Tiên trên núi. Mà Thầy ở trên núi thật, Thầy ở xa lắm, bên kia nửa vòng trái đất. Thầy đã xuống núi vân du và đến đây thăm một số đệ tử và một người bạn đồng môn trụ trì ngôi chùa này. Thầy chính là Tỳ kheo Giới Đức, Sư trưởng Huyền Không Sơn Thượng.

blankHuyền Không Sơn Thượng tọa lạc giữa lưng chừng núi Chầm thuộc sơn phận xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách trung tâm thành phố Huế chừng 14 cây số về hướng Tây. Thầy cho biết nguyên thủy chùa được dựng bằng tre nứa năm 1973 ở phía Bắc đèo Hải Vân Lăng Cô, Phú Lộc. Đến cuối năm 1978, chùa được di dời về vùng núi này. Năm 1989 thầy được Sở Lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên cấp cho 54 mẫu đất trống đồi trọc để trồng rừng phủ cây xanh. Sau hơn 20 năm dài phá đất trồng cây từ một vùng đồi núi hoang sơ, khô cằn, chỉ toàn là sim mua, tràm chổi và cỏ dại, bây giờ, rừng thông đã khép tán, màu xanh bạt ngàn, tàn cao bóng lớn – tạo nên một môi trường thiên nhiên mát mẻ và trong lành.

blankCó một điểm đặc biệt, theo thầy cho biết chùa và các kiến trúc phụ khác xung quanh không giống chùa Trung Hoa hay chùa Miên, Thái, Lào; cũng không giống kiến trúc cung đình Huế, mà là một ngôi chùa hoàn toàn Việt, biến thể từ một ngôi nhà rường xứ Huế với phong cách kiến trúc và chất liệu mà chủ yếu là gỗ và ngói vảy cá truyền thống để giữ dáng dấp hồn Huế và hồn Việt, hoà quyện với môi trường xanh thiên nhiên. Tất cả các am thất, cốc liêu trong quần thể chùa đều có kiến trúc đồng bộ với chùa chính và đều là kiến trúc mở để thiên nhiên, cây, cỏ, hoa lá, ánh sáng tràn vào nhà, vào cốc, vào am.

Được biết, Thầy là Thượng tọa Giới Đức có bút hiệu là Minh Đức Triều Tâm Ảnh mà giới văn học nghệ thuật dường như ai cũng biết. Thầy là một nhà thơ, nhà văn rất nổi tiếng, những tác phẩm của thầy không những có giá trị trong giới Phật học trong và ngoài nước mà còn đóng góp không nhỏ cho nền văn chương, văn học của Việt Nam đương đại. Ngoài ra, Thầy còn am tường hội hoạ và trang trí mỹ thuật và là một cao thủ cờ tướng từng đánh bại một số kì thủ quốc gia. Đồng thời Thầy cũng là một trong những người nổi tiếng về nghệ thuật thư pháp tại Việt Nam những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21.

Rừng Thiền Huyền Không Sơn Thượng” nay được gọi như thế là một không gian biệt lập yên tĩnh nơi núi rừng dành cho các hành giả tu tập thiền định và thiền quán. Đây là một dạng trường Thiền rất mới mẻ ở Việt Nam mà hình như chỉ có ở miền Bắc Thái Lan và Miến Điện.

blankQuả thật là may mắn và hạnh phúc khi được hầu chuyện với Thầy bên tách trà đậm hương vị thiền, chúng tôi đã vấn an sức khỏe thầy, hỏi thăm Thầy về trường Thiền bên nớ và kể chuyện Thầy nghe đôi chút về Phật Giáo bên ni và với chuyến viếng thăm thầy này còn mang một ý nghĩa sâu xa là cảm tạ Thầy đã đem đến cho Thư Viện Hoa Sen, cho độc giả khắp năm châu những lời hay ý đẹp, những lời giảng dạy sâu sắc qua các kinh sách dịch cũng như các trước tác của Thầy. Thầy không những là Pháp bảo mà còn là Quốc bảo của Việt Nam như một nhà văn đã nhận định. Cũng trong dịp này thầy đã trao tặng Thư Viện Hoa Sen bức tranh thư pháp với bốn câu thơ đầy thiền vị, xin cảm tạ Thầy:

Hoa ươm mùi đạo vị
Sen ngát mạn đà hương
Thư kinh trăng giọt ngọc
Viện bối phụng văn chương

Pomona cuối tháng Tư 2014

Tâm Diệu & Tâm Linh

Quý độc giả có thể vào website để đọc một số tác phẩm của Thầy đã được đưa lên mạng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/12/2013(Xem: 28282)
Những người dân Tây Tạng thân mến của tôi, ở cả trong lẫn ngoài đất nước Tây Tạng, cùng tất cả những ai đang tu tập theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng và những ai đang có những nối kết với Tây Tạng và người Tây Tạng.
10/12/2013(Xem: 27851)
Cánh cửa của thế kỷ 20 sắp khép lại, tất cả chúng ta đều nhận thấy rằng thế giới đã trở nên nhỏ hơn, loài người trên hành tinh đã trở thành một cộng đồng lớn, các liên minh về chính trị và quân sự đã tạo ra những khối đa quốc gia, làn sóng của thương mại và công nghiệp thế giới đã cho ra nền kinh tế toàn cầu, những phương tiện thông tin của thế giới đã loại bỏ những chướng ngại về ngôn ngữ và chủng tộc.
10/12/2013(Xem: 31777)
Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện đời của Đức Phật. Chúng ta biết rằng thái tử Siddhattha đã rời bỏ cung điện lộng lẫy của vua cha, để bắt đầu cuộc sống không nhà của người lữ hành lang thang đi tìm con đường tâm linh, và sau nhiều năm tu hành tinh tấn, Ngài đã đạt được giác ngộ khi đang nhập định dưới gốc cây bồ đề. Sau khi xả thiền, Đức Phật đã đi đến thành phố Benares, giờ được gọi là Varanasi. Ở đó, trong Vườn Nai, lần đầu tiên Ngài thuyết pháp về những gì Ngài đã khám phá về con đường đi đến hạnh phúc toàn vẹn. Lời dạy của Đức Phật rất đơn giản nhưng sâu sắc.
10/12/2013(Xem: 17495)
Đây là một đề tài khá phức tạp và dễ bị hiểu lầm. Có câu nói: ‘Hành trình ngàn dặm khởi đầu bằng một bước đi (a journey of a thousand miles begins with a single step). Vì vậy, vấn đề cần phải nêu ra là khi nào và từ đâu chúng ta bắt đầu cất bước trên con đường tâm linh? Đa phần chúng ta đi tìm con đường tâm linh cho mình khá trễ. Trễ là do mình không cảm thấy nhu cầu cần thiết cho tâm linh lúc trẻ vì quan niệm rằng chùa chiền không thể nào giải quyết được những ưu phiền, đau khổ trong cuộc sống của tuổi trẻ. Chùa là dành cho những người lớn tuổi, xế chiều. Họ cần đến chùa là để vun bồi phước đức như làm việc thiện, bố thí, công quả .v..v… để ‘sau này’ được hưởng phước tốt lành.
09/12/2013(Xem: 9855)
Gia đình nghèo kia có ba người: Bố – Mẹ – và Con trai. Họ sống âm thầm và bình lặng trong một thôn làng hẻo lánh, người Bố đi làm thuê để kiếm cơm gạo nuôi gia đình, người mẹ lo việc bếp núc, trồng mấy luống rau, và chăm sóc con. - Một buổi trưa hè nắng nóng, người mẹ trên đường từ chợ về nhà chợt nhặt được một trái cam ai đó đánh rơi bên đường, cơn khát và mệt nhọc dường như tiêu tan khi bà nghĩ đến miếng cam ngọt lịm và mọng nước. Nhưng nghĩ đến đứa con ngoan ngoãn chẳng mấy khi được ăn hoa trái thơm ngon, bà liền lau sạch trái cam và cất vào túi.
09/12/2013(Xem: 13529)
Giáo lý đạo Phật không chỉ nói về những vấn đề “xuất thế”, mà Đức Phật cũng đã rất chú trọng về vấn đề “nhập thế” - hoàn thiện nhân cách trước khi đạt được thánh cách - giúp cho tất cả chúng ta một phương pháp ứng xử phù hợp với đạo lý làm người, tạo nên một nhân cách sống. Nhân cách sống đó, dù bất cứ ở đâu và bất cứ thời điểm nào, cũng có thể ứng dụng và mang lại những kết quả tốt đẹp...
09/12/2013(Xem: 12265)
Có thầy trò một nhà kia làm nghề hát xiệc. Người thầy là một người đàn ông góa vợ và người học trò là một cô gái nhỏ tên là Kathullika. Hai thầy trò đi đây đó trình diễn để kiếm ăn. Màn trình diễn của họ là người thầy đặt một thanh tre cao trên đỉnh đầu mình, trong khi bé gái leo dần lên đầu cây rồi dừng lại trên đó, để người thầy tiếp tục đi trên đất. Cả hai thầy trò đều phải vận dụng sự tập trung tâm ý đến một mức độ khá cao, để giữ thăng bằng và để ngăn chặn tai nạn có thể xảy ra.
09/12/2013(Xem: 13772)
Tự thủy uyên nguyên, khắp các loài chúng sanh cùng với Phật đồng một tâm, tức cái tâm tánh tuyệt đối, chơn thường, vắng lặng, trong trẻo, tròn đầy, trùm khắp, không lay không động, không đến không đi, không sanh không diệt, vô thỉ vô chung, cực linh cực mầu, hay sanh các pháp. Do Phật tâm thanh tịnh, vắng lặng, huyền mầu, nhưng lại khéo sanh vạn pháp, nên cổ đức mới tạm mượn lời mà đặt tên, gọi cái tánh huyền mầu đó là "chơn không diệu hữu", tức từ cái tánh linh diệu trong trẻo, không một vật mà pháp pháp tuỳ duyên trùng trùng sanh khởi.
09/12/2013(Xem: 11968)
Nguyện là mong cho, cầu mong cho, ước mong rằng… Khi nguyện cho người khác được hạnh phúc, chính ta liền có được hạnh phúc. Tại sao như thế? - Khi nguyện cho người khác hạnh phúc, chính trong lúc đó tâm ta thoát khỏi những tình cảm tiêu cực như đố kỵ, ích kỷ, ghét bỏ… Khi ấy chúng ta xóa bỏ được, dù chỉ là tạm thời, sự phân biệt chia cách kiên cố giữa ta và người khác. Chính sự thoát khỏi những ràng buộc tiêu cực nặng nề này đưa chúng ta đến miền đất chung của hạnh phúc.