Quyển 16

25/01/201509:08(Xem: 4398)
Quyển 16

ĐẠI VIỆT SỬ THI

(30 quyển)

Chủ đề:  Việt Nam Lịch sử Diễn ca

Tác giả: BS. Hồ Đắc Duy

 

QUYỂN 16

TRỊNH CƯƠNG (1709- 1729 )
 
Năm Kỷ Sửu (1709) theo vâng lệnh chúa
Lấy Trịnh Cương,chắt của Khang vương  
Lên ngôi nối dõi tông đường    
Nắm quyền phủ chúa đảm đương việc triều
 
Phép thuế theo Tô Dung Điện học
Luật thuế này Trung quốc đem sang
Ngõ hầu hạn chế thuế quan  
Hiện không thích hợp mà đang được dùng
 
Ở Đàng Trong chúa sai đo đạc (1711)
Diện tích vùng bãi cát Trường Sa
Đồng Hồ Bố Chính đặt ra
Dùng đo viễn độ khoảng xa lộ trình
 
Xuống lệnh truyền quan viên nội phủ (1711)
Phải du hành đến đó mà xem
Đắp đường tu sửa lẫm kinh
Ngăn ngừa lụt lội dân sinh thế nào
 
Ba năm sau,tháng hai Giáp Ngọ (1714)
Vua Nặc Yên xứ nọ Đàng Trong
Xin quân cứu viện vì không
Đủ phương chống trả rất mong cứu nàn
 
Thợ khắc làng Liễu Chàng dâng sách
Dâng cho chúa kiệt tác bấy giờ
Một của Tuệ Tỉnh thiền sư
Viết về y lý dùng cho các thầy
 
Ông là người Nghĩa Lưu Dạ Cẩm
Được nhà sư ở Cẩm Sơn nuôi
Thi Đình , Hoàng Giáp đổ ngay
Về sau đi sứ bị người giữ luôn
 
Chúa Trịnh Cương thu hồi ván sách (1718)
Sợ kẻ thù reo rắc nội dung
Chống người phủ chúa và cùng
Tham quan ô lại bên trong chính quyền
 
Chúa lại truyền chuyển ba phiên cố
Rút hết quyền sáu bộ bên cung
Để vua hư vị ngồi không
Quyền thì phủ chúa gom chung hết rồi
 
Đổi niên hiệu là đời Thái Bảo (1720)
Đánh thuế đồng,thuế muối,bán buôn
Công ty Đông Ấn tạm ngưng
Triệu hồi toàn bộ khỏi vùng Nghệ An
 
Chúa Trịnh Cương đề ra nguyên tắc
Thì chi thu đảo ngược kịp thời
Định ra lễ phục hẳn hoi
Hủy ngay điều luật chặt tay bấy giờ (1721)
 
Chiếu truyền cho kiểm tra dân số (1723)
Những di dân các hộ ven sông
Ba năm kiểm lại cho xong
Quỹ riêng trường học ruộng công để dành
 
Truyền nộp nhanh bản đồ thủy lợi (1725)
Của mỗi vùng để đợi chỉnh tu
Khơi thông , dẫn thủy , đào hồ
Vét sông tắt nghẽn , đắp bờ lên cao
 
Để chặn đứng cường hào ác bá
Vạch trần ra bè lũ tham ô
Vua cho yết bảng bây giờ
Ơ nơi công cộng để cho dân bàn

(Tiếp theo) QUYỂN 16  

LÊ DUY PHƯỜNG HOÀNG ĐẾ  (1729- 1732)
 
Phủ chúa Trịnh muốn thay ngôi đế
Bảo quần thần bàn ép Dụ Tông
Nhường ngôi lui ở trong cung
Duy Phường lên thế để cùng Trịnh Cương
 
Ơ miền Nam Nguyễn vương mở rộng (1697)
Bình Thuận miền đất trống phía Tây
Phan Rang, Phan Rí thu ngay
Lại thêm Đông Phố lựa ngày phân ra
 
Phủ Gia Định :Hòa Đa, An Phúc
Xứ Đồng Nai đóng cột chia vùng
Tân Bình lấy xứ Sài Gòn
Dựng dinh Phiên Trấn coi chung vùng này
 
Năm At Tỵ (1725) chẳng may tạ thế
Nguyễn Phúc Chu được kể lắm con
Cháu chắt nội ngoại đích tôn
Con hơn trăm rưởi , vợ hơn chục bà


NGUYỄN PHÚC CHÚ (1725-1738)
 
Nguyễn phúc Chú con bà vợ cả
Lên ngôi vương lúc đã ba mươi
Đặt ra quan hệ nước ngoài
Tổ chức thi cử nhân tài lựa ra
 
Đặt ra khoa dành cho môn toán
Ở Đàng Ngoài có khoảng trăm ba
Lại cho thi tuyển chuyên khoa
Chọn người giỏi võ lập ra môn này
 
Cấm ngoại quốc đào khai kim loại  
Khu mỏ đồng khai thác của ta
Báo cho vua nước Trung Hoa  
Phải đem trả lại gọi muốn mà kết thân
TRỊNH GIANG (1729- 1740 )
 
Năm Kỷ Dậu (1729) Trịnh Cương tạ thế
Lấy Trịnh Giang lên kế ngôi vương
Một người tư cách tầm thường
Khó lòng trị nước cầm cương giữ gìn

i](Tiếp theo) [/i] QUYỂN 16  

LÊ THUẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ (1732- 1735)  
 
Khi Trịnh Giang cầm quyền phủ chúa
Đưa Duy Tường lên kế ngôi vua
Thuần Tông đế hiệu bấy giờ
Long Đức niên kỷ kể từ hôm nay
 
Trịnh Giang người ưa điều quái dị  
Lại là người rất dễ gièm pha
Tính tình nhiễm thói ba hoa  
Áo quần diêm dúa xa hoa vào mình  
 
Cũng viết câu, phê bình văn sách
Cũng xây chùa, cung thất xa hoa  
An chơi nhiều thói trăng hoa  
Cưởng dâm cung nữ của cha chẳng chừa

(Tiếp theo) QUYỂN 16

LÊ Ý TÔNG HOÀNG ĐẾ  (1753- 1740)
 
Thế ngai vua, đưa ngay Duy Thận
Giử ngôi cao cán đáng việc triều
Ý Tông vâng lệnh nghe theo
Là con cháu ngoại được yêu bấy giờ
 
Thù, giết vua , làm điều quái đản
Sét đánh cho, sau loạn tâm thần
Triều đình quyết định năm Thân(1740)
Trịnh Doanh được chọn thế chân cầm quyền
 
Ở đàng ngoài nhiều miền thay đổi
Tân Mĩ vùng Đông Phố đất ta
Từ Châu Định Viễn lập ra(1732)
Long Hồ Dinh trấn hiện là Cửu Long
 
Ở Đàng Trong quốc vương Chân Lạp
Cất quân vào đàn áp Hòa Đa  
Vĩnh Phúc chúa phái đem ra
Quân binh đánh chúng, đuổi xa khỏi thành
 
Ở Đàng Ngoài tiến hành soạn quyển  
Sách "Quốc triều hội điển" vừa xong (1731)
Tức Uông tạo sĩ bách cung
Làm pho binh pháp để dùng trong quân
 
Sai nha quan tìm mua sách cũ (1731)
Sửa lại kho Tích Cổ Tàng Thơ
Ngũ Kinh in mới dâng vua
Tứ Thư Chư Sử dạy cho học trò (1734)
 
Lại y theo đồng hồ ngoại quốc (1733)
Nguyễn Văn Tư bắt chước làm ra
Tự cung trong nước để mà
Đặt nơi dinh trấn dân ta coi giờ
 
Chúa Nguyễn cho con trai Mạc Cửu (1736)
Làm Đô Đốc trấn giữ Hà Tiên
Một tay nổi tiếng chiêu hiền
Lập Chiêu Anh Các giao duyên tao đàn
 
Trịnh Giang bệnh :tâm thần phân liệt  
Làm dân lành bao xiết khổ đau
Nhiều nơi lắm kẻ cầm đầu  
Dấy lên nổi loạn chia nhau cát quyền


TRỊNH DOANH (1740- 1767)
 
Chúa Trịnh Giang trao quyền nhiếp chính
Cho Trịnh Doanh quyết định mọi điều  
Đầu tiên từ bọn quan liêu
Giết ngay Công Phụ và nhiều kẻ gian
 
Truyền quan quân lên đường dẹp loạn
Tuyển ưu binh lực lưỡng dễ dùng  
Trưng thu đến cả hồng chung
Để đúc binh khí kiếm cung tàu thuyền (1740)

(Tiếp theo) QUYỂN 16

LÊ HIỄN TÔNG HOÀNG ĐẾ ( 1740- 1786)
 
Lê Duy Niên được nhường ngôi đế
Vì Trịnh Doanh muốn thế Ý Tông
Vời ngay thái tử đông cung
Trở về nhận lảnh trung hưng mối giềng
 
Dân Đàng Ngoài triền miên thiếu đói (1730,1735,1740)  
Ruộng bỏ hoang đồng cỏ xác xơ
Thiên tai, dịch bệnh bấy giờ
Nhiều năm hạn lụt mất trơ mùa màng
 
Số giáo dân bao gồm cả nước (1737)
Đến bây giờ kiểm được xong xuôi
Hai trăm năm chục ngàn người
Nhà thờ giáo sứ nhiều nơi cát quyền
 
Cả hai miền đều cho cấm đạo (1737)
Sợ gây mầm khuynh đảo trong dân
Truyền cho giáo sĩ ngoại nhân
Phải ra khỏi nước không cần lệnh vua
 
Nhà sư tên Dương Hưng khởi nghĩa  
Ở Tam Đảo và giữ một vùng
Lại thêm tù trưởng Quách Công
Chiếm vùng Lạc Thổ vẫy vùng một phương  
 
Người nhà Lê thân vương tôn thất
Họp lại cùng Duy Mật hưng binh (1738)
Mong làm đảo ngược tình hình
Tấn công đốt phá kinh thành tan hoang
 
Mưu bị lộ tìm đường chốn thoát
Vì nghĩa binh khinh thất coi thường
Nên nhiều người đã chết oan
Bị quân họ Trịnh dẹp tan tức thì
 
Lê Duy Mật chạy về Thanh Hóa (1740)
Cùng nông dân đã hóa vùng này
Thành nơi dựng trại , tuyển nguời
Dân binh gia nhập mỗi ngày một đông
 
Khi tiến công khi vây Phúc Lộc  
Vượt sông Đà đánh thốc sông Thao
Lôi Dương ngấp nghé tiến vào
Ngọc Lâu còn dấu chiến hào thân vương
 
Thành Trình Quan ba mươi năm ấy
Nét oai hùng còn thấy về sau
Bị quân phản bội bắc cầu
Ong đành tự vẫn tránh vào tay quân (1770)
 
Ơ Đàng Ngoài nhân dân chống lại
Bọn kiêu binh và lũ tham tàn (1741)
Công Chất cát cứ Sơn Nam (1739)
Tuyển, Cừ, Trác, Oánh chiếm đàng Hải Dương (1741)
 
Ơ Bắc Phương dư đồ nhà Mạc (1744)
Chiếm Cao Bằng, Hưng Hóa, Tuyên, Quang
Ngân Gia lại có Đình Dung (1740)
Tế Bồng thủ lĩnh chiếm vùng Sơn Tây
 
Nguyễn Hữu Cầu cho xây dinh trại (1742)
Kiểm soát miền duyên hải Đồ Sơn
Ngũ Phúc tướng Trịnh bị dồn (1744)
Bị quân vây hãm cuống cuồng lo âu
 
Nguyễn Danh Phương cầm đầu lực lượng (1744)
Mười vạn quân cả tướng và binh
Lấy vùng Thanh Lãng xây thành
Cuối cùng bị bắt tử hình nơi đây
 
Nguyễn Phúc Chu trên ngai phủ chúa
Ơ Đàng Trong hơn được mười năm
Giữa năm Mậu Ngo (1738) thì băng
Khoát lên nối nghiệp đăng quan lúc này
 
NGUYỄN PHÚC KHOÁT  
(1738- 1756)
 
Nguyễn Phúc Khoát xuống ngay chiếu chỉ  
Lập lễ đài ở Huế đăng quang
Sai người đúc ấn Quốc Vương
Đặt ra triều phục , kỷ cương khi chầu
 
Xây kinh đô, điền đài, cung điện
Gác Dao Trì nội viện Triều Dương
Thuyền rồng đậu ở sông Hương
Cái quan đắp rộng dể dàng cho dân
 
Ơ trấn Biên có quân tạo phản (1747)
Chúa Nguyễn sai dẹp loạn thật nhanh
Được tin giặc cỏ Long Xuyên
Vua sai cai đội đem thuyền đi ngay
 
Lại xuống chiếu chọn ngày đúc súng (1747)
Làm thêm tiền kẽm cứng lưu thông
Cộng chung với cả tiền đồng
Định ra luật lệ tiêu dùng dễ phân
 
Năm Giáp Tuất (1754) đem quân tiến đánh
Đuổi Chân lạp đến tận Nam Vang
Nặc Nguyên dâng biểu đầu hàng (1755)
Từ nay thần phục xin làm phiên vương  
 
Dưới thời này văn chương kiệt xuất  
Nhiều thi thơ trước thuật tài tình  
Nguyễn Kiều một thuở lưu danh  
Sử Hoa Tùng Vịnh để dành người xem
 
Chinh phụ ngâm chuyện tình cay đắng
Bảng hán văn của Đặng Trần Côn
Bà Đoàn diễn lại thơ Nôm
Văn chương man mác nỗi buồn phu thê
 
Là tác phẩm thiên về nghệ thuật
Một áng thơ tuyệt tác bấy giờ
Nghe qua não nuột tựa hồ
Xót xa vạn dặm mờ mờ đau thương

(Tiếp theo) QUYỂN 16

TRỊNH SÂM ( 1767- 1782)
 
Ở Đàng Ngoài Trịnh Sâm nguyên soái
Được tiến phong lên nối ngôi vương
Đổi ngay triều nội kỷ cương
Không theo pháp cũ triều đường khi xưa
 
Chúa Trịnh Sâm thay vua quyết đoán
Đã một lần làm tướng xuất quân
Đã từng chiếm lấy Phú Xuân
Đuổi quân chúa Nguyễn Phúc Thuần vào Nam
 
Lê Quí Đôn một người tài lực (1752)
Để lại đời Tiểu Lục Kiến văn
Lê Triều Thông Sử trăm trang
Một nhà bác học thuộc hàng quán quân
 
Đất Hải Dương có Lê Hữu Trác (1724)
Là một người uyên bác y khoa
Y Tông Tâm Lĩnh viết ra
Vệ sinh yêu quyết thật là ích dân
 
Làng Đan Loan có Phạm Đình Hổ (1768)
Chuyên tâm vào nghiên cứu điễn văn
Vũ Trung tùy bút, Tang Thương
An Nam Chí Lược trăm trang để đời  
 
Từ Tân Dậu (1741) kéo dài cho tới
Năm Đinh Hợi (1767) cả ở hai miền
Có nhiều sự kiện khó quên  
Khoát mất, Thuần thế, Trịnh Sâm đang ngoài


NGUYỄN PHÚC THUẦN  (1765- 1777)
 
Nguyễn Phúc Thuần nối ngôi nghiệp chúa
Trương Phúc Loan lấn cả quyền hành
Trong triều có Nguyễn Cư Trinh
Cũng không ngăn được tình hình rối ren
 
Trương Phúc Loan lấy quyền Quốc Phó (1765)
Xem triều đình chẳng có một ai
Chuyên quyền lại giết người ngay
Tóm thâu công việc trong ngoài vào tay
 
Ơ Đàng Ngoài Trịnh doanh bố cáo (1754)
Cấm người Au truyền đạo Gia Tô (1746)
Cấm người Trung Quốc bấy giờ
Lim, Trắc gỗ quý không cho đem về
 
Ơ hai miền dân quê ly tán
Bởi mất mùa, lụt hạn triền miên
Gian manh làm giả bạc tiền
Khiến cho mất giá dân thêm đói nghèo
 
Biển Hà Tiên có nhiều hải sản
Lắm ghe thuyền lai vãn mưu sinh
Ngư dân ngoại quốc cố tình
Đánh bắt tôm cá nước mình mang đi
 
Việc trấn thủ lắm khi quá yếu (1758)
Muốn tuần tra lại thiếu chiến thuyền
Cuối năm bảy mốt vua Xiêm (1771)
Cất quân đánh chiếm Hà Tiên mấy ngày
 
Mạc Thiên Tứ sai người dụ địch
Tống Phước Hiệp đột kích sau lưng
Dồn quân giặc cướp tới cùng
Vượt qua biên giới tấn công mới về
 
Vua Xiêm bèn gửi ngay sứ giả
Sang cầu hòa vì đã bộigiao
Hứa rằng nay trở về sau
Có gì xích mích cùng nhau nghị bàn
 
Vùng Hội An thuyền buôn tấp nập
Tàu nước Anh, Pháp, Nhật, Java
Thuế quan thâu vốn được là
Ba mươi ngàn lẻ tiền đà nhập kho
 
Tiền thu vô Phúc Loan chiếm đoạt
Thuế mười phần chỉ được một hai  
Chuyên quyền Loan lại tác oai  
Nhân dân đói khổ không ai không thù
 
Đồng bỏ hoang , ruộng khô cỏ cháy
Có nhiều làng chẳng thấy luỹ tre
Nhân dân đói khổ não nề
Nhiễu nhương trộm cướp lắm bề tang thương
 
Trước bối cảnh thê lương đổ nát
Đất Tây Sơn Nguyễn Nhạc hưng binh
Nêu cao danh nghĩa của mình
Loạn thần phải diệt, dành quyền về dân
 
Vào tháng tám nghĩa quân chiếm cứ (1773)
Ở Quy Nhơn , tuần phủ Đắc Tuyên
Vội vàng tháo chạy xuống thuyền
Dong buồm trốn thẳng ra miền Hóa Châu
 
Binh Tây Sơn thọc sâu vào chiếm (1773)
Đánh mạnh vào cứ điểm Bình Khang
Rồi cho áp sát phía Nam
Lấy vùng Bình Thuận như tằm ăn dâu
 
Quân chúa Nguyễn hai đầu bị ép (1774)
Bị cắt đường khó tiếp tế nhau
Lại thêm lính tráng ốm đau
Phúc Thuần ra lệnh rút vào Trấn Biên (1775)
 
Thấy Đàng Trong khắp miền nộichiến
Chúa Trịnh Sâm hạ lệnh động binh (1774)
Hành quân Chúa tự thân chinh
Giương cờ Nam tiến nắm quyền chỉ huy
 
Hoàng Ngũ Phúc sai đi tiền trạm
Vượt sông Gianh vây hãm Phú Xuân
Vợ con gia quyến Phúc Thuần
Dắt dìu bồng bế tránh quân Đàng Ngoài
 
Thành Phú Xuân lọt tay Chúa Trịnh
Nguyễn Phúc Thuần chạy lánh vào Nam
Để con trấn ở Quảng Nam
Bị Tây Sơn đuổi bắt làm con tin
 
Phe Tây Sơn dưới quyền Nguyễn Nhạc (1775)
Cùng Lập Đình ngầm ước với nhau
Cẩm Sơn buộc Trịnh đối đầu
Giao tranh mấy trận tiến vào Phú Xuân
 
Đổi sách lược với quân Lê -Trịnh
Tạm nghị hòa để tránh giao tranh
Tây Sơn đoán trước tình hình
Đương đầu Trịnh –Nguyễn khó giành phần hơn (1775)
 
Trịnh phong Nhạc: Tây Sơn hiệu trưởng
Trấn giữ vùng đất Quảng trở vô
Lữ-Huệ, Nhạc lại giao cho (1775)
Coi quân giữ đất kể từ Phú Yên
 
Nguyễn Khoa Kiên bị Huệ bắt sống
Sự kiện này rúng động ba quân
Đại binh chúa Nguyễn lần lần
Nếm mùi thất bại rút dần vào Nam
 
Ở Quảng Nam xẩy ra dịch bệnh (1775)
Phía Trịnh quân binh lính chết nhiều
Ngũ Phúc không dám đánh liều
Rút lui ra khỏi chân đèo Hải Vân
 
Tôn Thất Xuân mộ quân chiếm lại (1775)
Vùng đất mà Trịnh phải buông tay
Quân Xuân giữ được mấy ngày
Bị binh Nguyễn Nhạc đuổi ngay khỏi thành
 
Năm Bính thân (1776) Tây Sơn thừa thắng
Chiếm Long Hồ, đánh thẳng Trấn Biên
Lấy Sài Gòn, rồi lại đem
Quân vào Gia Định trăm thuyền trịch thu
 
Quân Tây Sơn dưới cờ Nguyễn Lữ
Vỗ yên dân , cắt cử nha quan
Thu gom khí giới kho tàng
Kiểm kê tài sản sai mang đem về
 
Triều đình Lê-Trịnh dần suy yếu
Gặp thiên tai lại thiếu tài nguyên
Mặc cho Nguyễn Nhạc lấn quyền
Tóm thâu lãnh thổ nguyên miền Đàng Trong

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/03/2018(Xem: 21844)
Chúng ta đang ở vào năm thứ 18 của Thế Kỷ 21 và chỉ còn 82 năm nữa nhân loại sẽ bước vào Thế Kỷ 22. Có rất nhiều biến động của thế kỷ trước mà chúng ta đã quên mất rồi. Nhân dịp về hưu rảnh rỗi tôi lục lại cuốn Biên Niên Sử Thế Kỷ 20 (Chronicle of the 20th Century) để xem nhân loại phát minh ra những gì, chịu những thống khổ, những vui buồn như thế nào và có bao nhiêu cuộc chiến tranh giữa các đế quốc. Sự thực phũ phàng của 118 năm qua là, một quốc gia tuy nhỏ bé nhưng có vũ khí tối tân và bộ máy quân sự khổng lồ vẫn có thể bá chủ thế giới và biến các quốc gia to rộng gấp mười lần mình thành nô lệ. Do đó muốn tồn tại trong độc lập, ngoài phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, lúc nào cũng phải tăng cường binh bị, vũ khí cho kịp đà tiến triển của nhân loại. Sách lược ngoại giao cũng là một vũ khí nhưng sức mạnh quân sự của một quốc gia là loại vũ khí vững chắc nhất.
07/03/2018(Xem: 8482)
Ý đồ của Hốt-tất-liệt, dựa trên Phật giáo Tây Tạng để thống trị Trung Quốc không chỉ bằng vũ lực mà còn cả về tư tưởng, tôn giáo, chính trị xã hội; nếu suy luận này của chúng ta không lạc hướng, thế thì lịch sử chứng tỏ ý đồ này đã thất bại. Ý nghĩa của sự thất bại này thuộc phạm vi nghiên cứu của các nhà văn hóa và sử học.
07/03/2018(Xem: 7680)
Quân nhân Mỹ gốc Việt Hiền Trịnh trên tàu sân bay USS Carl Vinson.
01/01/2018(Xem: 49833)
Đại Bảo tháp Phật giáo cổ xưa Nelakondapalli ở huyện Khammam đang ở giai đoạn cuối của việc tu sửa. Với kinh phí khoảng 6 triệu Rupee, Cục Khảo cổ học và Bảo tàng đã thực hiện công việc để Đại Bảo tháp khôi phục lại vinh quang ban đầu và để bảo tồn kiến trúc cổ xưa này cho hậu thế. Di tích Phật giáo này, tọa lạc cách thị trấn Khammam khoảng 22 km, là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng nhất của bang Andhra Pradesh. Đại Bảo tháp đồ sộ, vốn đã tồn tại qua nhiều thế kỷ của sự hao mòn, đang được tu sửa sau khi cư dân và các sử gia địa phương nhiều lần cầu xin để bảo tồn di tích lịch sử có tầm quan trọng lớn lao về khảo cổ học này. Cục khảo cổ học cho biết loại gạch đặc biệt được đặt làm cũng như các vật chất kết nối tự nhiên đã được sử dụng để tăng cường cho cấu trúc của Đại Bảo tháp. (bignewsnetwork – April 18, 2015)
15/11/2017(Xem: 12989)
Phật Giáo Hoa Tông theo dòng lịch sử - HT Thích Thiện Nhơn
03/11/2017(Xem: 10808)
Thoại Ngọc Hầu, một công thần suốt đời tận tuỵ hy sinh vì cơ đồ của nhà Nguyễn. Sinh thời ông rất được các vua Gia Long, Minh Mệnh trọng dụng nhưng khi mất đi chưa được bao lâu thì cũng chính Minh mệnh đã hài tội ông, còn các sử quan nhà Nguyễn thì trong Đại Nam Chính Biên liệt truyện, theo lối viết Xuân Thu đã xếp ông vào nhóm công thần trọng tội: Lê văn Quân, Nguyễn văn Thoại, Lưu Phước Tường, Đặng Trần Thường, Đỗ Thanh Nhân.( ĐNLT, T2, tr 511, nxb Thuận Hoá 2006)
03/11/2017(Xem: 5633)
Huỳnh thị Bảo Hòa là một trong những người phụ nữ đầu tiên in tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ. Bà tên thật là Huỳnh thị Thái, sinh năm 1896, quê xã Hòa Minh huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam ( Nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Thân phụ của bà là ông Huỳnh Phúc Lợi, giữ một chức quan võ nhỏ dưới triều Nguyễn. Thân mẫu là bà Bùi thị Trang. Bà Huỳnh thị Bảo Hòa là một phụ nữ tiến bộ thời bấy giờ. Bà thông thạo cả chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, hưởng ứng phong trào cắt tóc ngắn, đi xe đạp, tham dự đám tang cụ Phan Châu Trinh, tích cực hoạt động xã hội, diễn thuyết để cổ xúy cho việc thăng tiến phụ nữ, viết báo, viết tiểu thuyết, kịch bản tuồng hát bội, khảo luận. Vào giữa tháng 6 năm 1931, nhân chuyến đi nghỉ mát ở Bà Nà, bà đã viết Bà Nà du ký đăng trên tạp chí Nam Phong số 163, tháng 6 năm 1931 để giới thiệu với độc giả một thắng cảnh thiên nhiên mà theo bà đó là một cảnh Bồng lai ở dưới trần thế.
23/09/2017(Xem: 35781)
The Vietnam War - Chiến Tranh Việt Nam (Trọn bộ 10 tập), đạo diễn: Ken Burns và Lynn Novick - Buổi ra mắt và thảo luận về phim “The Vietnam War” đêm thứ Ba 12/9 của hai đạo diễn Mỹ nổi tiếng về các phim tài liệu có giá trị lịch sử: Ken Burns và Lynn Novick diễn ra tại Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Kennedy ở thủ đô Washington. Dẫn đầu cuộc thảo luận, ngoài hai nhà đạo diễn và MC là ký giả Martha Raddatz của chương trình tin tức đài ABC, còn có 3 khách mời đặc biệt, Thượng nghị sĩ John McCain, cựu Bộ trưởng Ngoại giao John Kerry và cựu Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel, cả 3 đều là cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam.
18/08/2017(Xem: 7135)
Ba năm, sau khi Pháp lập Đồng Khánh lên ngôi, thực hiện ý định giành dân, lấn đất của nhà cầm quyền thuộc địa, ngày 19-7-1888, tại Paris, Tổng thống Pháp đã ký một sắc lệnh thiết lập ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng. Dưới sức ép của Pháp, ngày 27 tháng 8 năm Mậu Tý (3-10-1888) vua Đồng Khánh buộc phải ký một đạo dụ gồm 3 khoản, nhượng chủ quyền ba thành phố ấy cho Pháp. Thành phố Đà Nẵng được ra đời, mang tên chính thức là Tourane suốt 62 năm Pháp thuộc từ năm 1888 đến năm 1950 là năm Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại. Sách Đại Nam thực lục ghi : “Mậu Tý , Đồng Khánh năm thứ 3 (1888), mùa thu tháng 8 Lấy đất thuộc Đà Nẵng (bờ biển ở Quảng Nam) làm nhượng địa của người Pháp”. ((ĐNTL, T9, tr 429). Người đại diện Nam triều ký vào bản đồ vẽ phần đất của Đà Nẵng được trích ra làm nhượng địa của Pháp là Chánh sứ Nha Hải phòng Quảng Nam Thái Văn Trung.
22/06/2017(Xem: 6851)
Trường Tỉnh Quảng Nam được thành lập năm 1802, dưới triều Gia Long, tại xã Câu Nhí, huyện Diên Phước, đến năm 1835 triều Minh Mạng được dời về Thanh Chiêm. Tuy ra đời muộn màn nhưng nhờ có sự tận tâm dạy dỗ của các vị Đốc học tài giỏi và truyền thống hiếu học, cần cù chăm chỉ của các Nho sinh nên trường Đốc Thanh Chiêm là lò luyện nhân tài cho đất nước